L Ề U T R Ă N G
HỘI QUÁN THI VĂN BẠN BÈ NGƯỜI VIỆT
_________________________________
Số: 01

ĐÔI LỜI

Đặc san Lều Trăng ra đời, với quan niệm thật khiêm nhường là cố gắng gom góp giữ gìn những sáng tác văn nghệ của bằng hửui tản mạn khắp nơi… Thiển nghĩ những hạt bông nhỏ bé hôm nay còn sót lại biết đâu thành những nhân chứng cần thiết cho mai sau… Rất mong bằng hữu yêu mến tiếng Việt góp phần gởi bài, đóng góp chăm sóc “Túp Lều Thi Văn nhỏ bé trong Cộng Đồng VN chúng ta.
Chân thành cảm ơn.

Nhóm Biên Tập.
_________________________________

Trong số nầy:

* Vầng Trăng bên Sông.
Truyện ngắn: Sông Cửu
* Mất: Thơ Bùi Giáng
* Vớt Trăng: Thơ Lê ngọc Quế Anh
* Tâm Bút Xuân: Thơ Phan Anh Dũng
* Đi Harbor Chỡ Xuân Về San Diego.
Thơ: Phạm Hồng Ân
* Bóng Cầu Vồng. Thơ Sông Cửu
* Không Khứng…Thơ Lưu Hà
* Mùa Xuân Nỗi Nhớ. Thơ Nguyễn Hiệp
* Nhớ Những Mùa Xuân. Thơ Hải yến
* Chị Ơi. Thơ Thế Sử.
* Hoa Lửa: Thơ Võ Huỳnh Uyển
* Khi Đời Có Con. Thơ Hàn Ly Hương.
* Thao Thức. Thơ Nam Lê
* Chuyện Mái Nhà Tranh. Thơ Võ Thanh Sơn
* Hoa Ve Chai, truyện ngắn : Nguyễn văn Hưởng

_______________________________________

VẦNG TRĂNG BÊN SÔNG

Truyện ngắn: Sông Cửu
(Theo lời kể của LNQA)

1.

Dòng sông quê tôi ngoằn ngoèo, tháng - năm bên bồi bên lở . Nội kể thuở nội còn con gái, lòng sông chỉ là cái rạch nhỏ do nước đổ dài theo lối dấu chưn đi của bầy đàn rái cá tạo thành. Khi nước ròng sát, xăn quần lội qua không ướt. Vậy mà lúc tụi tui lên bảy thì nó rộng phìn ra, bề ngang có chỗ đến mười hai, mười ba thước, tàu ghe ngược xuôi tắp nập . . .Nhà cửa san sát chen chút ven bờ. Chiều chiều nước lớn người từ đồng ruộng trở về tắm giặt, bơi lội khiến hai bên bờ sông càng náo nhiệt thêm. Những đêm sáng trăng má thường dẫn tôi lên trên cầu mát ngồi nghe tiếng hò lảnh lót của chị Bảy đưa đò :

" Hò ơ… Đầu nhà có ba buội dúi
Cuối nhà là cội cây đa…
Anh có đi đâu nhớ ghé lại nhà… hò
Trước thăm phụ mẫu… hò ơ..
Trước thăm phụ mẫu… Sau là thăm em… ơ!”

Cuộc sống bình an, mộc mạc của người dân quê tôi năm xưa là như thế. Vậy mà trãi qua bao "vật đỗi sao dời", tôi vẫn không đời nào quên được. Đi đâu vài ba ngày tôi cũng nhớ con sông , nhớ quê. Tôi thầm nghĩ, nếu không có dòng sông, thì bà con "hai sương một nắng" quê tôi không biết trút nỗi nhọc nhằn cơ cực nơi nào?! Hồi đó, nếu có ai hỏi :"Quê hương là gì? Chắc chắn tôi sẽ trả lời không chút đắn đo : CON SÔNG và VẦNG TRĂNG. Ôi! Vậy mà bây giờ vì hoàn cảnh chiến tranh thúc đẩy tôi phải đành xa nó…Nhưng tôi luôn luôn thầm thương trộm nhớ nó! Tôi luôn tạ ơn Đấng đã tạo dựng ra nó. Có nó; Con sông và vầng trăng - Con người sẽ sống yên lành và nhân ái hơn .

2.

Hò ơ . . .Chèo ghe bẻ bắp bên sông
Bắp chưa cứng hạt bẻ bông làm cờ .

Niềm vui tuổi thơ của tôi được cất giữ trong hai câu hò dễ thương nầy. Bãi bồi bên kia sông là thôn Giồng-Đồng quê ngoại tôi. Từ Hè đến Thu rẫy bắp trồng nối dài thoai thoải. Qua mùa nầy, nguồn vui đám trẻ con chúng tôi nâng lên gấp đôi ngày tết. Đêm sáng trăng nào, lũ nhãi ranh xóm tôi cũng tụ tập ra đây đủ mặt. Bọn con trai bên kia sông theo cậu Năm . Đám con trai bên nầy sông theo chú Út, dàn quân hai bên chơi trò "Cờ Lau Tập Trận". Cậu Năm và chú Út giao: bên thua phải vào rẫy của mình bẻ bắp về đãi bên thắng…Riêng bọn con gái thì làm "em gái hậu phương" , chia nhau đi lượm củi khô, ôm rơm ra bờ sông chờ đoàn quân thắng trận mang bắp trở về .

Trăng vừa mọc lên là trận chiến mở màn. Hạm đội "ghe tam bản" của chú Út nhắm thẳng mục tiêu rẫy bắp tiến công. Chiến thuyền "xuồng ba lá" của cậu Năm tôi cũng dàn quân dọc bên kia bờ sông để đánh trả. Tiếng kèn lá, tiếng hò reo hòa với tiếng trống thúc quân bằng thùng thiếc giục giã liên hồi. Hai viên "Tư Lệnh" chú Út và cậu Năm đứng trên cầu lượt trận chấm công, ai thua, ai thắng . Khi ánh trăng treo lơ lửng trên ngọn cây quéo đầu làng, là lúc chiến trận kết thúc. Đám "Em Gái Hậu Phương" cũng bắt đầu đốt lửa. Số bắp trái bên thua trận bẻ mang về đều để nguyên vỏ bỏ vào lửa nướng . Vị ngọt của bắp tỏa thơm ngây ngất . Bọn con trai mình sũng ướt, đầu còn đội mão xanh làm bằng lá bắp có cắm cờ lau, ồn ào, ca hát, nhảy múa quanh lửa như những người rừng. Đầu đảng trong đám tiểu yêu phía cậu Năm tôi là một anh chàng nhóc có biệt danh là Thanh "Cào Cào" bởi cặp giò dài khi đi cũng như chạy của anh ta. Đêm nào Thanh cũng lén bẻ thêm một trái bắp dành riêng đem tặng cho tôi (Lén,vì cậu Năm và chú Út dặn mỗi đứa chỉ bẻ 1 trái thôi ) Anh ta học trên tôi một lớp . Khi tôi học lớp ba trường làng thì anh ta học lớp nhì trường tỉnh. Vậy mà lúc nào anh chàng cũng gọi tôi bằng "Cưng", làm như người ta là con nít còn bồng . Ghét nhứt là mỗi lần đưa bắp cho tôi, anh ta chống nạnh bảo :

- Huệ ! Cho cưng nè. Ăn đi. Ngoan !

Tôi trừng mắt cự lại :

- Bắp ăn cắp… Ai thèm!

Tụi con gái cười rần rần chọc quê…Tôi tưởng anh ta nổi quạo, ai ngờ anh ta tỉnh bơ. Còn nhăn răng cười nữa chớ. Thấy dễ ghét!

Đêm khuya. Con nước rông tràn, làm dòng sông mênh mông. Bắp nướng chín, cả bọn xúm lại chia nhau, xít xoa cạp nóng quanh ánh lửa bập bùng. Tiếng ca hát, tiếng trò chuyện quyện với mùi bắp nướng thơm ngập tràn hương vị quê tôi.

3.

Niềm vui nào rồi cũng hết . Tuổi thơ dù đẹp mấy rồi cũng qua. Những năm lên Trung học. Cứ mỗi lần gần tới Hè, thì bọn tôi lại nôn nao muốn được mau về thăm lại dòng “sông trăng” thân yêu quê tôi. Thỉnh thoảng tôi cùng mấy nhỏ bạn rủ nhau đạp xe ra bến Bạch Đằng để xem tàu và ngắm trăng lên từ bên kia bờ Thủ Thiêm. Đứa nào cũng bảo: "Trăng Sài Gòn không đẹp bằng trăng quê mình!" Năm vừa học xong Đệ Nhất thì bà nội gọi tôi về. Vì theo quan niệm xưa của bà, con gái dù học giỏi đến đâu rồi cũng phải về "làm dâu" cho thiên hạ thôi .Tôi xin ba cho học tiếp, ba bão không dám cãi nội . Thấy tôi khóc, cô tôi cằn nhằn ba tôi :

- Con nhỏ đang học giỏi . Khi khổng khi không cậu bắt nó bỏ học. Cậu mợ sợ hao tốn để chị lo cho nó.

- Đâu phải ý vợ chồng em. Ba tôi nói - Nội nó định gả nó cho thằng Thanh, con thầy giáo Nho ở Tân Hào đó. Cậu Năm nó làm mai. Ngoại nó cũng bằng lòng rồi.Vợ chồng em cũng muốn để cho nó học tới nơi, tới chốn như ý chị, nhưng ai dám cãi má ?

Nghe ba nói tôi tức cậu Năm xanh mặt. Khi không đi làm mai làm mối gã cháu cho cái ông tướng "Cào Cào" nầy hè . . .Nhớ lại trò chơi "Cờ Lau Tập Trận" , Thanh Cào Cào bẻ bắp tặng tôi, gọi tôi bằng "cưng", bị mấy nhỏ chọc quê, tôi tức cười nhưng cố cắn môi dằn lại. Cô tôi nhìn thấy tưởng là tôi tức giận nên đến vuốt tóc tôi an ũi dỗ dành :

- Thôi, theo ba con về đi. Đừng cãi lời nội, nội buồn. Ít bữa cô về thưa lại với nội. Biết cô thương nên tôi bướng lại :

- Gả chồng…Con không thèm chịu đâu. Cô tôi cười rồi dỗ ngọt:

- Cháu là đứa con ngoan. Không nghe lời nội để mang tội bất hiếu à? Lời răn của Chúa là phải hiếu kính với ông bà cha mẹ. Con quên rồi sao ? Bà nội thương lo cho con, con phải biết hiếu thảo chớ. Ýcon thế nào, thì về tỏ bày cho nội biết. Ép dầu ép mỡ chứ ai nỡ ép duyên. Con gái lớn rồi đừng ăn nói ngang bướng như vậy không nên. Phạm LỜI RĂN CHÚA, nội buồn con đó...

Nghe cô tôi nhắc LỜI RĂN , lòng tôi bỗng thấy nhẹ hẳn ra. Bao nhiêu nan đề trong thi cử học hành, trong suy tư trăn trở suốt chặng đường của tuổi học trò tôi đều cầu xin Chúa và luôn được Ngài ban cho. Có lần nào Chúa bỏ tôi đâu. Bầy cháu tám đứa, tôi là đứa được nội cưng chiều nhiều nhất…Trong lúc đầu óc tôi nghĩ ngợi lung tung thì cô tôi nắm tay bảo tôi qùi xuống. Tôi thấy cô tôi rơm rớm nước mắt. Nhưng bà vẫn lớn tiếng cầu nguyện cho tôi :

- Chúa ơi! Con xin dâng phó định mệnh cháu Huệ con và gia quyến con cho Ngài !

