1

Chén Đắng Lưu Vong - (Phần 3)

Mời Anh Cạn Chén Lưu Vong
– 3

 

Mời anh chén rượu lưu vong

Uống đi để thấy non sông hiện về

Uống vào ta tỉnh cơn mê

Nước non ngàn dặm sơn khê ngút ngàn

Đêm nay thao thức mơ màng

Lưu đày xứ lạ vô vàn tiếc thương

Quê hương ơi hỡi quê hương!

Còn chăng một mảnh nối đường cho ta!?

Cách ngăn mấy nẻo sơn hà

Trùng dương sóng vỗ thiết tha ngậm ngùi

Lá vàng than khóc thu rơi

Chim non lìa tổ lệ đời xót xa

Người ơi xin hỏi giùm ta

Vì ai ta phải phận đà lưu vong???

 

11.2009



Thêm Một Xuân Ly Xứ

 

Xuân về bao độ đất tha phương

Lữ thứ trải qua mấy đoạn đường

Đất khách giao hòa hai tập tục

Lòng người mang nặng một quê hương

 

Tết đến gieo chi nỗi ngậm ngùi

Xa nhà biệt xứ mấy ai vui

Xuân qua để lại bao thương nhớ

Ly xứ, năm thêm, đọng cõi đời

 

Xin đốt nén nhang ở đáy tim

Hướng về đất tổ chốn xa xăm

Cầu cho nước Việt mau qua khỏi

ách nạn Cọng quân đã mấy năm

 

Oklahoma, 1.1 Kỷ Sửu – Cảm tác



Sôi Hận Chén Lưu Vong

 

Một chén lưu vong rót đã lâu

Mấy mươi năm chẵn, chẳng phai màu

Xót xa lưu xứ – Ôi gian khổ!

Tủi nhục ly hương – Sao xót đau!

 

Một chén lưu vong rót đã lâu

Mấy mươi năm chẵn, chẳng phai màu

Mùi hương chưa nhạt: Mùi cay nhục!

Vị chát còn dư: Vị đắng sầu!

 

***

 

Lưu vong, rót mãi xứ người ta

Càng uống càng đau nỗi nước nhà

Càng uống càng bầm gan tím ruột

Uống cho thức tỉnh mộng phù hoa

 

Lưu vong, chén đắng xứ tha hương

Càng uống càng thêm nỗi đoạn trường

Càng uống càng dâng mùi tủi nhục

Uống cho tỉnh giấc kiếp đau thương

 

Uống chén lưu vong mấy chục năm

Mà ly chẳng cạn, cứ đầy ăm

Dồn qua cổ họng mùi căm hận

Ép ở trong lòng nỗi nhớ mong

 

Hỡi ai cam phận uống lưu vong!

Có cảm men say tủi nhục không?

Hay tưởng đang nâng ly rượu quý?

Để mờ tâm trí kiếp thương tâm?

 

Nếu không muốn uống chén lưu vong

Thì hãy cùng nhau góp sức, lòng

Vung kiếm chém tan loài Cọng phỉ

Quê hương hồi đáo, thỏa lòng mong!

 

Đừng để Cọng quân cứ sống còn

Mà dơ đất nước, chật non sông

Hãy đem máu thắm tẩy cho sạch

Mùi Đảng vấy tanh giống Lạc Hồng

 

Hỡi bọn Giáo gian lẫn Việt gian!

Nếu không chém nát lũ tham tàn

Sống thề không đội chung trời Việt

Chết chẳng chôn cùng với đất Nam

 

3.3.2009



Ðảng Cọng Sản Việt Nam…

 

Ðảng được đầu thai từ nơi cực lạnh

Tên gọi Nga sô

Nên giống mình bị mất gốc…

 

Ðảng được thoát sinh từ nơi hang hốc

Tên gọi Pắc Pó địa đầu

Chẳng đèn dầu, không ánh sáng

Chẳng hình chẳng dạng

Ngoe nguẩy chốn tối tăm…

 

Vì bao phủ bởi vô minh

Nên vô tri vô giác

Không trường không lớp

Chẳng học chẳng hành

Hun tính gian manh

Ðầu trâu mặt ngựa

Sống trong ngu dốt

Luyện nết bạo tàn

Bịp bợm gian tham

Lâu la vô loại

Trở thành thú quái

Ðức thoái đạo bần

Vô tổ vô tông

Lòng lang dạ thú…

 

Cả một bầy xuất thân từ rừng rú

Năm Năm Tư (1954) lố nhố về thành

Nhe mỏ răng nanh

Cắn banh cha mẹ

Từ già đến trẻ

Chúng chẳng hề tha

Tiếng khóc tiếng la

Dâng cao thống thiết…

 

Một nửa Bắc dân ở lại chịu khổ hình da diếc

Một nửa kia cắt chia máu huyết chạy trốn vào Nam

Trăm khổ nghìn kham

Hàm oan ai thấu?

 

Mộng tham sẵn, qủy sa tăng vẫn phóng dài mã tấu

Vượt trường sơn nghiến ngấu miền Nam

Tết Mậu thân, máu huyết chảy ướt dầm

Ðất thành đô bới trăm ngàn mồ chôn tập thể

 

Sông đầy cả lệ,

Núi trệ xương khô

 

Con không cha cất tiếng khóc bơ vơ

Nhà vô chủ lạnh từng cơn hiu quạnh

 

Vốn vô đáy, bọn Cọng quân nổi đầy thú tính

Ác vô cùng, chúng xé bỏ hiệp định Ba lê

Chiếm miền Nam, khiến máu lệ não nề

Ép dân chúng, đến bên bờ vực thẳm

Tang thương thảm cảnh…

Uất hận ngút ngàn

Biển nất lời than

Sóng tràn sôi sục

 

Hình ảnh trả thù Dân tộc

Vì những nỗi nhục,

 

Do bởi Tam Vô:

Vô gia đình, vô tổ quốc, vô đạo giáo,

Vốn đã dâng cao

Thì còn đâu nhân tính?

Năm mười ba tuổi đã bỏ trường đăng lính

Nên bị ngu si

Vậy chẳng có chuyện chi mà chúng không nhúng tay tạo tác

 

Ấy lòng gian ác

Ðã phát bộc ra

Chém giết người nhà

Chẳng tha Dân tộc

Đầu độc toàn dân

Nhốt hàng triệu quân, cán, chính

Ðẩy thân nhân lính và bà con thân thuộc vào rừng nước độc núi thiêng

Mà chúng gọi là đi miền kinh tế

Gian nan đáo để

Khôn dễ sống còn

Phần còn lại thì chúng men mom đến cướp

Giựt đất, siết nhà

Dân chúng kêu la

Dân oan trỗi dậy…

 

Manh tâm chẳng đậy

Nay bán nước nhà

Đất, biển, đảo của quốc gia

Chúng đem dâng sạch

 

Kể đến đây mà lòng đau hơn cắt

Quặn thắt tâm can…

Hận bọn Việt gian

Căm loài ác đảng

Thù bán nước, hại dân của đám tàn quân Cọng sản Từ đây nếu không rửa được,

Ta quyết chẳng thề cùng bọn chúng đội trời chung!

 

Đầu Xuân 2009



Tự Trào

 

Ðau lòng thỏ thẻ hồi Thiên Mụ

Xót dạ tâm tình tiếng trống Dinh

Trơ vơ nguyệt chiếu trên đồi Ngự

Ðơn độc sen tàn đáy Tịnh Tâm

 

Ðêm kinh chuyên chở lời ray rứt

Ngày tiếng phân trần giọng oán căm

Thương tổn tâm linh đau xác Phật

Nhọc nhằn hình thể tủi lòng Tăng

 

Máu đỏ phủ đường hoa lột xác

Trắng phau Ðồng khánh gái mang tang

Thân trai hút sách đời đen bạc

Phận gái bán dâm kiếp phũ phàng

 

Rời nước mang theo dòng máu Việt

Xa quê đeo cõng khúc xương Nam

Trăn trối, thở than, thương, nuối, tiếc

Chôn nhau cắt rốn xứ Tình Lam

Cách biệt thu âm con bạc phước

Ly gia vong quốc mẹ bơ vơ

Ôm ấp lời nguyền con tiếp bước

Chất chồng phiền muộn mẹ mong chờ

 

Thành cũ mưa giăng tràn phố Huế!

Bến xưa đò đậu nặng giòng Hương!

Thương sao mới đủ tình cha mẹ?

Nhớ mấy cho vừa nghĩa nước non?

 

Tự Trào – 2

 

Tết đến bao năm Mẹ vẫn chờ

Trông đàn con dại sống bơ vơ

Tha phương tứ xứ con lưu lạc

Đất Việt trời Nam Mẹ mãi chờ

 

Mái đổ tường xiêu, Mẹ cậy ai?

Ngày đêm não ruột tiếng than dài

Chén cơm tách nước ai hầu Mẹ?

Ngày ốm đêm đau lỡ gọi ai?

 

Đã mấy năm rồi, năm tháng qua

Con còn lưu lạc xứ người ta

Mấy năm con nhớ hồn tê tái

Bao tết Mẹ trông lệ nhạt nhòa

 

Ly xứ tha hương mấy chục năm

Thương quê nhớ nước dạ băn khoăn

Chiến bào xung trận chưa mang khoác

Mà chí diệt thù đã khắc tâm



Hành Trình Tìm Tự Do

 

Tháng Tư đỏ, Bảy lăm, ngày tắm máu

Lửa Tự do đã tắt hẳn từ đây

Cảnh ngục tù lẫn tra trấn bủa vây

Chiêu kết tội, đòn trả thù vô đạo…

 

Lìa Mẹ yếu, bỏ cha già áo não

Rời quê hương, xa gấm vóc giang sơn

Lệ rưng rưng ở khóe mắt căm hờn

Chân từng bước, nhặp nhằng trên cát hận

 

Lằn đạn nổ sau lưng tua từng bận

Xả vào dân chạy loạn. Cảnh sát nhân!

Từng lớp người ngã gục. Cảnh thương tâm!

Người trên cát gào kêu: Dìu tôi với!

 

Con lạc cha thống gào kêu ơi ới…

Vợ cách chồng… đất hòa máu loang hoe

Tiếng đau thương nỗi tuyệt vọng tràn trề

Trốn ác quỷ, mạnh ai người ấy sống

 

Nỗi oan ức thoát cao trời lồng lộng

Cảnh oái ăm ngất ngút mấy tầng mây

Trên bãi, người thân bị bắt đọa đày

Dưới bể, kẻ lọt đi lòng tê tái

 

Lời vĩnh biệt thốt lên đau biết mấy!

Khúc giả từ ép kín nhức thảm thương

Tấm thân tàn mang gởi sóng đại dương

Sống hoặc chết ai đâu còn nghĩ đến!

 

Thế là hết! Quê hương! Xa một kiếp

Tấm thân này nuôi sống cá biển xanh

Nếu may thay chân đạt đến đất lành

Cũng là chỉ mang danh thân lữ thứ

 

Đó chưa kể nỗi thương tâm tràn ứ

Cướp, giết, dâm… bọn hải tặc gây ra

Ôi rợn người! Máu lệ đã đổ ra

Dù bốn biển chẳng mong đong hết được

 

Nay sống cảnh tự do miền đất hứa

Âu cũng là thân lượm ở hư không

Bởi trước đây ta đã chết mấy lần

Khi vượt biển, vượt biên đầy gian khó

 

Thân lượm lại nghĩa là thân chẳng có

Thì tiếc gì mạng sống có như không?

Một quốc gia, một dân tộc trong lòng

Nên nhớ giữ và thề đồng phụng sự

 

Ôi một kiếp! Kiếp đau buồn lữ thứ

Kiếp tang thương, kiếp vất vưởng vật vờ

Kiếp năm canh, hồn quốc mãi trong mơ

Kiếp sáu khắc, tình quê luôn vướng dạ

 

Kiếp lưu lạc, mong chờ ngày đoàn tụ

Kiếp tha phương, mộng phục chuyến hồi hương

Kiếp thương cha, buồn tủi cách đại dương

Kiếp nhớ mẹ, sầu thương ngăn bốn bể

 

Kiếp uất hận, cha đi trong ngấn lệ

Kiếp đau lòng, mẹ chết chẳng thấy con

Kiếp lạc loài, ôi sao quá cô đơn!

Kiếp còn nước, còn nhà nhưng ly cách

 

Tiếng mưa đổ ngoài trời nghe róc rách

Mà tưởng chừng như lệ xối trong tim

Ở trời Tây nhìn quê Mẹ điêu linh

Đang bị bán bởi một bầy ác quỷ

 

Tự do hỡi! Người đưa ta viễn xứ

Biết làm gì để cứu lấy quê hương?

Xin dùng thân còn lại kiếp ly hương

Tiếp ngọn lửa thiêu tan bầy Cọng phỉ

 

22.12.2008



Tự Do! Giải Phóng!

 

Từ lúc Cọng quân trải gót giày

Điêu linh thống khổ ngập trời mây

Quê hương đất nước tan, hư, mất

Dân tộc nhân sinh khổ, đọa, đày

Ác đảng cướp ăn thân phì trướng

Hiền dân thua nhịn mạng hao gầy

Tự do – Thảo khấu vào vơ vét

Giải phóng – Giặc Hồ giết thẳng tay



Thương Tiếc Việt Nam

 

Thuở ra đi, ta mang dòng máu nóng

Sưởi trong người một hình bóng quê hương

Lúc cách xa ta đun dòng huyết thống

Nhắc tương lai nhớ mãi một phố phường

 

Chân chưa nghỉ, trải ngũ châu tứ hải

Mắt lệ nhòa, khóe đọng ở bờ mi

Thân ướt đẫm, bởi phong sương tắm mãi

Trí chẳng nhòa, nước Việt mãi khắc ghi

 

Bao năm sống xứ người, thân ấu trẻ

Một đời lưu đất khách, kiếp bôn ba

Đêm quạnh vắng gởi hồn thăm đất Mẹ

Ngày cô đơn dõi mắt ngóng quê Cha

 

Tim quặn thắt, cơn đau dằn từng đoạn

Lòng tái tê, khối hận chất trăm năm

Việt Nam hỡi, bao giờ ta trở lại!?

Quê hương ơi, mấy thuở đã biệt tăm!?

 

Làn khói phủ, tầm nhìn che đất Việt

Ngọn gió lùa, hương thoảng bạt trời Nam

Gối dòng lệ. Việt Nam: Thương với tiếc!

Vấn quốc tang. Cọng sản: Hận cùng căm!



Vẫn Còn Chưa Tỉnh?

 

Từ ngày Việt Cọng giẵm đôi giày

Nước mất nhà tan khổ lắm thay!

Bản Giốc, Nam Quan dâng giặc đỏ

Nhị Sa, Nam Hải bán quan thầy

Quê hương xứ sở luôn tan nát

Dân tộc sinh linh mãi đọa đày

Hỡi kẻ đem thân luồn cúi giặc!

Đến nay chưa tỉnh, vẫn còn say?



Trường Hận Và Nỗi Lòng Với Nhị Sa

 

Thân lữ khách, trốn ngục tù Cọng sản

Phận lưu vong bao nữa hỡi Cao xanh?

Cõng Quê hương vượt biển ở trên mình

Nghe sóng vỗ khóc than bờ duyên hải

 

Ôm nỗi nhớ ngập con tim khắc khoải

Ðợi hiền nhân bày giải chút tâm tư

Mà người đâu biền biệt chốn sương mù?

Ðể sóng nước chưa dâng đầu đã bạc!

 

Vận cứu nước Tổ tiên đà phó thác!

Quẻ tìm người túi vải có linh thiêng?

Ðã mấy thu gối mỏi trải bao miền!

Sức cạn kiệt trông người, người vắng bóng!

 

Kẻ tục tử, nhãn che còn lồng lộng

Bậc hiền nhân, mắt gióng vẫn biệt tăm

Nhìn đảng Hồ phá nát cả giang san

Máu sôi sục hận bầm gan tím ruột!

 

Ta đã lỡ sinh làm con dân Việt

Thấy tội đồ bán nước phải phanh thây

Thề kiếp này không tru diệt bọn bay

Nguyện sinh tiếp, chém bay, rửa hận nước!

 

1.2.2008

  

Thương Phế Binh Chiến Sĩ Cọng Hòa

 

Thân tàn phế, anh quay về phố cũ

Rũ bụi hồng trĩu nặng ở đôi vai

Ðã bao năm trong sương gió miệt mài

Nhả khói súng giữ hồn thiêng Tổ quốc

 

Nay ở trước một cõi đời bất lực

Vẫn hướng về với đất nước tương lai

Chí ưu tư cho thế hệ ngày mai

Ðang bị dập trong tay loài Cọng sản

 

Vẫn trăn trở cho quê hương lâm nạn

Nỗi căm hờn vì biển đảo núi sông

Bị bán dâng bởi lũ giặc cuồng ngông

Ngồi ôm hận nghẹn ngào trong chí nguyện

 

Nhìn non nước mà lòng anh đau điếng

Thấy con dân mà bấn ruột tâm can

Buốt hờn căm, nức nỡ bật tiếng than

Gửi gió núi rừng hoang tràn chấn động

 

Thân tàn phế nhưng hồn anh đang sống

Kết thiên thu với gấm vóc giang san

Chiến công anh làm Việt Cọng khiếp hàng

Tên tuổi ấy, muôn đời ngời ánh Sử.

 

16.1.2010

  

Thơ Quê Hương

(Kính tặng Thi Đàn Hoa Tiên. Đồng kính tặng những Ngòi bút cho Quê hương khắp năm châu bốn bể)

 

Tình trai gái một thời gian sẽ dứt

Yêu quốc gia mãi gắn bó muôn đời

Có kẻ bảo: bỏ nhau, tình hẳn đứt!

Đâu ai người nói: cắt vứt quê hương?

 

Thơ tình ái, gió xua rơi lác đác

Dòng quê hương, bão táp cội chẳng lay

Bởi non nước gói trong thơ dào dạt

Luôn vĩnh hằng với tuế nguyệt xưa nay

 

Thời sống tạm, cách quê Nam muôn dặm

Nơi tha phương, xa đất Việt nghìn trùng

Ta nên viết về Việt Nam thật đậm

Để hòa cùng với nhịp thở non sông

 

Dùng cán bút bẩy xoay vầng nhật nguyệt

Rải mực xanh vun sức sống quê hương

Mỗi nét chữ một tinh thần bất diệt

Đầu ngón tay bốc thét tiếng căm hờn

 

Dòng máu đỏ chảy dài trên ngọn bút

Lửa hận thù ngun ngút ngập trời mây

Thắp ngọn đuốc trên quảng đường hun hút

Cho mọi người tìm Tổ quốc nơi đây

 

Oklahoma 10.11.2009

 



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả