Giọt Sầu Trên Mắt Mẹ - (Phần 7)
Cả đám Du sinh được mấy người
Biết lo Tổ quốc, biết lo đời?
Quê hương cắt bán không màng đến
Dân tộc đọa đày chẳng tiếp hơi
Bất trí, bất nhân, khi chính nghĩa
Vô căn, vô đạo, sống theo thời
Ra đi “du học” vì danh lợi…
Là nước Việt Nam đã hết thời!
Nước Việt Sau 1975
(Kính họa bài thơ của HT Thích Quảng Ðộ)
Từ ngày ác đảng hiện phương Đông
Thảo khấu một bầy thật đại ngông
Trộm cướp, lưu manh - không biến có
Lễ nghi, đạo giáo - có thành không
Thuần phong, mỹ tục đà tiêu tán
Tín ngưỡng, tự do chẳng thoát thông
Khi bọn khuyển ngưu còn lãnh đạo
Việt Nam có đó cũng như không!!!
(Kính họa Thi phẩm Đáp Lời của Nữ sĩ Phạm Hoài Việt)
Đứng dậy chiêu binh qúy bạn ơi!
Nhân hòa địa lợi đến cơ thời
Già Hồ, ác đảng, phải tiêu diệt!
Đất nước sơn hà, được diễn khơi
Quét sạch ma quân phò ý Thánh
Phát huy nhân đạo phụng lòng Trời
Đất chung chẳng đứng cùng quân Cọng
Nợ với non sông há dễ vơi?
(Kính họa Thi phẩm Tiến Bước của Nữ sĩ Phạm Hoài Việt)
Qúy Anh, Qúy Chị, các Em này!
Dân tộc điêu linh có thấy, hay?
Xứ sở, dân đen đời cực khổ
Tha phương, con đỏ phận lưu đày
Đè đầu cỡi cổ, niềm ô nhục
Bỏ nước xa nhà, nỗi đắng cay
Nhất quyết vùng lên ta góp sức
Diệt tan Việt Cọng, rất mong thay!
(Kính họa Thi phẩm Hoài Quốc của Thi sĩ Phạm Hoài Việt)
Cọng sản gian manh phải diệt tan
Bảo tồn chính nghĩa lá cờ vàng
Gươm linh tốc chiến treo đầu giặc
Bút thép trường kỳ tố Việt gian
Dòng giống Tiên Rồng hồn bất khuất
Con dân Âu Lạc chí hiên ngang
Nếu không xông trận làm sao thắng?
Ðừng có chưa chi đã vội hàng!
(Kính họa Thi phẩm Tấm Lòng Son của Thi sĩ Lâm Hoài Vũ)
Sá gì dầu dãi chốn phong sương
Đúc kết lòng son, chí quật cường
Dẫu khổ, liều thân tru bất đạo
Dù nguy, xả mạng độ hiền lương
Xiển dương Chánh pháp dâng Tam bảo
Cứu khổ chúng sanh hiến Thập phương
Thân xác có tiêu về cát bụi
Danh còn thơm ngát mãi mùi hương
(Kính họa Thi phẩm Chiều Quê Hương của Thi sĩ Phan Hoài Nam)
Phương nào Quốc lạc chốn mù sương
Cất tiếng gọi non thống thiết vương
Một kiếp cha ông bi lụy nhớ
Ngàn đời con cháu não nề thương
Xác dung đất khách, đau vong xứ
Hồn gởi quê hương, nhớ đoạn trường
Mơ ước tự do cho nước Việt
Mong cầu thoát khỏi cảnh tha hương
(Kính họa Thi phẩm Gã Gà Mờ của Thi sĩ Ngô Phủ để lên án hành động của những tên làm tay sai CSVN bị người Việt Quốc gia lên tiếng phản đối)
Đánh lận con đen cứ mập mờ
Chẳng phân tốt xấu, bẩn hay dơ
Quốc gia tan biến, không lo liệu
Chức tước đam mê, cứ lết bò
Một phút nghĩ sai, hại đất nước
Đôi lần nói bậy, tổn nhà mồ
Thích chi chút mọn đồng lương bổng
Để bị người ta đánh gãy giò.
(Kính họa Thi phẩm Bầy Lộn Giống của Thi sĩ Lâm Hoài Vũ)
Ác qủy đầu thai dưới dạng người
Lộ hình năm một chín ba mươi (1930)
Công an cả lũ như loài vật
Lãnh đạo toàn ban chẳng phải người
Khổ não dân sầu, tâm oán hận
Thương tâm Thánh khóc, lệ tuôn rơi (*)
Khi mà ác đảng không còn nữa
Ấy lúc quê hương sẽ rạng ngời
--------------------
(*) Nhìn thấy con dân vô tội bị ác đảng CSVN cướp bóc, tham nhũng, ác đức, vô nhân như thế, cho nên hình tượng Thánh mẫu Maria phải rơi máu lệ trên khóe mắt!
(Kính phụ họa Thi phẩm Chớ Đắn Đo của Thi sĩ Tha Nhân)
Quyết định cho nhanh, chớ đắn đo
Để dân trong nước hết âu lo
Nhân quyền không chiếm, bao người hiến?
Dân chủ chẳng giành, mấy kẻ cho?
Đất nước điêu linh, đừng mặc kệ
Quê hương tàn tạ, chớ đo so
Nhắm vào đầu đảng, nện từng búa
Canh bọn tay sai để siết cò
(Kính phụ họa Thi phẩm Hoang Tàn của Thi sĩ Bạch Loan)
Lưu vong viễn xứ, ấy là sầu
Ngó nước trông nhà chẳng thấy đâu
Đò lạc thiết tha mơ bến cũ
Tằm hoang quyến luyến nhớ nương dâu
Ngóng người hiệp ý quắt lòng dạ
Đợi bạn đồng tâm bạc tóc râu
Đất nước điêu linh, dân thống khổ
Ai ơi thôi nhé cảnh lưu câu
(Kính họa Thi phẩm Lời Nguyện Giáng Sinh của Thi sĩ Bạch Loan)
Kính Đức Quán Âm, quán sát trần
Xin Ngài độ thế, cứu toàn dân
Bẻ còng, giải thoát người vô tội
Khuyến giáo, khai tâm bọn giả nhân
Khuyên lũ công an quy nẻo giác
Dạy bầy lãnh đạo bỏ vô thần
Thuần phong mỹ tục thôi băng hoại
Và tiếng chuông chùa được vọng ngân.
(Kính họa Thi phẩm Chiều Lữ Thứ của Thi sĩ Bạch Loan)
Đau lòng xa xứ hạt châu sa
Tri kỷ ngóng trông, mắt đã nhòa
Suối chảy, nước trong hòa lệ đắng
Non trơ, gió lộng gởi tình xa
Hải Nam mất hết, đau lòng mẹ
Quan Ải chẳng còn, xót ruột cha
Tứ cố vô thân, sầu lẻ bóng
Tình quê muôn kiếp mãi trong ta!
(Kính họa Thi phẩm Chiều Trên Quê Hương của Thi sĩ Bạch Loan)
Tôi nhớ hàng tre khoe gió chiều
Oằn cong vuốt nhẹ mái nhà xiêu
Véo von dưới ruộng dân ca cổ
Thanh thoát trên không tiếng sáo diều
Thiếu gạo, rách chăn nhưng khổ ít
Đông con, dư cháu mà vui nhiều
Cảnh làng còn được như thời ấy?
Nát ruột đau lòng quê dấu yêu!
(Kính họa Thi phẩm Đường Thu của Thi sĩ Bạch Loan)
Rừng hoang cô độc đứng chơi vơi
Vắng tảnh tành tanh chẳng bóng người
Nắng muộn chen mây lơ lửng chiếu
Lá vàng tránh nhánh lững lờ rơi
Gió lồng rát mặt hòn non chếch
Nước chảy đau lòng cội trúc lơi
Ngắm cảnh gợi lòng thương núi Ngự
Cố đô chốn cũ nhớ khôn nguôi!
(Kính họa Thi phẩm Anh & Tôi của Thi sĩ Bạch Loan và mến tặng Bạch Loan)
Bao năm lưu lạc xứ tha hương
Mới biết bạn hiền ấy một phương:
Tiếng tốt, danh thơm vang bốn bể
Lòng ngay, dạ thẳng vọng ngàn phương
Quốc gia mãi nhớ hằng khắc khoải
Dân tộc hoài thương luống đoạn trường
Non nước, gia đình vai gánh nặng
Năm châu huynh đệ thưởng mùi hương
(Kính họa Thi phẩm Cảnh Thu của Thi sĩ Bạch Loan)
Ánh nguyệt mơ màng chiếu mái hiên
Gió thưa xào xạc lá bên thềm
Não nề hàng giậu côn trùng thán
Vương vấn cạnh non tiếng sáo mềm
Thức trắng đêm thâu thương nước quá!
Ngẫm đời lữ thứ nhớ nhà thêm!
Quốc gia, Dân tộc thê lương lắm
Tri kỷ ai ơi! Gởi nỗi niềm!
(Kính họa Thi phẩm Nhớ Thương của Thi sĩ Bạch Loan)
Canh cánh bên lòng cảnh cố hương
Băn khoăn trằn trọc cả đêm trường
Cây đa bến cũ, niềm vương vấn
Cánh phượng trường làng, nỗi nhớ thương
Ðất nước mờ mờ làn khói lửa
Quê hương ảo ảo dải mây sương
Bao giờ trở lại thăm thôn xóm?
Tổ quốc trong lòng mãi vấn vương!
(Kính họa Thi phẩm Thương Thầy của Thi sĩ Hoàng Dũng để tưởng kính Qúy Thầy trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất)
Cái loại vô luân chẳng biết Thầy
Đau thương uất nghẹn gởi ngàn mây
Hóa hình mãnh lực bẻ tù ngục
Biến chất dưỡng sinh nuôi dáng gầy
Mong ước lời kinh khắp chốn thoảng
Nguyện cầu câu kệ ngút trời bay
Xin cho Quốc nạn mau qua khỏi
Pháp thể khinh an! Kính chúc Thầy
(Kính họa Thi phẩm Pháp Nạn của Thi sĩ Hoàng Dũng để tưởng kính Qúy Thầy trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất)
Thương thay con tạo trớ trêu xoay
Đứt ruột bấn gan ơi hỡi Thầy!
Phật giáo điêu linh tứ hải rõ
Tăng Ni thống khổ ngũ châu hay
Gióng lời đạo đức, cả đời đọa
Cất tiếng lương tâm, một kiếp đày
Chủ nghĩa thiên đường ma quái nhỉ!?
Nực cười cái cảnh mặt trời quay!!!
(Kính họa Thi phẩm Xuân Đất Khách trong web Hoa Sơn Trang)
Một kiếp qua rồi độ tuổi hoa
Bao năm lữ khách sống xa nhà
Quê hương, Mẹ ước đau phiền dứt
Đất khách, Con chờ tết muộn qua
Rượu đắng một bầu mời xóm lạ
Nhang thơm ba nhánh khấn quê xa
Mong rằng đất nước tang thương biến
Cố quốc sầu ly ta khóc ta
(Kính họa Thi phẩm Xuân Đất Khách trong web Hoa Sơn Trang)
Khuất nẻo bóng tà lặn phía Tây
Đắng cay uất nghẹn đã đong đầy
Nửa đời vắng Mẹ buồn xa xót
Một thuở xa Cha đau ngất ngây
Mắt ướt sầu đong, thương giọt lệ
Thân khô gió thổi, buốt cành cây
Lá vàng không hẹn rơi tơi tả
Nhắn gởi cùng ai tê tái này?
(Kính họa Thi phẩm Xuân Đất Khách trong web Hoa Sơn Trang)
Ánh dương khuất bóng sau lưng đồi
Dòng nước rời nguồn vương vấn trôi
Mây bạc đầu non lơ lửng phủ
Cây khô đáy nước thẹn thùng soi
Thương nhà lệ đọng quanh tròng mắt
Nhớ nước buồn lan trên nét môi
Viễn xứ, Thu qua bao độ nhỉ?
Lang thang đất khách mấy năm rồi?
(Kính họa Thi phẩm Xuân Mộng trong web Hoa Sơn Trang)
Ba mươi Xuân lẻ ở quê nhà
Đất nước tơi bời năm tháng qua
Làng xóm, chùa chiền không tiếng pháo
Bàn thờ, đền Tổ chẳng nhành hoa
Ngục tù rộng mở - không lời hát
Xiềng xích lan tràn - chẳng điệu ca
Mong đấng anh hùng mau dấn bước
Cho xuân đất Mẹ nở hiền hòa
(Kính họa Thi phẩm Nam Nhi của Thi sĩ TTL)
Nhà tan, viễn xứ cả trăm đường
Tiếp nối tinh thần kẻ thiện lương
Phục quốc, diệt thù đền nợ nước
Lập công, giết giặc báo ân vương
Nam nhi vị quốc dù tan thịt
Trai chí vong thân dẫu nát xương
Quyết hiến tuổi xuân cho Mẹ Việt
Nguyện đem tâm huyết trải ngàn phương
(Kính họa Thi phẩm Bài Học Đầu của Thi sĩ TTL)
Từ ngày biết nói tiếng Ê, A…
Nặng nợ non sông với nước nhà
Hiếu đạo thuận hòa khách sáng đến
Nghĩa tình toàn vẹn bạn chiều qua
Giang sơn xây đắp vui lòng Mẹ
Bờ cõi giữ gìn đẹp ý Cha
Cố quận trong tim hằng khắc đậm
Việt Nam yêu dấu chẳng chia xa!
(Kính họa Thi phẩm Ðời Lữ Thứ của Thi sĩ Chiêu Minh)
Nếu chẳng đấu tranh, thế tránh đâu?
Một đời lữ thứ, vạn ngày sầu
Ba chìm bảy nổi thân phiêu bạt
Trăm nắng ngàn mưa phận mọt sâu
Nhớ nước thương nhà tâm quặn thắt
Trông cha ngóng mẹ dạ lao chao
Tòng quân giết giặc mong hồi đáo
Há lẽ cam lòng để chịu đau?
(Kính Họa Thi phẩm Thành Quả Đảng Ta của Thi sĩ Việt Đường)
Từ khi Cọng sản nắm toàn quyền
Tài sản Quốc gia bị chở chuyên
Đạo lý, gia phong thì mất gốc
Lễ nghi, hạnh phúc đã tàn duyên
Lời cầu, tiếng cứu vang lòng địa
Nỗi oán, niềm than động cõi thiên
Ác đảng nếu mà còn lãnh đạo
Việt Nam địa ngục ắt là nên!
Từ khi ác đảng chiếm miền Nam
Độc dữ, gian ngoa, cướp thỏa tham
Giúp mẹ, bán trinh bao lớp nữ
Nuôi cha, bỏ học bấy người nam
Trả thù dân tộc, Hồ luôn giết
Cắt bán quốc gia, đảng mãi làm
Cọng sản, nơi nào chúng bén mảng
Thế là nơi ấy kể như tan
Cọng sản lâu nay chẳng phải người
Chưa hề lột xác khỏi đười ươi
Hạ tầng dân chúng thân khô héo
Thượng cấp đảng viên xác tốt tươi
Máu đổ lệ rơi, dân nức khóc
Đạo tàn đức thoái, đảng vui cười
Mấy mươi năm chẵn, vượn không đổi
Chịu khổ bao lâu nữa hỡi trời?
Tính năm “Giải phóng” đã ba mươi
Kiệt quệ rồng Nam hỡi bạn ơi!
Cướp của đày dân, sầu biệt xứ
Cầm tù bỏ tội, hận muôn nơi
Nông phu chân lấm ăn không đủ
Cán bộ ngồi không nhậu tả tơi
Thù hại non sông, đừng chóng lãng
Đứng lên diệt Cọng cứu nguy đời!
Một giấc ly hương – Tết đến sao?
Kính dâng lời chúc tới đồng bào:
Giàu sang phú qúy, tiền thâu lẹ
Lợi lộc công danh, chức đạt mau
Con cháu thuận hòa, lòng hiếu thảo
Vợ chồng hạnh phúc, ý tâm đầu
Cùng mong ác đạo nhanh khai ngộ
Để Việt Nam thôi cảnh khổ đau