Tôi cũng nhắm mắt thầm thì Tôn Vinh Đức Chúa Trời( an bày cho cuộc đời mình.Và cũng thật lạ lùng, tôi cảm thấy trong lòng vô cùng bình thản.) Tôi ngoan ngoản theo ba tôi trở lại Dòng sông và vầng trăng tuổi thơ của tôi . . .

4.

"GHÉT CỦA NÀO TRỜI TRAO CỦA ĐÓ"

Kính mời qúi vị nghe lại "mẫu đàm thoại vui" của hai vợ chồng anh Thanh và Chị Huệ bạn học cũ của bà xã tui (người kể lại phần đầu trong câu chuyện nầy) .Hiện anh Thanh và chị Huệ đang định cư tại San Diego - California Hoa Kỳ gần chung cư của chúng tôi :

Chị Huệ : ( đang nói chuyện với Ngọc Anh thì quay lại gọi chồng)
- Nè ! Ông ơi !
Anh Thanh: ( Buông tờ báo nhìn vợ )

- Tới nữa… Chuyện gì đây ?

Chị Huệ : ( cười cười . . . hỏi giọng thắc mắc )

- Tui đố Ông và chị Anh nghen. Tại sao người ta ưa nhắc về chuyện qúa khứ qúa vậy ?

Anh Thanh : ( Cười khà . . .vui vẽ )

- Có gì khó hiễu đâu…Những người giữ niềm tin được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời như anh chị em mình thì an tâm theo sự an bày của Thượng Đế. Còn những ai chưa có cơ mai gặp được Chúa, nhất là tuổi cao niên hoặc trung niên, ranh giới giữa sự sống và sự chết gần một bên rồi. Biết chuyện tương lai thế nào nữa mà hỏng nhắc nhiều về quá khứ ? Như bà chẳng hạn, nếu không có Thánh Kinh soi dẫn thì chắc tối ngày bà cũng nhắc "Vầng Trăng Bên Sông - Cờ Lau tập trận - Thanh Cào Cào - Bẻ bắp cho em . . ." toàn ba cái chuyện đồ cổ thôi . "Cưng"thấy đúng hông ?

CHỊ HUỆ : (Lườm chồng, rồi nhìn chúng tôi cười )

- Xí ! Tui ghét cái tiếng "cưng" cũ mèm đó lâu rồi nghen !

Anh Thanh: (Gật gù…Cười to)

- Ghét đúng thôi. Vì tiếng "cưng" là qúa khứ. Nhưng Chị Anh và anh Chín nghĩ coi. Cái qúa khứ riêng tư nầy nó gắng liền với hiện tại và tương lai mà. Hồi còn là cô bé răng khểnh, tui lén bẻ bắp nướng cho bả cạp cười chơi, tui cũng gọi là "cưng". Viết bức thư tỏ tình đầu tiên khi bả học xong trung học, tui cũng viết rõ ràng là "Cưng thân yêu!" Rồi từ ngày thành vợ thành chồng đến nay tôi có thay đổi chữ "cưng" hồi nào đâu? ( Anh Thanh quay sang chị xã nhà tôi ) Có chị Anh biết đó. Lòng dạ tui thẳng ngay như vậy, chứ ai như bả (!)

Chị Huệ : ( trừng mắt )

- Tui làm sao ? Tui thay đổi à ?

Anh Thanh : (Tằng hắng, cười cười nói với bà xã nhà tôi )

- Đó! Chị Anh thấy chưa ? Bả đổi thay mà bả đâu có hay… Hồi vợ chồng son lúc nào bả cũng gọi Anh ơi… xưng Em với tôi ngọt xớt. Chừng có đứa con đầu lòng bả đổi tiếng Anh thành Mình. Sanh thêm ba đứa nữa cái bả đổi Mình thành "Ba Sắp Nhỏ". Mới có thằng cháu ngoại nè, mấy tháng nay thôi, bả gắn cho tôi tiếng "Ngoại Thằng BOY" liền. Đi đâu cũng gọi " Ông ngoại ơi…Ông ngoại ơi !" Dễ tức!(Anh Thanh gật gật đầu cười. Chị Huệ nhìn anh Thanh tỏ ý quạo: “Thấy ghét!” Anh Thanh đốp chát lại liền:

- Ghét. Sao ưng tui làm chồng? Ghét, sao có 4 mặt con? Ghét. Sao băng rừng lội đồng thăm nuôi tui bị tù cải tạo? Ghét. Sao bỏ Dòng sông - Vầng trăng - rẫy bắp theo người ta qua Mỹ?...Ừa, Bà lý giải coi tại làm sao ? . . .

Chị Huệ : ( làm mặt nghiêm )

- Thì…"Ghét của nào Trời trao của đó chớ sao". Ai hỏng biết. Khỏi lý sự dài dòng . . .

Anh Thanh : ( lắc đầu lia lịa)

- Trật rồi cưng ơi ! Theo tui, định mệnh mỗi con người đều do Trời an bày tất. Mưu sự tại nhân - Thành sự do Thiên đồng nghĩa với "ghét của nào Trời trao của đó" như cưng đã nói . Đúng hông? Ừa!

Chị Huệ: (mĩm môi nén cười, giọng như nói lẫy )

- Đúng . . . Đúng tuốt tuột. Ai cải lại mấy người miệng lưỡi... Nhưng "ông ngoại" làm ơn cho xin lại tiếng "cưng" đi…
Tôi, anh Thanh và bà xã tui nheo mắt nhìn chị Huệ cười ngả nghiêng.

( Viết theo lời kể của Lê ngọc Quế Anh)
SC

_________________________________
Mất

Mất rồi bờ cỏ ra hoa
Mất từ bến nước mất qua bến đò
Mất mòn mỏi mất mặt mo
Thịnh phồn thái thậm căn do lưu tồn

Bủi Giáng

________________________________
Vớt Trăng

Cửu Long soi bóng tóc dừa
Chiều mưa sớm tạnh
Hai mùa quê tôi…
Theo anh xuống bến tuyền chơi
Bơi xuồng ra vớt
Trăng trôi giữa dòng.

Lê Ngọc Quế Anh

_____________________________________

Tâm Bút Mùa Xuân

Khi không gian tràn ngập những màu hoa và nắng ấm
Khi thời gian tỏa ngát hương thơm ký ức Tết quê nhà
Này bạn ạ! Mùa Xuân đã đến.
Hãy mở lòng ra cùng đón mùa Xuân diệu viễn
Mùa Xuân của 18 đời hậu duệ Hùng Vương.
Hãy nắm tay và nói cùng nhau lời chúc tụng yêu thương,
quên đi hận thù dai dẳng
thay thế chủ nghĩa, giáo điều và những nhân danh vớ vẩn,
bằng vòng tay nồng ấm của trăm con cùng bọc mẹ Âu Cơ.
Hãy sống thật thà như ông cha ta từ thuở hoang sơ,
không so đo: ai thắng, ai thua, ai lời, ai lỗ
Mặc lại chiếc áo the, đi lại đôi guốc gỗ
cùng phủ phục trước mồ mả gia tiên.
Và như thế, hãy quên đi những thù hận tư riêng,
để đưa đất nước vươn mình theo Thánh Gióng.
Cùng nắm tay giữ đất cha ông, giết giặc đói,
giặc nghèo, giặc đảng
Hồi phục Tổ Quốc Việt Nam rực sáng dưới trời Đông!

Phan Anh Dũng

____________________________________________________________

Ði Harbor
Chở Xuân Về San Diego


Ta chở xuân về cuối biển phương nam
Ðổ xuống cát vàng một ngày nguyên đán
Ðổ xuống đời em một thời lãng mạn
Một thời loài người chưa biết thương đau.
Ta ngồi bên này đếm những lầu cao
Quên mất cuộc đời dưới chân u ám
Xuân trốn ta trên thượng tầng mây xám
Vất vả trăm chiều mới bắt được xuân.
Ta chở xuân về lướt quanh phương nam
Nắng Sài Gòn nhảy nhấp nha ngoài kiếng
Mưa Bolsa phất vào da tê điếng
Làm cồn cào từng vết nhức tha phương.
Ta bày xuân giữa phố giữa phường
Này Phú Quốc, này Năm Căn, này Rạch Giá...
Ngày và đêm, xưa và nay...biến hóa
Muôn sắc muôn màu muôn gấm muôn hoa.
Em biết đâu giữa muôn vẻ tinh hoa
Ðời nằng nặng một bề dày đau khổ
Ta ôm xuân đến tận cùng hơi thở
Mừng rỡ chờ giây tống cựu nghinh tân.
Ta chở xuân về cuối biển phương nam
Ðổ xuống cát vàng một ngày nguyên đán
Ðổ xuống đời em một thời lãng mạn...

Phạm Hồng Ân

______________________________________

Cầu Vòng Mùa Xuân

Buồn chút thôi em,
Nụ Xuân muộn màng còn hơn dang dở
Thóang hiện hững hờ . . . mờ nhạt cuối năm
Buồn chút thôi em,
Người ta tò mò đang nhìn mình đó
Dù phố sương mờ cũng đừng để lệ rơi!
Buồn chút thôi em,
Niềm vui nào cũng kèm nước mắt
Mùa Xuân nào chẳng nhớ mùa Đông
Sum hợp nào không quặn lòng chia cách
Hạnh phúc nào chẳng dằn vặt nhớ mong!

Xin em đừng hỏi anh,
Tiếng cười tạo thành bao nhiêu thèm khát?
Mảnh đời nào . . .chợt còn chợt mất?
Vầng trăng Nguyễn Du xẻ đôi – Ai cắt?
Để bây giờ người lại thao thức nhớ người!

Hãy nghe anh - cười đi em ,
Nụ cười sưỡi ấm cuối Đông
Lố dạng cầu vồng chiều xuân rạng vỡ
Bắc ngang đôi bờ biển nhớ mênh mông…

Sông Cửu
___________________________________

Thao Thức

Nhắm mắt đợi Giao thừa
Nằm nghe đêm phân bua
Trong đầu niềm u uẩn
Buồn thế sự ganh đua…

Lúc tráo trở gạt nhau
Khi mánh mung giả dối
Ác ý người hại người
Ít khi nào hối lỗi

Nhắm mắt mới buông xuôi
Đời người quá ngắn ngủi
Cọp chết còn để da
Người sao chưa để tiếng…

Đêm dài nghĩ liên miên
Tiếng đồng hồ gõ nhịp
Thao thức từng cung bực
Tít…tắc… suốt canh dài…

Nam Lê

____________________________________

Không Khứng

Rướn cổ đợi mùng hai
Diện áo dài khăn đóng
Đồng bóng như bà mai
Đến thăm em
Ngài ngại mở lời tươi tắn

Đo bước nắng
Xông nhà từ phía chái
Khó ngồi lâu lải nhải
Chuyện cuối năm quà cáp suôi gia
Bưng tới lộn nhà lạ hoắc

Lời chúc Xuân
Có móc có ngoặc có nối đôi ăn vạ
Lọt cửa nhà rồng hé mở
Chạm hoa mai dị ứng tình thầm
Kêu cửa – gõ ầm ầm
Không chịu mở…

Lưu Hà

________________________________

Mùa Xuân Nỗi Nhớ!

Mùa xuân
cây cối đâm chồi
nhớ về quê cũ
bồi hồi xót thương!
Nhớ ngày
tảo mộ song đường
thăm lại mảnh vườn
của nội thân quen
Nhớ từng
giọng nói anh em
tiệc tùng thân ái
bên thềm đoàn viên
Nhớ mùa xuân
tết nghèo tiền
nhưng giàu tình nghĩa
nối liền đệ huynh
Nhớ sao,
lệ muốn trào tuôn
bao ngày xa cách
cội nguồn thủy chung
Nhớ sao,
kể mãi khôn cùng
mùa xuân ơi!
có thấu rõ
lòng người ly hương!

Nguyễn Hiệp

_____________________________________

Nhớ Những Mùa Xuân

Mùa xuân nào có Mạ ngồi tựa cửa
Đợi Ba về sau chuyến hải hành xa
Để vui vầy cùng đón mùa xuân mới,
Với đàn con sum họp ấm mái nhà !
*
Mùa xuân nàoMạ, Ba buồn hiu hắt,
Thương đứa con cải tạo mãi chưa về
Thương đứa khác phải vào kinh tế mới,
Còn đứa nầy vất vả phải xa quê!!
*
Mùa xuân nào Mạ trở về cát bụi,
Không đợi con về vuốt mắt thương đau.
Để mình Ba buồn đất trời nghiêng ngữa,
Những đứa con không kịp đáp chuyến tàu.
*
Mùa xuân nào Ba không còn chờ đợi,
Theo Mạ về tiên giới hưởng niềm vui.
Những đứa con xa nhà không về kịp
Thắc thỏm bên trời nhớ tiếc khôn nguôi.
*
Mùa xuân nầy lại về trên đất khách,
Con nhớ Ba, thương Mạ dạ bâng khuâng.
Đi giữa cộng đồng trong ngày Hội Tết
Vẫn thấy mình cô quạnh giữa mùa xuân.!!

Hải Yến

______________________________________________

Chị Ơi!

Chị ơi chị thắp giùm em bếp lửa
Hong cho đời bớt lạnh bước chân đơn
Nơi xứ lạ bập bùng trăm nổi nhớ
Trăng theo mùa mang cổ tích gần hơn
Khúc du ca tự tình theo dịp thở
Trả thiên thu mùa buốt lạnh tủi hờn
Mai có về chia giùm em cõi nhớ
Lửa quê mình trong giấc mộng thần tiên
Hỏi bình minh ôm ngàn năm trăn trở
Đêm từng đêm vàng vỏ giấc ưu phiền
Mơ hiệp khách chém từng tên bạo chúa
Trả lời thơ từng giấc ngủ bình yên
Chị ơi chị thắp giùm em bếp lửa
Thái Bình Dương sóng dậy lấp oan khiên
Cho hồn thiêng rủ nhau từ trăm ngã
Trường Sa - Hoàng Sa mơ giấc thánh hiền
Tặng chị 02/14/16
Thế Sử

__________________________________________

Khi Đời Có Con
"Tặng con, Nguyễn Khắc Huy"


Má đã sống bao năm như ngọn gió
Phiêu lãng bay trong vô định kiếp người
Cho đến khi con nhẹ bước vào đời
Vầng trăng úa bỗng lung linh huyền ảo
Con cười nói còn chút gì thơ trẻ
Tiếng hát con lại quá đổi ngọt ngào
Trải tâm tình qua lớp lớp biển dâu
Má rưng rưng nhớ điệu dân ca Nam Bộ
Nơi xứ lạ có nhiều điều bở ngỡ
Con chôn niềm riêng ở tận đáy lòng
Đu thác ghềnh chặn sóng nước mênh mông
Nhưng đòng chảy vẫn tràn đày khao khát
Bàn tay má dẫn con đi vài bước
Thương yêu con bằng cả một chân tình
Mái tóc xanh con đi gọi bình minh
Tương lai sáng như nắng vàng rực rỡ
Giọt lệ má rơi theo niềm vui mới
Hương hoa bay quyện lấy gót chân
Giấc mơ xa nay bỗng thật gần
Hạnh phúc đo từ kiếp nào đã hẹn .

Hàn Ly Hương

___________________________________________

Hoa Lửa

Theo đông, cất hoa vào trong áo
Để mặc ngày tàn với cô miên
Tréo chân ngồi giữa trần hoàn lạnh
Kén tằm âm ỉ sợi tơ riêng
Gió theo lối cũ về khơi giấc
Quấn sợi tơ mềm lên nỗi đau
Đến đi vẫn nét cười ngọt nhạt
Chân đau, có giống nỗi đau nào ?
Nhón chân tê qua miền mưa bão
Xuôi giòng trăng nhạt lặng lờ trôi
Chợt thấy hoa xưa cộm trong áo
Lập loè cánh lửa thắp miên đông

(với những ai đã từng thử ngồi xếp bằng, tréo chân, và chịu đựng đau)

Võ Quỳnh Uyển

________________________________________

CHUYỆN MÁI NHÀ TRANH

Vườn anh xanh - rau muống
Nhà tôi tím - luống cà
Vàng hoe chiều nắng muộn
Man mác gió xuân qua

Hai nhà không có giậu
Chỉ hàng bồ ngót thưa
Dây bầu băng đường ranh
Nối tình tôi với anh

Mấy mùa sầu đâu nở
Nhà anh dột gọi tôi
Vách nhà tôi mưa lở
Anh trét đất phết vôi

Bầy heo tôi xổ chuồng
Phá tan vườn rau muống
Ủi đứt dãy bầu luôn
Từ dạo ấy anh buồn!

Cà tím sầu úa lá
Sầu đâu rụng trơ cành
Giậu tre ngăn hai nhà
Tình lân lý phôi pha

Hai nhà trổ lối mới
Nhà anh hướng Đông vào
Nhà tôi phía Tây tới
Sát nhà - xa vời vợi…

Rồi ngày qua…ngày qua
Một buổi chiều nắng hạ
Tiếng anh la “cháy nhà”
Tôi đạp giậu lao qua…

Hồ nhà tôi vét cạn
Tưới mát mái nhà anh
Bầy heo, tôi đem bán
Xây lại mái nhà tranh

Phá tan hàng giậu ngang
Hai nhà chung lối đi
Đêm nay trăng rằm sáng
Chung trà mình nhâm nhi.  

BS Võ Thanh Sơn

________________________________________________

HOA VE CHAI
Truyện ngắn: Nguyễn Văn Hưởng

Người mới quen biết thường nghĩ Tạo hay bông đùa, khi nghe trả lời về nghề nghiệp đang làm. Thật ra Tạo nói hết sức chân tình, mình là người sinh sống bằng nghề mua bán Ve Chai trên đất Mỹ.
Nhắc đến hai chữ "Ve Chai", người Việt thường hay liên tưởng đến hình ảnh mấy "chú Ba" quảy đôi quang gánh đi khắp hang cùng ngõ hẻm, rao tìm mua nồi niêu, xoong chảo hư hỏng, móp méo. Nhiều người còn nghĩ đến chú Hỏa ngày xưa, từ bên nước "Đàn Anh Trung Quốc", mang dòng máu bành trướng xuôi Nam khởi nghiệp tại Việt Nam bằng gánh Ve Chai, dần dần "Tiến Nhanh - Tiến Mạnh - Tiến Vững Chắc" lên thành một trong những người giàu có nhất nhì nước Nam, để lại biết bao cơ ngơi cho mãi đến bây giờ.
Như một định mệnh, Tạo bước vào nghề mua bán Ve Chai hết sức tình cờ. Sau hơn một năm định cư tại San Diego, thành phố cực Nam bang Cali, Hoa Kỳ, Tạo tìm được việc làm tương đối tốt trong một hãng sản xuất cơ phận thuộc ngành hàng không và không gian. Công việc ấy đem lại cho gia đình Tạo một cuộc sống an nhàn thảnh thơi. Nhưng đời mấy ai học được chữ ngờ! Mọi chuyện đang phẳng lặng đột nhiên nổi sóng. Khi kinh tế nước Mỹ bước vào giai đoạn suy thoái, dù với gần 15 năm gắn bó với hãng, Tạo vẫn bị cho nghỉ việc (laid off). Hay tin dữ, một anh bạn thân thiết chia sẻ niềm đau mất việc bằng câu "phán": "Thời buổi kinh tế lụn bại, bị cho nghỉ việc là chuyện bình thường, còn đi làm lúc này mới là chuyện lạ. Phải sống sao cho giống mọi người chứ!" Lời nói chơi nghe hơi trái tai, nhưng nghĩ cho cùng nó diễn tả hết sức trung thực nếp sống của người dân Mỹ. Để lời bạn rõ nghĩa hơn, Tạo thêm mắm thêm muối thành một lý sự cùn, hầu làm phong phú thêm cho nền Văn Hóa Việt Mỹ: "Những ai không ăn hamburger, không biết thưởng thức football, không từng lãnh giấy laid off, được xem như chưa từng sống ở Mỹ". Lời nhận xét têu tếu ấy khiến Tạo vơi bớt đôi phần nỗi buồn mất việc.
*
Sau mấy tuần lễ lãnh tiền thất nghiệp, ăn không ngồi rồi, vợ chồng Tạo bàn nhau rút hết tiền bạc ki cóp gởi tiết kiệm, đem hùn hạp mở một "ga ra" sửa xe. Hai người chung vốn cùng Tạo đều có tay nghề giỏi, ga ra lại nằm nơi thị tứ, khách hàng lúc nào cũng tấp nập. Thoáng nhìn qua bề ngoài, mọi người đều lầm tưởng chủ nhân đang gặp thời và sắp giàu to. Nhưng thấy vậy chứ không phải vậy, vì quản trị yếu kém, tháng nào cũng lo tiền trả lương thợ, tiền mua hàng thiếu chịu muốn hụt hơi. Vậy mà nhờ cái ga ra này, Tạo học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý giá để dấn bước vào thương trường.
Tạo chơi thân với Toàn, người đẫy đà gốc gác "chú Ba", Tạo đặt thêm cho biệt danh "chú Thoòng". Nhìn sự "phồn vinh giả tạo" nơi tiệm sửa xe, Thoòng đâm ra khâm phục tài Tạo. Hàng ngày lân la tới tiệm, chú hay dọ xem Tạo có kinh doanh gì thêm cho chú hùn hạp làm ăn chung. Chú thất nghiệp trước cả Tạo, xe cộ, nhà cửa đều sắp bị nhà băng chiếu cố. Nghe chú thở vắn than dài, Tạo chẳng biết nói gì hơn là cho chú uống liều thuốc "cố gắng" (một thứ thuốc đặc biệt, cán bộ Việt cộng ưa cấp phát cho tù cải tạo mỗi khi khai bệnh), hầu giúp chú đủ sức "nín thở sang sông", sống cho qua cái thời buổi kinh tế trì trệ này.
Tạo còn một người bạn rất thân khác tên Minh, xông pha thương trường ngay từ những ngày đầu đến Mỹ, nhờ vậy "nội công" hết sức thâm hậu. Minh là người Tạo thường đến trút phiền muộn, khó khăn trong tiệm sửa xe, để được nghe lời khuyên bảo miễn phí. Trong thời kỳ nhà cửa, đất đai lên giá vùn vụt, Minh tậu được khu đất khá rộng, dự tính xây một khu buôn bán nho nhỏ. Nhưng miếng đất cứ nằm phơi sương phơi nắng mãi, vì không một dự án xây cất nào trình lên được thành phố chấp thuận. Cuối cùng, có một người Mỹ gốc Ả Rập đến hỏi thuê đất mở "Recycling" với giá rẻ mạt, Minh cắn răng ký giấy cho thuê, để nhẹ bớt tiền trả lãi hàng tháng cho ngân hàng. Cơ sở Recycling tưng bừng khai trương, nhưng mua bán ế ẩm, vài tháng sau âm thầm dẹp tiệm, trả lại đất cho Minh. Nghĩ tới bạn không mấy thích hợp với nghề sửa xe, Minh ngỏ ý giúp Tạo mở lại Recycling trên mảnh đất ấy.
Tạo hoàn toàn không biết chút gì về nghề nghiệp này. Chợt nhớ đến Thoòng, Tạo thấy không còn ai thích hợp hơn chú ấy. Bởi Thoòng từng có thời làm chủ một cây xăng trong khu phố nghèo, Tạo tin chú thừa kinh nghiệm trong việc mua bán phế liệu. Lúc dọ ý mời hùn hạp làm ăn chung, Thoòng mừng rỡ nhận lời, thế là Tạo có ngay người cộng tác.
Ngẫm nghĩ mãi Tạo vẫn không biết "Việt hóa" chữ Recycling thế nào, một hôm tình cờ gặp ông bạn làm chủ báo đến sửa xe, Tạo lợi dụng ngay:
- Ông chủ báo ơi! Ông chữ nghĩa đầy mình, làm ơn làm phước "chuyển âm" giùm chữ Recycling giúp tôi. Tôi sắp nhảy vào làm nghề này đó.
Ngẫm nghĩ một lúc, ông bảo:
- Tái biến chế.
Tạo phì cười:
- Tiếng gì mà sao nghe giống họ hàng "Tái Côn Lôn" trong "Nhục Bồ Đoàn" vậy cha nội! Lại toàn chữ Hán Việt, cố tìm cho tôi chữ nào dễ dễ hơn một chút đi ông.
Vò đầu vỗ trán mãi vẫn chưa nghĩ ra chữ nào thích hợp. Đột nhiên, một chữ chợt chạy vụt qua đầu, Tạo vọt miệng nói ngay:
- Hay đặt "Ve Chai Lông Vịt" đi, ông nghĩ sao?
Ngẫm nghĩ một lúc, ông nhà báo dọ ý Tạo:
- Nhưng ở bên này có ai bán lông vịt đâu mà mua, hay gọi là Ve Chai thôi, ông thấy được không?
Rốt cuộc cả hai "nhất trí" vặt hết "lông… vịt", chỉ còn "Ve Chai". Thế là Tạo cùng chú Thoòng trở thành đồng chủ vựa Ve Chai kể từ đó.
Ở Mỹ, mọi tên riêng như tên người, tên đường, tên tiệm, đọc xong bao giờ cũng phải đánh vần thì người nghe mới viết đúng. Vì thế, việc đầu tiên chú Thoòng và Tạo nghĩ đến là chọn cho vựa một cái tên. Tính tới tính lui, cuối cùng vựa mang tên ABC. Với tên này không còn ai bắt đánh vần nữa vì đã đánh vần nó trước khi được hỏi. Thời gian thấm thoát qua mau, mới ngày nào mà vựa Ve Chai đã hơn 7 tuổi. Hôm nay, Tạo ghi ra đây vài nỗi vui buồn sinh ra từ đống ve chai, đồng thau, sắt vụn ấy.Một hôm, đứng nhìn vài khách hàng ra sức đẩy các xe chợ (shopping cart) hùng dũng tiến vào vựa Ve Chai, Tạo nổi hứng phong cho chú Thoòng làm Bang chủ Cái Bang đời thứ 101. Nếu đem Hồng Thất Công, một bang chủ giỏi nhất trong lịch sử võ hiệp Cái Bang ra so với chú Thoòng đương kim bang chủ, thì chú Thoòng giỏi hơn Hồng Tiền Bối rất nhiều. Đệ tử dưới trướng Hồng Thất Công trước đây chỉ rặt một nòi Hán tộc. Đến đời Thoòng Bang
Chủ, gồm thâu thêm Mễ tộc, Phi tộc, Hàn tộc, Bạch mao tộc, Hồng mao tộc, Hắc mao tộc,... Nói chung, mọi chủng tộc từ khắp năm châu bốn biển đều về quy phục dưới trướng chú Thoòng. Đời Hồng Thất Công, cao trọng nhất sau bang chủ là hạng đệ tử tám túi. Đệ tử tám túi ngày xưa thì làm sao so với hạng đệ tử mang hàng chục bao rác thật lớn, treo lủng lẳng chung quanh các xe chợ mỗi ngày đẩy đến "cung phụng" cho Thoòng bang chủ.
Nói bá láp một chút cho vui thôi, chớ làm cái nghề mua bán Ve Chai này, hàng ngày giao tiếp với một số nhỏ khách hàng thuộc thành phần vô gia cư (homeless), khiến Tạo không tránh khỏi bùi ngùi, xúc động. Năm ba đồng, một hai chục bạc họ thu được từ những lon nhôm, lon nhựa, chai lọ,... nhặt trên đường hay moi ra từ trong thùng rác, chỉ đủ cho miếng ăn. Đêm xuống, họ thường chọn mái hiên nhà thờ hay dưới tàng cây làm chỗ ngủ. Vì vậy, nơi rửa tay cho khách sau vựa Ve Chai biến thành chỗ tắm giặt của những kẻ khốn khó này. Người Việt mình, Tạo chưa thấy lâm vào hoàn cảnh ấy.
*
Những ngày đông khách bận rộn, con cái thường ra vựa phụ giúp Tạo. Trong bữa ăn từ biệt cha mẹ qua New York học, Việt, đứa con trai út, chia sẻ lý do tại sao quyết định ghi tên theo học ngành Nha khoa: "Mỗi lần con ra vựa Ve Chai phụ giúp bố mẹ, nhìn mấy người vô gia cư cười, thấy răng cỏ họ bị mất gần hết, con ước muốn trở thành một Nha sĩ, hy vọng sẽ giữ lại cho họ vài cái răng để nhai Pizza, Hot dog, nhất là nụ cười luôn được tươi". Tạo chúc cho mộng ước của con sớm thành hiện thực, để Việt thay cho gia đình đền trả lại phần nào cái ơn quá to lớn mà đất nước và dân tộc này đã ban cho gia đình mình. Ngoài những nụ cười vàng úa trống vắng, Việt còn thấy những đôi tay đầy cáu bẩn, sung sướng đếm đi đếm lại từng đồng Penny, đồng Dime, đồng Quarter. Đôi tay tuy cáu bẩn, nhưng đồng tiền họ cầm thật sạch, bởi nó được tạo ra bằng chính sức lực của họ.
Có dịp nói chuyện với khách, Tạo biết được không phải chỉ có quê hương Việt Nam mới gánh chịu nhiều khổ đau, hầu như bất cứ sắc dân nào đến lập lại cuộc đời nơi miền đất hứa Hiệp Chúng Quốc này, đều mang chung một nỗi ưu tư, "Kẻ Ra Đi Lo Cho Người Ở Lại". Tạo không khỏi chạnh lòng mỗi khi nhận ra những tâm tư sâu kín của riêng từng người khách mang hàng đến bán cho vựa.
*
Một ông khách người Ethiopia đã ngoài 70, sống đơn độc trong căn chung cư nghèo cách vựa không xa. Tiền già chính phủ trợ cấp chỉ đủ nuôi thân, hàng ngày ông đi lượm Ve Chai kiếm tiền gởi về quê cho gia đình vợ con làng nước. Ông là một trong những khách thường nhật của vựa, thu nhập mỗi ngày khoảng 25 đồng. Bẵng đi một thời gian không thấy ông lui tới. Hỏi thăm mới hay trong lúc ông đẩy xe chợ đi lượm Ve Chai, xe bị trượt bánh trên đường dốc. Xe quá nặng, sức già yếu đuối, kéo ông ngã lăn theo xe, đầu va vào lề đường làm ông bị nứt sọ, phải nằm nhà thương cả tháng trời. Ngày quay lại vựa, ông tiều tụy ốm yếu đến nỗi Tạo không nhận ra. Chẳng rõ nơi quê nhà vợ con có hay biết mà thương cảm cho hoàn cảnh ông không? Nhưng Tạo biết chắc một điều, chiếc xe chợ ông đẩy thường ngày, từ nay sẽ chẳng bao giờ còn được đầy tràn như xưa, món tiền ông gởi về gia đình sẽ còm cõi đi. Biết đâu ông phải nhận thêm đôi lời phiền trách quên cội quên nguồn. Để mừng ông sống lại, vợ chồng Tạo mời ông dùng cơm tối, xin được kết thân cùng ông. Lẽ sống của ông là tạo niềm vui cho người khác, cuộc đời tận tụy của ông đã cho gia đình Tạo một bài học quý giá về việc ban phát tình thương và sống cho tha nhân.
*
Tạo có anh công nhân trẻ, người Mễ Tây Cơ, không nói được một câu tiếng Anh, nhưng làm việc hết sức siêng năng cần mẫn. Lương Ve Chai nào được là bao, lo cho mình chưa đủ huống chi anh còn cả một dòng họ nơi quê nhà. Tuy có công ăn việc làm, anh cũng chẳng khác kẻ vô gia cư, vì làm được đồng nào đều gởi hết về quê. Nơi anh ngủ là lòng chiếc xe "van" của một người quen thương tình cho anh sử dụng tạm. Ăn thì bữa cái Taco, bữa cái Burritto, ngon lắm được bữa Pizza trong những ngày đông khách chủ mua cho. Còn nước uống và tắm giặt, thì ra cái vòi phía sau vựa Ve Chai. Một ngày có tin cảnh sát tìm anh. Thì ra, vì nhu cầu nơi quê nhà quá lớn, lương anh dù đã gởi về gần hết, gia đình vẫn than túng thiếu. Muốn có tiền nhiều và nhanh, anh lạc vào đường bán ma túy. Hay tin cảnh sát truy lùng, anh sợ hãi bỏ trốn về Mễ. Tạo mất một người thợ tốt, cũng không biết hiện giờ cuộc sống anh ra sao?
*
Còn với khách Việt, Tạo cùng chú Thoòng có được nhiều tình thân qua chuyện mua bán, dễ dàng chia sẻ mọi điều với nhau nhờ tình đồng hương và cùng chung ngôn ngữ. Qua đó, Tạo thấu hiểu nhiều nỗi thương cảm, xót xa, cao thượng,... chung quanh vựa Ve Chai này. Có mấy ai nơi quê nhà biết được người thân sống ở Mỹ, phải đi moi thùng rác để tìm từng xu từng cắc, phải ăn uống dè sẻn, ở nhờ ở đậu trong ga ra để có bạc trăm bạc nghìn gởi về lo cho bà con, hay cứu trợ đồng bào bị thiên tai, nghèo khổ. Trong đống Ve Chai, trong đám đồng thau phế thải,... đã nở lên trăm ngàn đóa hoa muôn sắc về tình ruột thịt nghĩa đồng bào, át đi mùi phế liệu tanh tưởi. Tạo bắt chước nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đặt cho loài hoa ấy cái tên Hoa Ve Chai.

Nguyễn văn Hưởng




Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả