Nguyễn Nhật Minh
[Tiểu Sử | Thi Hữu | Nhắn Tin]


Chùm thơ về Nguyễn Trãi

Bài 1:  Lấp lánh sao Khuê

 

 

Vì dân vì nước sá chi thân

Lấp lánh sao Khuê sáng tuyệt trần

Đạo nghĩa thắng hung tàn(*),  định quốc

Chí nhân thay bạo ác(*), an dân

Kẻ thù thán phục, thua mà nể

Sĩ tốt tin yêu, kính vẫn gần

Đại Cáo Bình Ngô ngời chí khí

Ức Trai Thi Tập mãi vang ngân.

 

(*) Ý trong bài Cáo Bình Ngô 

 

 

Bài 2:  Gương soi vạn thuở

 

 

Tài cao, trí đảm, dạ trung quân

Lấp lánh sao Khuê tỏa cõi trần

Nhìn cảnh cha già, còn bịn rịn

Nghĩ tình nước mất, hết phân vân

Nghĩa nhân, sử sách còn ghi dấu

Trí dũng, văn bia vẫn khắc vần

Ái quốc, thương dân, dù phận bạc

Gương soi vạn thuở vẫn trong ngần.

                  


Bài 3:   Vậy sao đành !

 

 

Đôi mươi, kim bảng đã đề danh

Lấp lánh sao Khuê tạc sử xanh

Cha vốn hàn vi, dòng hiếu học

Mẹ hàng quí tộc, bậc trâm anh

Kẻ thù giam lỏng, bày tâm sáng

Minh chúa tin yêu, dốc trí lành

Báo quốc, trung quân, luôn tận lực

Hàm oan luống chịu... Vậy sao đành !

 

 

Bài 4:   Chính trị gia lỗi lạc

 

 

Kết hợp răn đe với nhún nhường

Soi trong sách sử dẫn làm gương

Ôn tồn giảng giải, phân rành rẽ

Cứng cỏi bảo ban, chỉ tỏ tường

Bút pháp thâm nho, thừa quả quyết

Văn phong mẫn tiệp, đủ kiên cường

Thiên tài chính trị gia uyên bác

Vận dụng văn đàn bớt máu xương.

 


Bài 5:  Gương Trong

 

 

Hàm oan vẫn tỏ tấm gương trong

Lấp lánh sao Khuê giữa bụi hồng

Đạo nghĩa mênh mông mây quyển tích

Chí nhân cuồn cuộn nước xuôi dòng

Yêu dân tròn hiếu, không sờn dạ

Phò chúa vẹn trung, chẳng thẹn lòng

Lánh chốn lợi danh đầy hiểm độc

Tinh anh vằng vặc khắp trời Đông.

 

 

Bài 6:  Đọc “Gia huấn ca”

 

 

Làm người thợ giỏi chốn nhân gian

Cái đạo tề gia luận kỹ càng

Lễ–nghĩa–tín–trung, trai đảm lược

Công–dung–ngôn–hạnh, gái hiền ngoan

Khuyên con:  đức nghiệp cần chăm chỉ

Nhủ vợ: ở ăn phải dịu dàng

Gia tộc–cội nguồn hưng xã tắc

Vợ hiền, con thảo, át giàu sang.


 

Bài 7:  Bức họa thiên nhiên bằng thơ

 

 

Khóm trúc, vòm thông tỏa bóng râm
Suối reo réo rắt - Tiếng thi cầm

Trời xanh - Khối ngọc trong vừa kết

Nước biếc - Chiếc khăn thắm mới chằm

Sáng sớm chăm hoa, Sương nhớ vụng

Đêm khuya gánh nước, Nguyệt yêu thầm

Đá lam rêu phủ thay giường chiếu

Đầu bãi thuyền ken - Lúc nhúc tằm.

 

 

Chú thích:  

–  Câu 1. Côn Sơn thông tốt ngất trời/

Ngả nghiêng dưới bóng ta thời tự do/

Côn Sơn trúc mọc đầy gò/Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu dao

– Câu 2. Côn Sơn có suối rì rầm/

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

– Câu 3. Thế giới đông nên ngọc một bầu

– Câu 4 & Câu 5.

Hái cúc, ương lan, sương bén áo/

Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn

– Câu 6. Chè tiên nước ghín, nguyệt đeo về

– Câu 7. Côn Sơn có đá rêu phơi/

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm

– Câu 8. Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi (Thơ Nguyễn Trãi).




Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả