Sau khi đạo lịnh 01-1979 xuất hiện, Bí pháp Đạo Tâm Phạm môn cung Hạo Nhiên Pháp Thiên đứng giữa hai tinh thần đối kháng: trong là chi phái Thể pháp Thanh Hương Hội Đồng Chưởng Quản và ngoài gồm các chi phái; thánh thất các nơi trong và ngoài nước mượn danh nghĩa "bảo thủ chơn truyền; phục quyền hội thánh", chống chi phái Cao Đài Hội Đồng Chưởng Quản Tòa Thánh Tây Ninh, và đối kháng với nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Cả thảy hai tinh thần ấy bảo rằng: Bí pháp Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên hạ tượng Thiên Nhãn một mắt, thờ Đức Giáo chủ Hộ Pháp là bàn môn tả đạo. Họ xuyên tạc, vu khống nhảm nhí, bằng nhiều phương cách nội khảo và ngoại khảo, vẫn chưa thỏa mãn cái phàm tâm tục tánh của họ. Cuối cùng họ muốn mượn bàn tay của chính quyền đời để nhổ cái gai làm xốn mắt, thế là từ ấy công an các cấp: ấp, xã, huyện, tỉnh Tây Ninh và khắp nơi trong nước bắt đầu lưu ý, theo dõi, nếu cần làm việc tại chỗ hoặc mời về văn phòng điều tra xét hỏi, cấm đoán đủ điều… do vậy mà chính quyền đời gọi chúng tôi là “nhóm đạo rù rì thờ Hộ Pháp”. Quả thật, Bí Pháp Hạo Nhiên thi hành tam thiện: thiện công, thiện đức, thiện ngôn; quan trọng nhất là thiện ngôn cho nên cả thảy đều phải ráng học, cần mẫn học, có học mới biết, có biết rồi làm mới đúng, đặng thay thế ngôn ngữ cho Đức Chí Tôn, đem chơn pháp cho vạn linh đạt đạo tại mặt thế gian nầy. Người ngoài cuộc không cho biết, do vậy mới gọi là bí pháp mang tiếng đạo rù rì, chẳng phải sợ họ đâu vì của quý không bán nài, mất lẽ công bằng hay sao? Sự vận hành kín của Bí pháp Hạo Nhiên là giải thể và diệt tướng, bằng tinh thần “tự nhiên, thương yêu và công chánh” lấy làm căn bản, cũng không khác hình trạng của hội kín thế giới Tam Điểm từ thế kỷ 17 đến nay vậy.
Tuy ở trong giai đoạn bí pháp để thay củ đổi mới chưa từng có từ khi khai đạo, bị đồng đạo và quyền đời khinh bỉ chê bai, cấm đoán và cô lập về tự do tín ngưỡng tôn giáo thật sự, không cho thờ Đức Hộ pháp là thầy của họ vừa là giáo chủ khai sáng đạo Cao Đài. Từ ấy cho đến nay, nếu tư gia nào thờ Đức Hộ pháp, nhỡ có tang tế thì chi phái Hội Đồng Chưởng Quản Tòa Thánh Tây Ninh không đến làm đám xác đi chôn, trước kia còn cấm không được an táng trong Cực Lạc Thái Bình là nghĩa địa chung, dành cho toàn thể môn đồ đạo Cao Đài sau khi quy vị. Nhưng tín đồ Bí pháp Phạm môn Hạo Nhiên vẫn tự chủ, quyết đoán, làm tròn bổn phận một tín đồ của Đạo và những công dân tốt tuân theo luật lịnh của Chính phủ ban hành, nhờ đức tính dám nói thật và làm thật, thành ý chánh tâm, hy sinh, can đảm, vững tâm, bền chí nhẫn nại, mà Bí pháp Hạo Nhiên của Đạo Cao Đài tồn tại đến ngày nay.
Bắt đầu từ đêm mùng 7-4 năm Nhâm Thìn (2012) tại Đền Thánh Tây Ninh thi hành Nhơn Nghĩa đạo đời tương đắc, Bí pháp Hạo Nhiên đã xuất hiện sở hành dám nói thật, làm thật, chỉ cho thấy sự chơn thật trong sự yêu thương và công bằng, trước mắt nhơn sanh trong và ngoài nước đều nghe, thấy rõ hình ảnh, tên tuổi, địa chỉ của những tín đồ quèn, không còn là một hội kín tam điểm rù rì như trước kia nữa, thế mới gọi là chơn pháp tam điểm.
Tuy bằng tinh thần tôn sư trọng đạo, yêu nước thương dân, dám đem thân ra làm tế vật đứng trước hội công đồng trên bàn hòa bình thương nghị quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi có dịp xích lại gần nhau tại Giảng Đường Tòa Thánh Tây Ninh bằng nhiều phương cách, để bào chửa và gánh cái khổ nạn cho Chính phủ, mà từ trước tới nay chưa thấy một ai đủ chiến thắng, hy sinh can đảm, sáng suốt, vững tin…như những tín đồ quèn của Hội kín Bí pháp Hạo Nhiên Pháp Thiên đạo Cao Đài đã làm từ năm 2006 đến nay. Thế cũng chưa đủ làm bằng chứng pháp nhân của quyền đời công nhận là một tinh thần chính nghĩa đáng được nêu gương? Thì lẽ đương nhiên Bí pháp Hạo Nhiên vẫn là một hội kín không có nhân quyền của một công dân yêu nước; không có nhân quyền về tự do tôn giáo của một tín đồ chân chính đặng thảo phạt những kẻ loạn thần. Cái thân phận của Hội Kín Tam Điểm đời sau: tự do, bác ái, công bằng; mãi bị theo dõi, cấm đoán trên 20 năm nay vẫn vậy, gia đình tín đồ Cao Đài nào thờ Đức giáo chủ Hộ pháp là ông thầy chung của họ, nhỡ có người chết không cho làm đám xác đưa đi an táng… chính quyền tỉnh Tây Ninh bảo họ hãy tu thuần túy đi, có nghĩa họ muốn cho những con người tôn giáo ngồi một chỗ tụng kinh gõ mỏ, mê muội ngu dốt, tự sanh tự diệt cho đến chết ! Họ không cho viết bài nữa làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước, họ bảo “chúng tôi xem còn không hiểu, anh gởi cho mấy “ổng”(cấp Trung ương và tỉnh) mấy “ổng” không có hiểu đâu”; họ thu gom hết tài liệu; họ chỉ trích cái đám rù rì thờ Hộ pháp lộn xộn; việc nhà nước để nhà nước lo…
Phá đạo chống đời họ cấm đã đành, còn những bằng chứng thi hành nhơn nghĩa của tinh thần Bí Pháp Phạm môn, cung Hạo Nhiên Pháp Thiên đạo Cao Đài từ năm 2006-2013 đến nay như chúng tôi đây không đủ để họ tin nữa hay sao? Chê thì họ cấm; nên không dám chê họ; khen họ, bào chửa binh vực, gánh cái khó xử cho họ, mà họ cũng cấm…kỳ dị chưa? Con dân của họ mà họ không tin thì họ còn tin ai? Con dân của họ mà họ còn sợ thì họ dám làm thầy được ai? Họ mất công, phí sức, tốn tiền đầu tư nhân lực để theo dõi, nhắc nhỡ, bảo vệ và gìn giữ… nhưng vẫn không thu phục được tâm lý của nhơn sanh vào khuôn luật thương yêu, hòa bình tự trị; ngày càng làm cho dân thêm sợ sệt, oán đạo, ghét đời. Bởi họ không có giải pháp giáo hóa để thu phục nhân tâm.
Đặc biệt, thuộc tính của Bí pháp Hạo Nhiên Pháp Thiên là tự nhiên, giải thể và diệt tướng, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, đảng phái… xem nhau như anh em ruột thịt, tin nhau, làm với nhau, biết nhau thì còn sợ ai nữa! Hạo Nhiên mang bản chất thương yêu và công chánh làm gốc, trong khuôn luật tự do quyền.
Vậy thử hỏi, là những công dân yêu nước; vừa là những tín đồ tôn giáo chân chính, chúng tôi phải làm gì đây để vùa giúp tay cho ước vọng của chính phủ Việt Nam ta thành hiện thực trên con đường phụng sự tổ quốc, đang trăm bề lo toan, để có phương trừ an nội loạn và ngoại loạn với các thế lực đối kháng chờ cơ hội xuyên tạc, vu khống vô căn cứ, nhằm mục đích hạ thấp uy tín của nhà nước ta trên trường quốc tế? Nhiều khi buồn muốn buông xuôi, làm theo ý của họ muốn, thôi để nhà nước lo cho rồi. Nhưng không gì một số người bảo thủ, tiêu cực, ỷ quyền cậy thế mà quên đi cái trọng trách của đại đa số công dân Việt Nam yêu nước, thương nòi, ở trong một giai đoạn tổ quốc đang chuyển mình để tiến tới hòa bình bằng thương nghị trên thế giới, nhằm mục đích giúp cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong khi vị Thánh sống yêu ái Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã khôn ngoan, sáng suốt ân cần kêu gọi hàng triệu đảng viên từ trung ương đến địa phương, hãy dành cái quyền dân chủ tự quyết trên tinh thần đại nghĩa bản sắc dân tộc 4000 năm văn hiến cho toàn dân Việt Nam tự định phận, tự định vận mạng đất nước của mình: “do dân, vì dân, lắng nghe dân, học nơi dân, làm theo nguyện vọng của dân…” trước mặt thì họ ừ một đường, nhưng sau lưng làm một ngã. Lắng nghe dân mà không hiểu, thì phải học nơi dân chớ ! Chỉ sợ làm biến học và mắc cỡ, tự ái không chịu học thì đành phải chịu dốt chắc hẳn vậy. Không biết lại không chịu dốt cho rằng mình khôn, rồi tự mãn ỷ quyền, ỷ thế cấm đoán dân nói, không cho dân làm vì lợi ích chung của đất nước, có liên quan đến những điều mà họ không biết…hầu đề phòng sẽ lòi ra cái dốt của mình, thật là tai hại.
Nếu thế gian nầy, hiện có những con người như thế thì quân và dân như cá với nước khó xích lại gần nhau để chung sống cùng nhau; bởi không hiểu nhau rồi sanh ra cô lập, ghét bỏ nhau, triệt hạ lẫn nhau, một còn một mất, cuối cùng cái thiệt thòi là dân gánh chịu. Dầu cho một gia đình, ngoài xã hội, cả một quốc gia cũng vậy, nếu không hiểu nhau, không tin nhau để xích lại gần nhau rồi yêu thương nhau thì không có niềm tin trong cuộc sống; mà không có niềm tin với nhau thì chắc chắn hòa bình tự trị không bao giờ xuất hiện trên mặt địa cầu nầy.
Do vậy, đã đến ngày giờ thiên cơ chuyển pháp, thiên điều phục nguyên thánh thể lại, tín đồ quèn Bí pháp Hạo Nhiên không còn mai danh ẩn tích nữa mà phải xuất hiện chi chi cũng tại Đền Thánh Tây Ninh nầy mà thôi. Nhân cơ hội năm 2006, Ngài Nguyễn Tấn Dũng mới vừa nhậm chức Thủ Tướng Chính Phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông là một Thủ tướng Chính phủ xuất sắc đầu tiên của đảng cộng sản Việt Nam mà từ trước tới nay hiếm thấy và khó quên! Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, mạnh dạn kêu gọi toàn đảng toàn dân được phép chất vấn, trao đổi bằng điện thoại trực tuyến, thông tin điện tử, gửi thư… nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để dân quân có cơ hội xích lại gần nhau, hiểu nhau, tạo niềm tin yêu thương nhau vì hòa bình và công lý của một đất nước Việt Nam nhỏ nhen đáng được nêu gương, nhân rộng ra toàn thế giới cho thiên hạ bắt chước đồ theo.
Năm 2006, Tín đồ quèn Bí pháp cung Hạo Nhiên Pháp Thiên Võ Hoàng Thọ đã viết bài gửi đi 14 cơ quan từ địa phương tỉnh Tây Ninh; T/p HCM; đến Trung ương Hà Nội: gửi “Văn phòng Thủ Tướng Chính phủ”, nhờ chuyển đến Ngài Nguyễn Tấn Dũng Thủ Tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và đến tận tay bà Tôn Nữ Thị Ninh Phó chủ nhiệm “Đối ngoại Quốc Hội”, qua bưu điện xã Bàu Năng, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Nhằm mục đích giúp cho chính quyền đời biết rõ Bí pháp cung Hạo Nhiên Pháp Thiên của đạo Cao Đài là gì? Gốc do đâu? Họ là những ai? Muốn gì và làm gì? Để có dịp hiểu nhau mới tin nhau, và cùng nhau xây dựng và bảo vệ tổ quốc, sống tốt đời đẹp đạo. Tài liệu gửi đi:
1- Pháp chánh Quốc Đạo Nam Phong là con đường Đạo Đời tương đắc.
2- Bác ái và công bằng thi hành nhơn nghĩa tiến đến đại đồng.
3- Thiệt tướng WTO là chìa khóa là cửa, của nhân quyền tự do tôn giáo.
- Trích lại bài viết tay, gửi cho Ngài Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2006:
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên – Tòa Thánh Tây Ninh
*************
Kính gởi, Ngài: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt nam
Tôi: Võ Hồng Thọ. Sinh năm 1950.
Thường trú: 182, tổ 3, ấp: Ninh an, xã: Bàu năng, huyện: Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Là một tín đồ Đạo Tâm cung Hạo Nhiên Pháp Thiên, tôn giáo Cao Đài ĐĐTKPĐ; vừa là công dân nước CHXHCN Việt Nam.
Thưa Thủ Tướng, hiện nay trên thương trường WTO, Việt Nam ta thứ 150, bởi vì ta bơi thuận dòng theo WTO bằng sản phẩm vật chất. Vật chất là hình thể của trí tuệ thuộc đời, trong đó có Việt Nam không khác là những diễn viên trên sân khấu đang tập tuồng, mỏi cổ đứng chờ ông đạo diễn như cường quốc Hoa kỳ, đến cầm tay cầm chân chỉ từng động tác chuẩn bị ngày ra công diễn.
Đã đến lúc Việt nam ta phải thay đổi cơ chế của WTO, có nghĩa chúng ta châm vào, thêm vào, hoặc điền vào chỗ trống của WTO cho đặng cao siêu, đạo đời tương đắc mới mong trường tồn vĩnh cửu. Cách này tôn giáo gọi là trở pháp; các bậc hiền triết gọi là lội ngược dòng nước.
Hiển nhiên trên thương trường WTO, duy chỉ có một loại sản phẩm vật chất để phục vụ thi hài xác thịt của con người; còn thiếu một sản phẩm yếu trọng đặng phụng sự cho linh hồn nhơn loại đó là sản phẩm tinh thần. Cái thiếu của WTO do đâu? Không phải tìm mà có, muốn mà được, nó có sẵn trong tay đứa em út thứ 150 tên là Việt Nam.
“Thơ nắm trong tay phải đợi thời”
Đến ngày giờ Đức Chí Tôn phân định, con út của Ngài sẽ hiện ra. Số 150 là số thành qua mấy thập niên của WTO phát khởi từ O; số 150 là sắc tức thị không của WTO. Còn với Việt Nam thì 150 lại là số xuất phát từ O để hướng tới WTO, cho nên mới nói Việt Nam là chiếc thuyền nan, bơi bằng hai tay bắt đầu bên nây bờ, cố vượt qua bên kia bờ của biển khơi WTO. Thế thì mãi mãi Việt Nam khó tìm cho mình một địa vị xứng đáng công bằng trên thương trường quốc tế.
Cho nên Việt Nam ta phải lội ngược dòng nước WTO, để chế ngự món sản phẩm vật chất lấy làm chủ lực, tạo cho trí não con người bị thể xác khống chế, biết đến bao giờ mới hết khổ và để giúp những nước sau nầy không còn tiếp nối con đường của chúng ta đã đi qua. Sự tương tác thuận nghịch của các nước đối với liệt cường Hoa kỳ trên quỷ đạo toàn cầu hóa WTO, xảy ra đặc biệt ở hai giai đoạn lượt đi và lượt về trên thế giới phẳng của WTO:
1- Luật hành kỳ (thuận hành):
- Lượt đi, bằng con đường vòng mất mấy mươi năm, tạo cơ tranh đấu vật chất.
- Hoa Kỳ xuất phát từ O; Việt Nam là thành viên thứ 150…
- Sản phẩm vật chất làm chủ lực thuộc đời.
- Sản phẩm tinh thần tức đạo không có, vậy mà họ buộc nhà nước Việt Nam ta phải có nhân quyền và tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mới cho gia nhập WTO ?
Quả thật, đời không đạo không quyền, khác nào con vi chủ cha mẹ, ắt loạn.
Thiệt tướng WTO của đời là một cơ quan lãnh đạo và điều động, nhằm tiến đến hội hiệp thương mại toàn cầu hóa. WTO là đỉnh cao, là điểm đến cuối cùng của trí thức khoa học toàn cầu.
a/- Lấy vật chất phục vụ cho sự sống thi hài xác thịt của con người.
b/- Lấy vật chất phục vụ chiến tranh như: máy bay, súng đạn, vũ khí hạt nhân, muốn làm bà chủ siêu cường, họ dùng xương máu của nhơn sanh để lập đài danh dự.
c/- Mượn vật chất làm phương tiện, xây đúc vững chắc, bền bỉ hay nói rõ họ mượn vật chất làm cây cầu cho các nước cường quốc hô phong hoán võ, tiến đến toàn cầu hóa đúng theo ý của họ muốn. Đôi bên cùng có lợi, mạnh được yếu thua, khôn còn dại mất, anh lớn khôn lanh thì làm giàu; em nhỏ dại cũng đặng đắp đổi qua ngày hai bửa.
Thế gian xem trọng WTO, chớ thật sự lượt đi của WTO chỉ là cái bóng dáng mơ hồ đối với Thể pháp Thế đạo của một tôn giáo mà thôi. Bởi WTO không phải là một cơ quan cứu khổ chúng sinh.
2- Luật Hườn kỳ (nghịch hành):
- Lượt về, đi tắt bằng con đường thẳng xuyên tâm bán kính vòng tròn.
- Phản bổn hoàn nguyên từ 150 trở về O, trên con đường pháp chánh:
“Quốc Đạo kiêm triêu thành Đại Đạo”
Nam phong thử nhựt biến nhơn phong”
- Lấy sản phẩm tinh thần làm chủ lực thuộc đạo.
- Sản phẩm vật chất làm phương tiện tức đời.
Nhờ đó, đạo mới có đời có sức; đời có đạo có quyền. Thể như cha mẹ vi chủ con ắt nên, cha từ tử hiếu.
Đối với nhân quyền về tự do tín ngưỡng tôn giáo, thì thiệt tướng WTO chỉ là chiếc chìa khóa thương yêu để mở cửa Bát quái đài tại thế mà thôi. Vậy chiếc chìa khóa ấy là pháp chánh bất di bất dịch bằng sự thương yêu khoan dung tha thứ, nhân từ độ lượng là hai thuộc tính (Sifât) của thượng đế (Allah). Đó là thông điệp vĩnh hằng để dẫn dắt con cái của Ngài theo chính đạo, làm điều thiện bỏ điều ác, đặng trở về gặp tận mặt đức vua chủ nhân của chiếc ngai vương vĩ đại, vào ngày phán xử cuối cùng ở đời sau.
Thế thì, chìa khóa ấy khi Đức chí tôn giáng trần mở đạo Cao Đài, Ngài đã trao tận tay mỗi người, ban cho con cái của Ngài, mỗi người một quyền hành, đủ phương pháp, đủ quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình. Có nghĩa bằng mọi cách, lấy bác ái và công bằng làm pháp bửu, thương lún thương càn đi coi ngày kia có lầm chăng?
“Cao thượng Chí Tôn Đại Đạo hòa bình dân chủ mục,
Đài tiền sùng bái Tam Kỳ cộng hưởng tự do quyền”.
Đức Chí tôn đã bảo rằng về hòa bình thế giới, các con làm không được đâu, việc đó hãy để thầy làm mới được. Vì Ngài đến chỉnh lại Nho tông đặng chuyển thế, còn phải chấn hưng cả phật giáo để đưa nhơn loại đến chủ nghĩa đại đồng. Nên ngôi vị giáo tông chẳng của riêng ai hay riêng cho một nước nào, mà giáo tông là ngôi vị của cả toàn cầu. Ai thực thi được hai chữ nhơn nghĩa, thu phục tâm lý của nhơn sanh vào khuôn Đại Đạo thì ngôi vị giáo tông, xứng phận làm anh cả thiêng liêng của người đó chắc hẳn vậy. Ngài buộc phải áp dụng theo Nho tông là tạo lập tông đường trước nhứt, hể có chủ quyền của tông đường mới lần lên chủ quyền Quốc đạo, tức là giáo tông Di Lạc Vương phật.
Chủ quyền có, mới thực hiện mục đích chánh của đạo Cao Đài là: Công bằng, bác ái, vị tha, ưu nhơn, ái vật, cải thiện dân sinh, làm cho đại đồng thiên hạ.
Muốn hiện tượng mục đích nầy thì chúng ta phải: hy sinh, can đản, khôn ngoan, sáng suốt, vững tâm, bền chí, nhẫn nại…
Trọng yếu hơn hết phải đạo đời tương đắc, đồng luyện trên con đường pháp chánh Quốc đạo Nam phong. Ngày giờ nào đạo không đời không sức; đời không đạo không quyền, thì dân tộc Việt Nam ta chưa đủ năng lực làm những giọt cam lồ thủy của đấng Thượng đế, đấng yêu thương, đấng nuôi dưỡng… đặng tưới tắt ngọn lữa chiến tranh đang lan rộng khắp toàn cầu, tiến đến văn minh hòa bình tự trị. Vậy pháp chánh Quốc đạo Nam phong từ trung, hiếu, nghĩa là con đường về với Đức chí tôn là chìa khóa cũng là cây cầu của nước thiên đàng.
Cho nên khi WTO bằng sản phẩm vật chất, vận hành trên thế giới phẳng đến Việt Nam thứ 150, duy có hình trạng hữu vi gọi là thế giới hữu hình, lấy vật chất làm căn bản. Bởi thế giới phẳng khi giao động được phân ra làm hai thế giới:
Thế giới hữu hình và thế giới vô hình
Cả hai thế giới vận động và phát triển tương tác và bổ sung cho nhau, mỗi một thế giới đều có lượt đi và lượt về của nó. Nếu có hữu mà thiếu vô, có đi mà không về sẽ thất pháp trở thành thế giới Shaytân (kẻ thù của con người) dẫn dắt nhơn loại vào vào địa ngục. Để phù hợp với tinh thần của nhơn loại hiện nay, đang vận hành còn ở tư thế lượt đi trên thế giới phẳng hữu hình. Đã có thiên thời, địa lợi, Việt Nam ta chỉ còn chờ cơ hội nhơn hòa, tiên phong phản hồi bổn thiện, hùng “Dũng” và cương quyết theo dấu chơn của những bậc tiền nhân, thắp sáng lên thành ngọn đuốc thiêng mang đậm bản sắc dân tộc, với lý tưởng cao cả thắng với danh nhơn nghĩa, mở cơ cứu thế giúp cho Cực Lạc thế giới ra thiệt tướng.
Việt Nam là điểm giao hợp của 149 nước nằm trên quỷ đạo toàn cầu WTO, hơn nữa pháp chánh truyền giáo hải ngoại (Đức Hộ Pháp hành pháp tại Campuchia năm 1927) đã giao trách nhiệm cho Hoa Kỳ từ đó. Pháp chánh Quốc đạo Nam phong là đường thẳng bán kính của thế giới phẳng WTO gọi là vũ trụ quang, một bằng chứng hữu vi năm 2006 Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam trong bộ quốc phục màu xanh, thuộc phái Thượng cầm pháp giáo hóa. Điểm cực dương từ O xuất phát đầu tiên, mang ký hiệu < nhỏ trong lớn hay thiếu trong đủ, coi chừng họ đi trước mà về sau.
Với Việt Nam, 150 là điểm cực âm của vũ trụ, nơi giao hợp, tích tụ, chứa đựng trí tuệ cả toàn cầu. Đúng vậy, một bằng chứng cùng nhịp với hội nghị APEC thứ 14 tại Việt Nam vừa qua, mà từ trước tới nay chưa nước nào hưởng đặng tinh thần hào phóng ấy. Nếu chúng ta không có phương pháp tận hưởng và sở dụng trí tuệ WTO cho khéo, tới đây ào ạt đổ vào nước ta mang theo cái tiềm ẩn họa và phúc, mạnh gấp trăm lần sóng thần 2004. Phải có niềm tin, khôn ngoan, sáng suốt là kho chí bửu còn ngoài ra là của bỏ là đồ vô giá. Cả dân tộc Việt Nam đồng luyện, nhận cái tinh ba của người để làm phương tiện, bắt cầu cho cái tìm năng của mình tiến đến toàn cầu hóa, về mặt tinh thần đạo đức nhơn nghĩa dẫn đầu thế giới.
Miền Bắc nước Việt Nam giải phóng giai cấp, tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 từ chủ nghĩa Tư bản bước lên chủ nghĩa Xã hội, năm 1946 lấy tên nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. Đến 30/4/1975 thống nhất đất nước, năm 1976 đổi tên nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”. Từ năm 1945 đến 2005 đã tròn một chu kỳ 60 năm xây dựng Chủ nghĩa Xã Hội. 2006 là năm đầu tiên của Xã Hội Chủ Nghĩa cơ hội, quả vậy chẳng những thế, Liên Hiệp Quốc còn chọn nước Việt Nam làm thí điểm về hiệp nhứt tư duy toàn cầu hóa, nhằm đem lại sự công bằng, văn minh, hạnh phúc cho cả toàn thế giới. Tương lai không xa, nếu bằng sản phẩm tinh thần đạo đức nhơn nghĩa trên hội nghị bàn tròn hòa bình thương nghị quốc tế, thì ngày ấy Việt Nam ta từ Xã Hội Chủ Nghĩa cơ hội tiến lên Cộng sản Chủ Nghĩa tinh thần dẫn đầu thế giới rồi đó vậy.
Đương nhiên, một khối cộng sản tinh thần chơn chính vô thần, có nghĩa phải vô nước Việt Nam nầy mới có thần. Muốn có thần, phải thi hành tam thiện; vô ba cửa gọi là tam vô, đúng với pháp chánh Quốc Đạo Nam Phong, đi từ:
1- cửa Nghĩa (thiện công).
2- cửa Hiếu (thiện đức).
3- cửa Trung (thiện ngôn).
Bởi vì Tam kỳ Phổ Độ, đấng chủ tể của vũ trụ đem một nền chơn đạo, một đại gia đình thiêng liêng tại mặt thế gian nầy, chọn nước Việt Nam làm thánh địa, Đền thánh Tây Ninh là tổ đình, nơi dành cho các tông đường phản hồi bổn thiện. Cái hạnh phúc đạo đời tương đắc ấy chưa bao giờ có ai ngờ tới, hơn nữa cả thế giới còn tôn tặng Việt Nam ta là ân nhân của họ nữa kìa.
Thế thì ngay từ bây giờ chúng ta phải làm gì?
1- Để tránh khỏi bị thể xác tức đời khống chế về trí tuệ vật chất. Chúng ta tự làm bí pháp có nghĩa tin nhau làm với nhau, hãy đại hùng, đại lực, đại từ bi…hy sinh cái nhỏ của ta để đạt cái lớn toàn cầu. Lập thành một hệ thống có tổ chức… dùng sản phẩm vật chất của ta và của WTO, đặt vào vị trí “thương hiệu” làm phương tiện cho sản phẩm tinh thần “Pháp chánh Quốc đạo Nam phong”, bắt đầu từ luật hườn kỳ dẫn dắt 149 nước làm căn bản cho cả toàn thế giới, độ sanh thiên hạ thi hành nhơn nghĩa tiến đến đại đồng. Với tư thế trung dung, Việt Nam ta “bất chiến về vật chất” mà có kết quả biểu lộ “tự nhiên thành” về mặt tinh thần. Bằng luật hườn kỳ, với tư thế chủ động và tích cực hiện đại hóa toàn cầu; Việt Nam là trung tâm của toàn thế giới, là biển thánh xoa dịu quạt nồng ấm lạnh, lo việc nước lớn, nước ròng chan hòa thương yêu và công bằng trường lưu khắp sông, suối, kênh rạch… Trên mặt địa cầu nầy, nơi đâu còn khô cạn và khổ não của tâm hồn, thì tự nhiên có những giọt cam lồ thủy từ biển thánh sẽ đến chia xẻ và yên ủi. Cho nên ta đi sau mà về trước, còn họ đi trước mà về sau chắc hẳn vậy.
Luật hành kỳ của 149 nước phải vận hành theo quỷ đạo WTO, còn có sự biến đổi trạng thái tùy thuộc bởi thời gian trong không gian mất mấy mươi năm. Đến Việt Nam thứ 150, là điểm giao hợp đặng phát khởi hườn kỳ trở về O như lúc ban đầu. Đã gọi nghịch hành, thì đương nhiên Việt Nam không tùng theo một quỷ đạo nào của WTO, là gì WTO không có cái mà ta đã có. Lượt trở về đi tắc bằng con đường Pháp chánh sản phẩm tinh thần nhơn nghĩa, dìu dắt thiên hạ thẳng đến thế giới Cực Lạc. Luật Hườn kỳ mang ký hiệu > lớn trong nhỏ hay đủ trong thiếu, tiến đến toàn cầu hóa thương yêu và công chánh.
Thử tưởng tượng, nước Việt Nam là một đại gia đình thiêng liêng thật sự, tạo mọi điều kiện thuận lợi như: hàng không, thắng cảnh du lịch, khách sạn, ngân hàng, giải trí… cả nước vui mừng không tỏa, chờ đợi bạn đồng sanh khắp nơi trở về vùng thánh địa Cực Lạc quốc của họ.
2- Sử dụng pháp chánh Quốc Đạo Nam Phong làm chủ lực, đem sản phẩm tinh thần nầy phổ truyền lên WTO cho cả nhơn loại thưởng thức, thối thúc tinh thần sống lụng lại nhớ chuyện ngày xưa mà tìm đường trở về quê củ nước thiên đàng tại thế, Hồi giáo gọi là thế giới vô hình Barzakh.
“Cỏi thiên cảnh tục cũng đường chung nhau”.
Cũng không khác nổi hoài vọng một tình thương thiêng liêng ruột thịt, của những đứa trẻ cô nhi cao cả biết bao, nó có thể đánh đổi cả sanh mạng của nó chỉ cần gặp tận mặt cha mẹ sanh ra nó, là đức vua của ngày phán cuối cùng.
Thời tiểu phong thần, khi tàn trận Vạn tiên (dứt chiến tranh) Đức Hồng quân Lão tổ đến giảng hòa, lấy trong tay áo ra ba hoàn thuốc (tam bửu) chia cho ba người: Lão tử, Ngươn thủy, Thông thiên, mà bảo rằng: ba ngươi hãy uống viên thuốc ấy rồi ta sẽ giải cho nghe, ba vị vâng lời uống thuốc. Đức Hồng quân ngâm bài thi:
Bởi vì ba gã khiến đua tranh,
Lỗi phận làm em lỗi phận anh.
Từ ấy còn mong lòng cự địch,
Thuốc linh khắc phạt mạng tan tành.
Ba vị nghe, rồi đồng tạ ơn thầy có lòng thương mà giải hòa. Ngày giờ nầy trận đại phong thần (đại thánh chiến) đang tái diễn giữa các tôn giáo tương tranh, nhứt là tinh thần của Hồi giáo và Công giáo, thì lẽ đương nhiên cũng có đời trong ấy. Duy có đấng chủ tể (Rabb) linh hồn của họ đến giải hòa được họ mà thôi, ngoài ra không có một tinh thần nào, một lực lượng nào, thúc phược và chế ngự điểm linh tâm của họ đặng, chắc hẳn vậy! Thử không tin chúng ta cứ để mắt nhìn coi. Nhưng cơ đạo chuyển trễ một ngày thì hại nhơn sanh biết bao nhiêu, Việt Nam ta có phần lỗi đó vậy, bởi Chí Tôn đã chọn dân tộc Việt Nam làm thánh thể của Ngài đặng làm cơ quan cứu thế, đem hoàn thuốc cứu sanh toàn thiên hạ.
Cái thế bí của bàn cờ chiến tranh mượn danh nghĩa tôn giáo đang trãi ngửa ra tại mặt thế gian nầy, một đàng muốn tiến thì sợ sụp hầm, một đàng muốn lùi thì sợ hao binh. Chờ cho họ mệt lã người rồi hãy vào giải hòa, vậy chúng ta là người ơn. Coi chừng họ còn khẻo sức chưa chịu thôi, mình vội nhảy vào, hai đàng đánh mình; họ nghi ngờ mình binh người nầy bỏ người kia, thành ra làm ơn mắc oán là vậy, cách tốt nhất chờ khi nào thế giới đứng bên bờ hố lửa chiến tranh, họ có ý yêu cầu mình mới có giá trị. Vậy ngay từ bây giờ chúng ta chuẩn bị tư thế làm người giải hòa đi là vừa, để lúc đó không khỏi ái ngại, ngập ngừng, sợ sệt… khi ra trận, quả quyết không ai ngoài Việt Nam ta.
Hiện nay kể cả Hội đồng Liên Hiệp Quốc; ban nghiên cứu chiến tranh IRAC của Hoa kỳ; các bình luận gia về sự kiện và chính trị thế giới; đại diện của các nhà tôn giáo đều khẳn định:
1- Không thể dùng vũ lực để giải quyết chiến tranh.
- Dùng vũ lực tức tinh thần của thể pháp tức đời, chỉ được sử dụng ở giai đoạn sơ khai gọi là mặt trận hình thức đã là quá khứ. Lấy sức mạnh hữu hình làm căn bản, không thể thu tâm thiên hạ đặng.
- Thế kỷ 21, tinh thần của nhơn loại đã chuyển sang mặt trận trí thức, đặng tiến đến toàn cầu hóa trên tinh thần đạo đức phụng sự vạn linh, thắng với danh nhơn nghĩa hiệp lại đại đồng. Bằng phương giáo hóa độ sanh lấy chơn pháp của đạo làm căn bản, thuộc về tương lai, giúp cho con người hòa đồng với con người, lấy vị tha bác ái và công bằng làm mực thước đức độ hầu tự điều chỉnh tư tưởng và hành động, để hướng về ánh sáng trọn lành của đấng Chí tôn rọi chiếu mà đạt phẩm vị hằng sống gọi rằng trí huệ. Thế nên WTO phải theo ta, lần bước nhờ chơn pháp mà đoạt đặng lãnh vực hoàn nguyên của cơ tạo hóa.
2- Không thể lấy thế độ để giải quyết chiến tranh, gián tiếp sẽ làm cho nạn đại thánh chiến càng lan rộng khắp toàn cầu (lời của trùm khủng bố qua video thông tin mật, đã được phổ biến trên tin thế giới đài truyền hình Việt Nam 2006).
- Ý nói, thế độ là thể pháp thuộc về cơ quan cứu khổ, lấy vạn linh đặng phụng sự vạn linh, bằng hữu tự kinh. Sở dụng thế độ, có nghĩa anh em không đủ tư cách đứng ra hòa giải bên bờ hố lửa chiến tranh.
- Chỉ có thiên độ, chính đấng Thượng đế, đấng cha lành mới đủ quyền thay trời tại thế đến giải hòa họ được mà thôi.
Chúng ta bất quá là cái máy của Đức Chí Tôn, mạnh yếu do nơi người điều khiển, là những con kỵ vật làm phương tiện cho Ngài xử dụng cơ thể huyết khí hữu hình, đặng dễ bề mở cơ cứu thế. Cho nên mới nói thiên sứ là thánh thể của Đức Chí Tôn, là những sứ giả vâng mạng lịnh nơi đấng cha lành xuống thế thi hành phận sự. Đó là những đấng Thánh đang cầm quyền trị thế thời nay trên toàn cầu nầy vậy.
Đến thời cơ, Chí Tôn phân định chư vị đó sẽ xuất hiện.
Mong Thủ tướng Chính phủ, tạo những điều kiện thuận lợi cho dân Việt có dịp hoàn thành sứ mạng tối trọng của Việt Nam ta. Tôi rất hãnh diện, chờ đợi vài trang viết góp ý chân tình vào bao thư của Ngài đến tận tay tôi.
Chúc Ngài sức khẻo tốt và hưởng trọn một mùa xuân hạnh phúc, chào thân ái!
Tây Ninh, ngày 28-12-2006
Tín đồ Đạo Tâm
Ký tên
Võ Hồng Thọ
GÓP Ý SỬA ĐỔI TÊN NƯỚC VIỆT NAM
1- “Buổi trưa ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, trong cuộc mitting của trên 50 vạn nhân dân Hà Nội và vùng lân cận chào mừng chính phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản tuyên ngôn độc lập tuyên bố với nhân dân Việt Nam và thế giới rằng: nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra đời. Bản tuyên ngôn độc lập khẳng định:
“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng. Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do… Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập! …. Nước Việt Nam có quyền đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”
2- “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần 2 đưa ra phương án trở lại cách đặt tên nước Bác Hồ đã đặt trước đây là tôn trọng lịch sử và tôn trọng thực tiễn nguyện vọng quần chúng. Tôi cảm thấy dường như đông đảo người dân cũng mong muốn tên nước đó” – ông Hãn nhấn mạnh.
Trở lại lần đổi tên nước thành Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 1976), GS. Lê Mậu Hãn cho rằng, đó là vì bối cảnh cả nước trong tư tưởng tiến nhanh, tiến mạnh lên CNXH.
Ông Hãn nhấn mạnh, tư tưởng xây dựng CNXH trong suốt lịch sử cách mạng của đất nước vẫn giữ nguyên như Bác Hồ từng nói. Nhưng con đường đó còn rất lâu dài. Và việc giữ tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không có gì gọi là rời xa khuynh hướng XHCN.
“Chế độ Cộng hòa Dân chủ đã được người dân đón nhận, tôn trọng, người dân sẽ bảo vệ đến cùng – như đã bảo vệ nhà nước do Cụ Hồ sáng lập, đi theo từ những ngày đầu, đã đấu tranh và chấp nhận hi sinh cả tài sản, tính mạng… để bảo vệ. Vậy nên phải dựa vào nguyện vọng toàn dân, đáp ứng cho đúng, bởi điểm nào thuyết phục thì người dân sẽ theo” – ông Hãn lập luận.
Vị GS Sử học cũng bày tỏ tiếp: “Tôi thấy các đại biểu Quốc hội và bản thân cũng cảm nhận được nguyện vọng tha thiết của quần chúng làm thế nào có một xã hội ổn định. Và trong điều kiện này, trở lại cái tên vẫn đang có giá trị thực tiễn là đúng đắn. Khi căn cứ hiện thực là mức độ phát triển đã đạt đến XHCN chưa có, đặt lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ phù hợp thực tiễn. Đó sẽ là bàn đạp để cả dân tộc tiến lên”.
3- Ý kiến của tín đồ quèn Bí pháp cung Hạo Nhiên Pháp Thiên, đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh:
Bác Hồ lấy tên nước là “ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. Ý của Bác muốn tôn tặng, ca ngợi toàn thể dân tộc Việt Nam biết “cộng yêu hòa ái, “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” trên tinh thần đại nghĩa tự chủ, tự quyết, tự định vận mạng đất nước Việt Nam 4000 năm văn hiến của mình đặng trở mặt ra xứng danh là con Hồng cháu Lạc “Vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ nước”. Ngày 2-9-1945 cho thế giới biết rõ rằng, một dân tộc Việt Nam anh hùng đã thống nhất quân dân trên dưới một lòng sẵn sàng hy sinh, can đảm, vững tâm, bền chí, nhẫn nại, làm chủ đất nước của mình giải phóng giai cấp; thoát ách nô lệ ngoại bang, đoạt lại quyền độc lập, tự do, hạnh phúc, do dân, vì dân, bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam thiêng liêng.
Bác tin tưởng và mạnh dạn giao phó trọn vẹn cái vận mạng đất nước Việt Nam, cho toàn dân Việt Nam làm chủ. Quả thật, thắng lợi ngày 2-9-1945 không phụ lòng phó thác quyền dân chủ tự quyết của Bác, cái khéo của Bác đã gián tiếp làm động lực rạng danh một dân tộc Việt Nam anh hùng “thành công, thành công, đại thành công”.
Xứng đáng tên nước mà Bác đã định “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” bất diệt.
1- Ngày 30-4-1975 thống nhất đất nước, đến năm 1976 đổi tên nước thành “ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
- Xã Hội Chủ Nghĩa
Sau ngày 2-9-1945, với tư cách là một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, vẫn xây dựng và phát triển theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhưng đặc biệt ở giai đoạn nầy, định hướng XHCN ở miền Bắc hy sinh cái nhỏ mà lo việc lớn vào việc giải phóng giai cấp thống trị tư bản ở miền Nam.
Thống nhất đất nước 1975, một năm sau đổi tên nước là “ Cộng Hòa XHCN Việt Nam” nhằm mục đích hiệp nhứt tư duy toàn quốc cùng chung vận động và phát triển XHCN. Trong khi miền Bắc đã 30 năm trên con đường xây dựng XHCN trước miền Nam, thử hỏi miền Nam theo kịp không? Trung ương đã sáng suốt biết cân phân tinh thần và năng lực của 2 miền Nam Bắc, không gấp rút lật đật, cũng không muốn cho miền Nam tiến nhanh tiến mạnh đi tắc rút ngắn 30 năm của miền Bắc đâu. Bởi vì tiến trình phát triển XHCN của miền Nam có cái ưu thế thừa hưởng cái gia sản vật chất của tư bản chủ nghĩa để lại, mà 30 năm miền Bắc không hề tạo được; hơn nữa trí tuệ của miền Nam phong phú và sâu sắc đồng bộ hơn nhiều… chỉ cần lọc thô lấy tinh, thì con đường xây dựng XHCN cả nước từng bước nhịp nhàn phát triển, theo kịp đàn anh trên toàn thế giới, một bằng chứng khách quan quốc tế đã tôn tặng nước Việt Nam ta rồi còn gì.
- Từ lâu, Trung ương ta đề ra “định hướng XHCN”. Theo tôi hiểu, từ năm 1975 vị trí cố định cả nước là XHCN đến nay đã 38 năm rồi, thế thì hể nói định hướng XHCN phải nhắm đến mục tiêu, điểm đích đến cuối cùng của nó sau khi thành công XHCN là Cộng Sản Chủ Nghĩa, mới đúng với triết học Mác Lênin.
- Nếu nói, định hướng XHCN qua nhiều mặt… để tiến đến thành công XHCN thì đúng vậy.
Đó là con đường xây dựng XHCN của nước “Cộng Hòa XHCN Việt Nam” ta.
- Cộng Sản Chủ Nghĩa
Ngày giờ nào nước “Cộng Hòa XHCN Việt Nam” thành, thì ngày ấy bước sang Cộng Sản Chủ Nghĩa rồi đó vậy. Chắc chắn lúc ấy Trung ương cũng phải đổi tên nước cho phù hợp với tinh thần tư duy và phát triển của một dân tộc có đủ tri thức và quyền tự quyết chuyển sang Cộng Sản Chủ Nghĩa, ví như đổi tên nước là “ Cộng Hòa Cộng Sản Chủ Nghĩa Việt Nam”. Nếu không đổi, chẳng lẽ nước Việt Nam chúng ta mãi dậm chân XHCN hay sao? Hể đứng chựng là thoái bộ, phải đổi chớ!
Thôi thì ngay từ bây giờ, chúng ta phục hồi tên nước “Cộng Hòa XHCN Việt Nam” là nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” cho nó sống lại cái thời nguyên thủy cộng yêu hòa ái 2-9-1945, giao trọn cái vận mạng đất nước Việt nam cho dân tộc Việt Nam làm chủ như Bác Hồ đã làm. Gần đây, Ngài TBT Nguyễn Phú Trọng cũng theo gương Bác, dám giao cái vận mạng đất nước cho dân tức giao cái sứ mạng bảo vệ và xây dựng tổ quốc: do dân, vì dân, lắng nghe dân, học nơi dân, làm theo nguyện vọng của dân…
Nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” trường tồn, mãi vận hành trên con đường định hướng XHCN để tiến đến CSCN. Được vậy, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chúng ta, không bị ảnh hưởng hay gặp một trở ngại nào, theo thời gian trong không gian trên con đường phát triển đối nội hay đối ngoại, dù ở giai đoạn XHCN hay CSCN. Dầu thành hay chưa thành XHCN hoặc CSCN, nó vẫn mãi là một nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” anh hùng, đại nghĩa, ngàn đời bất diệt.
Tòa Thánh Tây Ninh, ngày 11-10-2013
TM. Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên
Tín đồ quèn
Ký tên
Võ Hồng Thọ
(Đồ Phi)