Giọt Sầu Trên Mắt Mẹ - Hoài Nam (Phần 4) 

 

 
San Sẻ Nỗi Niềm

 

Dân tôi khốn đốn mấy mươi năm

Những nỗi chua cay tự bảy lăm (1975)

Em gái mang thân đem đổi bán

Em trai thiếu học, Mẹ cần ăn

 

Ngôi chùa đóng cửa đã từ lâu

Bặt tiếng bao năm lời nguyện cầu

Phố xá tràn lan dân đói tật

Lòng người đầy dẫy hận niềm đau!

 

Tôi viết dòng thơ cho bạn tôi

Xích xiềng trói buộc cả đời người

Đau thương, uất nghẹn, than không tiếng

Kềm kẹp, lao tù, thở chẳng hơi

 

Tôi viết dòng thơ tặng Mẹ tôi

Một đời lam lũ chẳng còn hơi

Nhà tan, nước mất, đau khôn xiết

Chồng chết, con xa, rách tả tơi

 

Tôi viết dòng thơ tặng quý Thầy

Nói lên công lý, bị bao vây

Suy đồi Đạo pháp, Thầy thừa biết

Hưng phục sao đây ơi hỡi Thầy!

 

Tôi ghi dòng thơ tặng Thầy, Cha

Chẳng lợi, chẳng danh, chẳng lụa là

Chỉ biết “Tự do hay phải Chết!”

Thế rồi dồn dập những phong ba

 

Tôi trao em nhỏ những vần thơ

Và sự cảm thông trong giấc mơ

Những nỗi yêu thương em chực đợi

Bao niềm hy vọng em trông chờ

 

Em đã chịu nhiều những khổ đau

Gian truân uất ức phủ trên đầu

Bán trinh, buôn nhục nuôi cha mẹ

Gối lệ, kê sầu suốt dạ thâu

 

Chia em tâm sự qua thơ tôi

Môi đặt hôn em với lệ rơi

Giọt lệ trong thơ xin rửa máu

Ðã lai láng chảy khắp thân người

 

Tôi viết dòng thơ cho Việt Nam

Quê hương yêu dấu đẹp vô vàn!

Sao nay lại biến thành tù ngục?

Lệ chảy thành sông, máu lở loang?

 

Thống khổ chất chồng ngút ngập ngàn

Người thì kêu cứu, kẻ than oan

“Tự do, Hạnh phúc” - Ôi xa lắm!

Tra trấn, giam cầm - Tại thế gian

 

Ngục tù của Ðảng rộng thênh thang

Từ mũi Cà Mau đến ải Quan

Giết chết mầm non bao thế hệ

Còn đâu sự sống ở tương lai

 

Hãy siết dòng thơ bẻ khóa tù

Hãy đơm tình lớn dậy mùa Thu

Hãy chùi vết hận cho em trẻ

Hãy chiếu ánh dương ở ngục tù

 

Hỡi em bé Việt của tôi ơi!

Hỡi Mẹ Việt Nam đẹp rạng ngời!

Hỡi thiết mộc lan mau trổi dậy!

Ngục tù sẽ mọc cánh hoa tươi!

 

Hỡi qúy Anh và qúy Chị ơi!

Anh hùng hào kiệt khắp muôn nơi!

Vì con vì cháu, ta vùng dậy!

Diệt hết Ðảng tà để cứu đời!

 

 
Trai Nước Việt và Ngọn Cờ Vàng

 

Trai nước Việt vốn chết vì nước Việt

Dù vàng phai đá nát chẳng đổi thay

Quyết giương thẳng ngọn cờ vàng bất diệt

Ấy hồn thiêng sông núi mãi ngời bay

 

Ba sọc đỏ: Bắc - Trung - Nam hợp nhất

Nền cờ vàng: Một biểu tượng quốc gia

Nam nhi đấng vẫn muôn đời bất khuất

Quyết hy sinh để dựng nước non nhà

 

Trai nước Việt sống chẳng cần nịnh bợ

Không mù lòa trước những đống vàng thoi

Nam nhi chí không bao giờ bỏ lỡ

Đã sinh ra làm một kiếp con người

 

Nam tử hán luôn nêu cao chính nghĩa

Sống cho đời, luôn giữ tính thanh liêm

Bất năng khuất trước bạo tàn, uy vũ

“Phú bất dâm, bần tiện bất năng di”

 

Cờ ba sọc là linh hồn Dân tộc

Là giang sơn, là Tổ quốc muôn đời

Lá cờ máu không thể nào thay được

Nó tượng trưng cho chủ nghĩa ngoại lai

 

Hãy vươn dậy hỡi anh hùng đất Việt!

Có chết đi, sẽ mãi được lưu danh

Anh hùng tính vẫn muôn đời bất diệt

Không thẹn mình con cháu giống Rồng Tiên

  

Vô Định

 

Tôi mãi lang thang khắp mọi miền

Đời như mây gió chốn thiên nhiên

Xuân qua, Hạ tới sầu tư quốc

Thu đến, Đông về nhuốm muộn phiền

 

Lang thang một kiếp - kiếp lang thang

Tìm lại tháng năm, năm tháng tàn

Lạc bước xa quê, hồn héo hắc

Sa chân biệt xứ, dạ miên man

 

Tìm lại vui buồn tuổi ấu thơ

Đã tan thành khói tự bao giờ

Giấc mơ, dù có vun khơi lại

Nơi chốn, đâu còn để mộng mơ?!

 

Đứng tại miền Tây, nghĩ đến Đông

Chất chồng ngun ngút vấn vương lòng

Thân nơi xứ Mỹ, hồn lưu Việt

Rồi thác ở Tây, đau đớn không?

  

Tư Cảm

 

Thân lữ khách giang hồ nghiệt ngã

Suối phong trần uống ngất ngây say

Dòng máu nóng chảy dài xứ lạ

Tắm sương khuya gió lạc trời mây

 

Tay rướm máu trên đầu ngọn bút

Giữa hư không họa bức quê hương

Tia huyết lệ trào phun lịm ngất

Gọi non sông thống thiết thê lương

 

Con một Mẹ lưu đày tứ hải

Ðâu còn quen tiếng khóc đầu nôi!

Mai trở lại vùng quê chốn cũ

Tiếng yêu nhau thốt được thành lời?

 

Tim nghẹn ngào lan dòng huyết thống

Tỉnh hồn mơ vẫn kiếp đi hoang

Ðôi dép da mòn đời tuyệt vọng

Tìm quê hương ngút bể xa ngàn

 

Băn khoăn lắm trọn đêm thao thức!

Nỗi đọa đày ray rứt ruột gan!

Thương quê Mẹ mịt mù xa khuất!

Chiết kết trên đầu một mảnh tang

 

 
Uất Nghẹn

 

Tôi tranh đấu ngày về tôi mong mỏi

Một giấc mơ để thoát cảnh lưu vong!

Đất nước Việt, người Mẹ hiền muôn thuở

Đàn con xa thương nhớ, ngậm ngùi trông!

 

***

 

Mai kia ấy ở trên vùng đất khách

Trong cô đơn, tôi chết tựa trăng già

Sức đâu nữa để nấc lên tiếng khóc

Lần cuối đời cho nước với mẹ cha?

 

 
Oklahoma Xứ Tornado, Florida Xứ Bão Tố

 

Oklahoma xứ tornado, Florida vùng bão tố

Gió dữ về phẫn nộ chốn trần gian

Thương con dân trong xứ mãi lầm than

Không nơi trú, lang thang vì nhà mất

 

Nỗi tang tóc trào dâng cơn uất ức

Oklahoma, xứ gió xoáy kinh hồn

99 kia* – trận địa của mồ chôn

Con bị cuốn, mẹ kêu than thảm thiết

 

Chồng khóc vợ thở than lời da diếc

Nuốt vào tim những giọt lệ đắng cay

Tiền, của, vàng đã trả lại mây bay

Thân côi cút nơi miền hoang đồng trống

 

Hằng năm đến, vác thân tàn nghe ngóng

Đám mây đen thường hội tụ nơi đâu

Tìm một nơi dù ống cống, hầm cầu

Chun xuống núp, ôi thảm thương áo não!...

 

Không tha thứ, gió chuyển mình làm bão

Xoáy tan tành vùng đất hứa Florida

Biết bao dân tan nghiệp, mất cửa nhà

Phần hấp tấp vội tìm nơi lánh nạn

 

Cảnh đau đớn như thời kỳ chạy loạn

Hỡi Cao xanh! Sao không chút thương dân?

Chỉ một năm mà bão tới ba lần

Đá cũng nát! Cây, người làm sao sống?...

 

Oklahoma, Florida - thời bình đẹp lắm!

Đón gió hiền, lá cờ nhẹ tung bay

Ngọn xoáy về, cuốn xé nát tan thây

Dòng huyết mạch nổ bưng cơn máu đổ

 

Dân chỉ thích cơn gió hiên nhẹ nhỏ

Thổi mát lòng, say với cảnh bình yên

Bão! Mơ chi cơn sóng gió cuồng điên?

Khi nó đến cuốn biệt đi mầm sống.

 

--------------------

* Trận gió xoáy dữ dội vào năm 1999 ở Oklahoma.

 

 
Quê Hương Tôi Miền Trung

 

Từ ngày bỏ nước đi

Sầu đọng mãi trên mi

Lệ nhạt nhòa không ráo

Về chung gối biệt ly

 

Dân tộc tôi lầm than

Gái trai khắp xóm làng

Thuở xưa thường tụ họp

Nay cách biệt xa đàng

 

Đồng lúa vàng thân yêu

Giờ hoang phế quạnh hiu

Từ ngày quê thất thủ

Nắng chẳng muốn soi chiều

 

Bờ chuối, hàng cau tươi

Nay khô lá tả tơi

Gió buồn chẳng vuốt nhẹ

Đứng lẻ bóng đơn côi

 

Bờ dương mọc cạnh đê

Thường rũ bóng trưa hè

Nay chẳng còn tông tích

Con đường trống quạnh hoe

 

Mái trường ở cuối làng

Hy vọng mở thênh thang

Nay chẳng còn viên gạch

Em tôi vẫn đứng đàng

 

Cổng chùa đóng đã lâu

Im bặt tiếng kinh cầu

Cánh cửa hồn dân tộc

Ngục tù hóa Đạo mầu!

 

Các cụ già da nhăn

Khổ đau tự bảy lăm (1975)

Ngày thời ăn chẳng đủ

Đêm lạnh ngủ không chăn

 

Đất nước tôi giờ đây

Những khô héo ắp đầy

Oán than và tủi hận

Cao ngút chín tầng mây

 

Biển Đông nhả sóng điên

Than khúc oán triền miên

Thống thiết kêu liên tục

Thay lời khóc Mẹ hiền

 

Đất nước Bắc, Nam, Trung

Những năm tháng chạnh lòng

Vọng về quê biệt xứ

Thương, cảm, nhớ, sầu, trông

 

Huế của tôi miền Trung

Sống luôn nhớ tạc lòng

Chết mang về cổ mộ

Thao thức nỗi chờ mong…

 

 
Ngợi Ca Anh Hùng Lý Tống!

 

Anh Lý Tống! Trái tim đầy nhiệt huyết

Cánh đại bàng, Anh duỗi thẳng tung bay

Khắp non sông, Anh lượn dưới trời mây

Cả hoàn vũ ngắm nhìn Anh đắm đuối

 

Trong lòng kết một tình yêu vời vợi

Anh mang trao cho hết cả dân Nam

Đang khát khao thoát khỏi cảnh lầm than

Chịu đày đọa trong ngục tù thảm cảnh

 

Tình thương ấy đúc thành lòng dũng mãnh

Vượt đại dương, Anh kết mối tương giao

Cho tương lai, cho thế hệ mai sau

Đặt vào áng sử ngàn năm bất khuất

 

Thân Anh bị giam cầm trong tù ngục

Hồn Anh bay khắp chốn ở không gian

Tay chân còng siết chặt nỗi hàm oan

Lòng sống dậy dạt dào bao chí nguyện

 

Vây Anh chặt, cả một bầy mã khuyển

Giết linh hồn luôn vị quốc vong thân

Đoạn đầu đài chúng đã chém mấy lần

Nhưng chẳng chết tinh thần Anh bất diệt!

 

Anh Lý Tống! Anh ơi, Anh có biết?

Tôn vinh Anh! Toàn thế giới hoan ca

Nhớ thương Anh! Cả lớp trẻ lẫn già

Họ đón đợi ngày Anh về khấp khởi

 

Một ngày đến, lá cờ vàng phất phới

Tung bay cao trên đất nước Việt Nam

Hương tự do tràn ắp cả không gian

Nuôi hồn tộc, nuôi tình người huyết thống

 

Anh ơi hỡi, Linh hồn Anh mãi sống

Với giang san, với lịch sử Tiên Rồng

Sống muôn năm như Dân tộc đang mong

Sống bất khuất, sống ngàn đời bất diệt!

 

Em xin được đặt môi hôn thắm thiết

Lên trái tim chứa dòng máu từ bi

Trong lòng Anh vì đại nghĩa. Sá gì

Cứu Dân tộc mới vào tù ra tội

 

Thân sinh – thác, Anh gửi hồn Đất Việt

Chí Nam nhi, Anh quyết liệt xông pha

Kính phục Anh cái khí phách cao xa:

Sống để chết cho non sông gấm vóc!

 

 
Ngợi Ca Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

 

Nguyễn Ngọc Hạnh! Hồn Trưng Vương sống lại

Đốt bạo tàn với ngọn lửa uy hùng

Thân tẩm dầu, lòng vị quốc vong thân

Diệt cường bạo, thắp sáng trang sử báu

 

Thân mai mảnh, ý kiên cường nung náu

Xác trẻ trung, chí mãnh liệt ngập tràn

Đã bao phen xông xáo ổ sói lang

Giết thú dữ cho dân mình được sống

 

Bàn chân nhỏ nhưng bước đi hùng dũng

Cánh tay mềm mà sức mạnh vô biên

Đã mấy lần khiến ác đảng ngả nghiêng

Vì bị giáng những trận đòn sấm sét

 

Phận tơ liễu gói linh hồn bất diệt

Số má đào ắp trí tuệ phi phàm

Dẹp Cọng nô cứu dân tộc Việt Nam

Nuôi lý tưởng: Báo đền ân xã tắc

 

Vang bốn bể cái tinh thần bất khuất

Vọng năm châu cái chí khí hiên ngang

Lập lời thề: Thù bất cọng đái thiên

Quyết diệt Cọng, hoa Tự Do mới nở

 

Nguyễn Ngọc Hạnh, tên muôn đời rực rỡ

Nhụy hương thơm bay ngát cả không gian

Một tình yêu sống dậy đẹp vô vàn

Tình yêu ấy: Tình Yêu thương Tổ quốc

  

Vị Quốc Dấn Thân, Vị Dân Dấn Mạng


(Viết để kính tặng qúy anh chị: Nguyễn Vũ Bình, Ðỗ Nam Hải, Trương Văn Sương, Bàn Văn Thụy, Trương Quang Đô, Phạm Hồng Sơn, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Văn Đài, Bạch Ngọc Dương, Phạm Văn Trội, Lương Duy Phương,Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Khắc Toàn,
Nguyễn Thị Thuỳ Trang, Bác sĩ Lê Nguyên Sang, Ký giả Huỳnh Nguyên Đạo, Luật sư Nguyễn Bắc Truyễn, Linh và tất cả qúy vị đang dấn thân cho lý tưởng quốc gia tại quốc nội.)

 

Tôi chưa gặp các anh cùng các chị

Chưa bao giờ nghe giọng nói thân thương

Nhưng cớ sao tình cứ mãi vấn vương

Tiếng anh chị vang nhanh trên thế giới

 

Gởi thông điệp khắp mọi miền liên đới

Nhắn nhủ rằng trên đất nước Việt Nam

Hơn tám mươi triệu dân Việt lầm than

Ðang rên xiết dưới ngục tù Cọng sản

 

Chính vì thế, qúy chị anh chẳng quản

Quyết hy sinh để cứu lấy dân lành

Ðòi tự do, dân chủ, lẫn nhân quyền

Ðâu sá gì cảnh vào tù ra tội

 

Chí đã quyết dù oan khiên mấy nỗi

Lòng đã thề dẫu bão tố bao phen

Sống bao lâu mà khiếp nhược đê hèn

Như những kẻ bán hồn cho Việt Cọng

 

Qúy anh chị! Những con người đáng trọng!

Giữa đại dương cỡi song gió đi đầu

Nêu tấm gương cho thế hệ mai sau

Soi vào đó tìm trên mình vết nhục:

 

Nhục cúi lòn, để bán thân cầu thực

Nhục bịt tai, tiếng khóc khỏi bị nghe

Nhục quay lưng để đất biển sơn khê

Mặc ác đảng mang dâng cho Trung quốc

 

Nhục an phận bẳng quên đi dân tộc

Nhục phá môn để Việt Cọng tẩy hồn

Nhục mặc cho đạo đức cứ suy đồi

Nhục vong quốc chẳng bao giờ phản tỉnh

 

Hỡi anh chị, những người đầy bản lĩnh

Sinh vì đời và tử vị tha nhân

Giữ lập trường luôn vị quốc vong thân

Từ quốc nội, tiếng thơm lan bốn bể

 

Tôi mến phục Công Nhân, Em gan dạ

Mới chào đời là tim đã đơm hoa

Hoa Tự do, hoa Dân chủ kiêu sa

Tuổi hăm bốn, Em hái trao dân Việt

 

Những hình ảnh: Anh, Chị, Em mỹ tuyệt

Thi, văn nào diễn tả hết được đây!

Ước mong sao “Nhân Quyền kiếm” trong tay

Của qúy vị chém bay đầu ác Ðảng

  

Ất Dậu 2005 – Nghênh Tân Tống Cựu

 

Ba mươi năm chẵn, chiếm miền Nam

Giết hại nhân sinh, cướp thỏa tham

Kinh tế, Quốc gia đang tụt hậu

Thuần phong, mỹ tục đã tiêu tàn

 

Ba mươi năm chẵn hỡi anh ơi!

Nghĩ đến giang san dạ rối bời

Nhìn thấy năm Châu, đà tiến triển

So về nước Việt, thẹn ôi thôi!

 

Năm qua, tháng lại, Xuân rồi Xuân …

Dân tộc, quê hương vẫn mãi bần

Toàn dân bóp bụng, lòng tê tái

Một đảng nhe răng, mặt sượng sân

 

Tống cựu nghênh tân… Ta chúc nhau!

Tống đi đảng cướp, bọn đầu trâu!

Tống lũ tay sai, loài phản bội!

Nghênh tân tống cựu, tống cho mau!

 

Tống cả những tên thật đáng khinh

Để chi cho nhớp đất Thần kinh?

Là loại: Cha tù, con nịnh Cộng

Cái đồ phản Tổ chẳng nên hình!

 

Hải ngoại:

Nghênh tân tống cựu… Tống gì đây?

Tống hết Nhục – Thù đang bủa vây (*)

Ý thức được mình đang tỵ Cọng

Để cho dòng họ tiếng thơm lây!

 

Quốc nội:

Chủ nghĩa Mác-Lê quá lỗi thời

Tống đi! Đừng tiếc nuối người ơi!

Đó là cái cựu không nên giữ

Chỉ hại nhân dân, hại cuộc đời!

 

Nghênh đón Nhân quyền, Tự do, Dân chủ … đẹp đất trời!

Trên Quê hương Việt … mãi vui tươi!

 

--------------------

(*) Muốn tống hết vết Nhục, mối Thù thì phải tiêu diệt Cọng sản.

 

 
Ba Mươi Năm (1975-2005) Uất Hận


(Kính tặng Qúy Văn Thi sĩ chống Cọng trong suốt 30 năm qua)

 

Ba mươi năm – Một tủi nhục nhọc nhằn

Đè nặng gánh lên đôi vai dân Việt

Miệng không ngớt tiếng vang rên thống thiết

Tiếng oán hờn, lời tha thiết van lơn

 

Dòng máu loang ứ đọng khắp càn khôn

Ngập vũ trụ, nỗi oan tình chất ngất

Việt Nam đó – Một trần đời địa ngục

Nhân dân ta – Gươm súng bủa tứ bề

 

Ba mươi năm – Cơn ác mộng lê thê

Kiếp sóng gió biết bao giờ qua khỏi

Những mầm sống, chưa sinh đà chết vội

Tiêu hủy dần những mỹ tục thuần phong

 

Ba mươi năm – Cả Dân tộc bị còng

Đạo pháp bị thuyết Mác Lê bôi bẩn

Nền giáo dục dạy con em thờ đảng

Bàn Tổ Tiên, Phật, Chúa chỉ để chưng!

 

Ba mươi năm – Hàng triệu gái bán trinh

Kiếm đồng một nuôi mẹ mình được sống

Hàng trẻ nhỏ ngày đêm chui cầu cống

Bới rác tìm lon kẽm bán nuôi cha

 

Ba mươi năm – Trai mấy triệu bê tha

Sống trác táng, ngày đêm mê nghiện ngập

Quên bổn phận mình giống nòi bất khuất

Để cổ đầu bị cỡi bởi đảng gian

 

Ba mươi năm – Thầy Tổ bị tống giam

Kẻ yêu nước bị hãm vòng tù tội

Người tỉnh mộng bị cắt môi khóa lưỡi

Giới lương tri bị xỏ mũi còng chân

 

Ba mươi năm – Đảng đào tạo ác nhân:

Vô giáo dục, cứ chuyên cần theo đảng

Vô đạo đức, tạo biết bao cảnh thảm

Như Trường Chinh đã xử trảm Mẹ Cha

 

Ba mươi năm – Nỗi thống khổ xót xa

Tội ác đảng sánh bao la tợ biển…

Đêm gác trán tự trách mình thô thiển

Sống trong đời chẳng giúp được non sông!!!

 




Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả