TAM ĐIỂM ĐỜI SAU
Trong Đạo Cao Đài
Sự tương liên và hiệp một, giữa Bí pháp chơn truyền của Đạo Khổng Phu Tử và Hội kín Tam điểm, có sự đồng thuận về mặt tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, và sự vận hành chuyển luân từ trong ra ngoài rồi từ ngoài chuyển vào trong, từ nhỏ thành lớn rồi từ lớn quy pháp trở lại nhỏ đặng ẩn tích mai danh. Bí Pháp vận hành, bắt đầu lượt đi từ nhứt bổn (Thái cực) tán vạn thù (thế giới), rồi lượt về từ vạn thù (thế giới) quy nhứt bổn (Thái cực), nhưng về mặt hình thức thì khác hẳn nhau. Hội Tam Điểm là một tổ chức bí mật không ai biết rõ ai, đó là cái bản chất tự nhiên để sinh tồn, nhưng lại nắm quyền lực cao nhứt trên toàn thế giới, nước nào cũng có người Tam Điểm, kể cả Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.
Trên hoàn cầu này, muốn chiến tranh hay hòa bình cũng do thế giới Tam Điểm muốn cùng chẳng muốn. Còn với Đạo Khổng thì quy ẩn vui thú điền viên, bất chiến tự nhiên thành, lấy trí làm căn bản, họ chờ thời cơ chín mùi mới xuất hiện làm anh hùng đặng tạo thời chuyển thế hay thời thế tạo anh hùng. Sự vận hành của Bí pháp Đạo Nho và Bí pháp Tam Điểm còn gọi là Hội kín Tam Điểm giống in nhau, giúp cho chúng ta dễ dàng nhận diện cái nguồn gốc về mặt tinh thần của Hội Tam Điểm và sự biến tướng của HTĐ thoạt hiện thoạt ẩn, để sinh tồn vừa cô lập không cho đối phương biết mình đặng vi chủ tinh thần, chuyển pháp cho ra thiệt tướng một thế giới mới đại đồng: Tự do, Bác ái và Công bằng.
BÍ PHÁP ĐẠO NHO
Bí pháp chơn truyền của Đạo Nho, phát khởi từ điểm ban đầu là THÁI CỰC sanh LƯỠNG NGHI tỏa ra TỨ TƯỢNG định hình BÁT QUÁI, có Bát quái mới sanh vạn vật tạo càn khôn thế giới.
Pháp chánh Đạo Nho của Khổng Phu Tử phát xuất đầu tiên là ngôi Thái Cực tức khối LỬA vật chất tạo nên vũ trụ, mà Khổng Phu Tử gọi là nhứt Đại hay nhứt Thiên, khoa học gọi Định tinh, con người gọi mặt trời là chúa tể của sự sáng thật tức Thượng đế của thế giới vật chất.
1- Thái Cực: từ Thái Cực trung tâm (1 dương tức LỬA) sanh Lưỡng nghi (2 âm: KHÍ và NƯỚC). Trên biểu đồ Bí pháp Đạo Nho: Thái Cực sanh Lưỡng Nghi chúng ta được 1 bộ cập 3: LỬA > KHÍ > NƯỚC.
2- Lưỡng Nghi: Lưỡng Nghi âm (2 âm) tiến hóa thành Lưỡng Nghi dương (2 dương: khối LỬA KHÍ và khối LỬA NƯỚC), đặng tỏa ra Tứ Tượng (4 âm: LỬA+KHÍ+NƯỚC > ĐẤT). Như vậy ở giai đoạn nầy Tứ Tượng đã phát triển và định vị cho mình nhân gấp đôi từ buổi ban đầu của ngôi Thái Cực (1 dương) sanh Lưỡng Nghi (2 âm). Chúng ta được 2 bộ cập 3: LỬA+KHÍ+NƯỚC > ĐẤT trên biểu đồ từ Lưỡng Nghi tỏa ra Tứ Tượng.
3- Tứ Tượng: đến Tứ Tượng âm (4 âm) cũng phải vận hành thoát thai tấn hóa từ Bí pháp thay cũ đổi mới âm thành dương, từ trò làm thầy đặng thay thầy làm thầy là Tứ Tượng dương (4 dương: LỬA+KHÍ+NƯỚC tại ĐẤT) vậy trong ĐẤT đã có sẵn NƯỚC, KHÍ và LỬA để chủ động thống nhất mà định hình Bát Quái (8 âm tức 8 đẳng cấp tinh thần trong thế giới vật chất vận động và phát triển từ: VẬT CHẤT > THẢO MỘC > THÚ CẦM > CON NGƯỜI > THẦN > THÁNH > TIÊN > PHẬT mà đấng vi chủ là TRỜI (Nhứt Đại; với HTĐ gọi là Đại Đạo Sư của Vũ Trụ). Trên biểu đồ chúng ta được 4 bộ cập 3:của Tứ Tượng dương là LỬA+KHÍ+NƯỚC tại ĐẤT đặng tạo thành Bát Quái.
4- Bát Quái: Pháp chánh truyền bất di bất dịch từ ngôi LỬA Thái cực chỉ có tế bào dương mà thôi, LỬA thuộc dương ấy nam, dương thịnh tắc sanh, âm thịnh tắc tử. Thế nên Bát Quái âm (8 âm) phải phi phàm thoát tục tức một khối bác ái công bằng tạo sanh vạn vật, gồm tám phẩm chơn hồn xuất phát từ: vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, nhơn hồn, thần hồn, thánh hồn, tiên hồn, phật hồn cùng nhau tấn hóa chung lộn trên mặt quả địa cầu nầy mà thôi. Nói chung thế giới vật chất hữu hình nầy, đều do 3 tính chất của khối nguyên tử khí là LỬA, KHÍ và NƯỚC hiệp tại ĐẤT mà sanh hóa và xuất hiện sở hành về mặt tinh thần đạo đức nhơn nghĩa đoạt đặng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, cao nhứt là thay Trời tại thế, nhằm mục đích phụng sự vạn linh trong quy luật tự nhiên thể theo tánh đức của Mặt Trời là một khối Thương yêu và công bằng bất diệt.
Khi đến Bát quái tạo sanh vạn vật, thì thế giới vật chất có hằng hà sa số cập 3: NƯỚC, KHÍ, LỬA và ĐẤT. Do đó thế giới vật chất NƯỚC, LỬA, KHÔNG KHÍ tại ĐẤT mãi hằng hữu trong cái bí pháp thay cũ đổi mới, tự thân vận động theo quy luật tự nhiên của mỗi tế bào và phát triển trong từ trường phụng sự tồn tại thống nhất không ngừng, mà đấng vi chủ là ngôi THÁI CỰC khối Định tinh tỏa sáng tức Mặt trời trên đầu của chúng ta. Ấy là đấng yêu thương, đấng Tạo hóa và là Thượng đế chúa tể của thế giới vật chất, đạo Nho gọi là đấng nhứt Đại. Hội Tam Điểm tôn tặng đấng chủ tể ấy là vị Đại Đạo Sư HIRAM của Vũ Trụ (M) tức ông thầy về tinh thần đạo đức của toàn thể nhơn loại tại mặt địa cầu nầy. Đức Khổng Phu Tử và Hội Tam Điểm muốn mượn cái tánh đức đại bi đại ái ấy, phụng sự vạn linh, bao dung của Mặt trời đặng cầm quyền chuyển thế và giác thế đó vậy.
BÍ PHÁP TAM ĐIỂM
Thế giới Tam Điểm còn gọi là Hội Kín Tam Điểm cũng vận hành như Đạo Nho, phát xuất từ:
1- Thái Cực: Ngôi Thái Cực tức ông Thầy đầu tiên của loài người, đấng ấy đã hóa độ khai sinh ra 01 Hội Tam Điểm đầu tiên trên thế giới, đấng ấy là đấng đầu tiên tương liên và hiệp một cùng khối thương yêu, khối Đại linh quang, tức khối lửa mặt trời ở trên đầu chúng ta. Thay tánh đức của Trời mà làm ông trời tại thế để phụng sự toàn thể vạn linh là vị Đại Sư Vũ Trụ, dạy nhơn loại phải yêu thương nhau thi hành nhơn nghĩa tiến đến đại đồng thiên hạ.
Do nơi ngôi Thái Cực theo thời gian truyền mật pháp, Đại sư đã tuyển được 02 vị trong ban hội đã xuất pháp thân phát tiết chơn khí xuất sắc vào hàng Thợ đi từ Tập nghề vừa ý của Ngài muốn. Được lãnh sứ mạng thay ông cai quản cả ban hội lo về vật chất lẫn tinh thần và độ dẫn người ngoài vào hội, mở rộng địa bàn ngày càng phát triển. Sở hành của 02 người thợ đã minh chứng công bằng trước mắt anh em, được Đại sư nhìn nhận thay Thầy để làm Thầy kế nghiệp đời sau, thường gọi là sư huynh đó vậy. Thế là Thái cực Đại Đạo sư (M) đã hóa thân sanh Lưỡng Nghi tạo được 2 Thầy (M’), đặng giáo hóa cho đàn hậu tấn đời sau. Từ lúc ban sơ Đại sư đã đào tạo và vi chủ 2 ban Hội Tam Điểm (Đại Sư:M – Thợ:F.M – Tập nghề:F), bí pháp chơn truyền HTĐ ngày càng nhân rộng ra.
2- Lưỡng Nghi: rồi từ Lưỡng Nghi: 2 ban hội Tam Điểm (Đại Sư:M – Thợ:F.M – Tập nghề:F) tỏa ra Tứ Tượng, từ bí pháp chơn truyền nhân đôi được 4 ban HTĐ (Đại Sư:M – Thầy:M – Thợ:F.M – Tập nghề:F) đời trước và xuất hiện đời sau (Đại Sư:M – Thầy:M – Thợ: F.M – Tập nghề:F).
3- Tứ Tượng: Đến Tứ Tượng theo thời gian trong không gian vận chuyển định hình Bát quái, tạo hóa được 8 Thầy (M) từ tay thợ giỏi (F.M) lãnh sứ mạng vi chủ 8 ban HTĐ. Mỗi một vòng tiến hóa cần phải vận hành trở lại như lúc ban đầu từ vị Đại Sư, theo đường xoáy ốc để lộc thô lấy tinh, nhằm mục đích bảo thủ chơn truyền không cho loạn pháp (Đại Sư:M – Thầy: M – Thợ:F.M – Tập nghề: F). Vận hành đến giai đoạn Tứ tượng đã thành hình một bộ 3 thuộc hàng lãnh đạo ưu tú đủ sức cầm giềng cơ nghiệp. Hội Tam Điểm đã trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm vẫn mãi sở dụng bí pháp chơn truyền từ gốc vị Đại sư HIRAM (M) đầu tiên, tiền tấn hậu kế, trụ nghĩa hóa thân mà nhân giống đặng trường tồn.
4- Bát Quái: Thời kỳ hưng thịnh của Hội Tam Điểm bắt đầu ở Anh quốc năm 1717 là giai đoạn Bát Quái cầm quyền thống nhất thể thiên hành hóa thay trời trị hồn, mới đủ năng lực và tinh thần tạo sanh vạn vật, lập nên vũ trụ. Từ ấy thế giới Tam Điểm có mặt khắp hoàn cầu và đang cầm quyền trị thế thời nay, mà vị đứng đầu phán xử trong khuôn luật “Tự do, Công bằng, Bác ái”. Từ buổi sơ khai là khối Lửa Thái Cực Đại Sư HIRAM (M), sanh Lưỡng Nghi (F.M), tỏa ra Tứ Tượng (F), định hình Bát Quái giúp cho nhơn loại tấn hóa và sinh tồn trong tinh thần quy Pháp “Tự do, bác ái, công bằng” của thế giới Tam Điểm là đấng Đại Sư Vũ Trụ HIRAM (M) duy chỉ có một mà thôi.
Mặt trận trí thức có liên quan đến Hội Tam Điểm Việt Nam thời Pháp thuộc.
Không thể nhìn dân tộc Việt trở thành nô lệ, tôi đòi cho đế quốc Pháp, cũng không thể để cho tổ quốc ngàn đời lâm vào cảnh tương tàn, khống chế của ngoại bang. Những bậc anh hào tuấn kiệt yêu nước đoàn kết thống nhứt tìm những giải pháp để thoát ách đô hộ của người Pháp, nhằm để xoa dịu tình thế lúc bấy giờ buộc phải mượn quyền của họ chờ cơ hội lấy lại chủ quyền tự quyết của dân tộc. Cho nên có một số chí sĩ tìm đường cứu nước tình nguyện gia nhập vào Hội Tam Điểm do người Pháp lãnh đạo.
Khi “Triều đình Huế, vua Thành Thái (1889-1907) bị phế (3-9-1907), vua Duy Tân (1907-1916) lên kế vị (8/9/1907), nhưng Ngài từ bỏ ngôi vị, hợp tác với Trần Cao Vân chống Pháp và bị bắt (6/5/1916).
Cái chí khí kiêu hùng và bất khuất của vị vua 17 tuổi, nung thêm chí căm hờn ngoại chủng của nhà yêu nước Phạm Công Tắc. Với khí thế tuổi trẻ, Ngài muốn đứng lên phá tan xiềng xích nô lệ, để đòi lấy quyền sống và giải thoát gông cùm chế ngự giống nòi. Nhưng tuổi nhỏ, Ngài đành chấp nhận hoàn cảnh, gia nhập phong trào Đông Du năm 1907, khi vua Duy Tân nối ngôi, để mong học hỏi kinh nghiệm tranh đấu của nước ngoài trở về giúp nước.
Phong trào Đông Du (1904-1907) do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Minh chủ và hai nhà cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xướng để nâng cao dân trí, bằng cách gởi các thanh niên du học ngoại quốc nhất là Nhật Bản.
Tại sài Gòn phong trào Đông Du do hai ông Gilbert Chiếu (Tức Trần Chánh Chiếu) và Dương Khắc Ninh lãnh đạo. Các ông thành lập các kinh thương hội như "Minh Tân công nghệ" và khách sạn "Nam Trung" làm nơi lưu trú hội họp cho đảng viên. Ngài Phạm Công Tắc dù đang theo học năm thứ hai trường Chasseloup Laubat cũng lén bỏ học đến họp với anh em.
Hai ông Gilbert Chiếu và Dương Khắc Ninh tập hợp các đảng viên chia nhiều nhóm để xuất dương. Ba nhóm đã sang tới Nhật, Ngài Phạm Công Tắc được ghi tên vào nhóm thứ tư. Lòng mừng như mở hội, mộng hải hồ tìm đường cứu nước đã nung nấu tinh thần bấy lâu nay, Ngài tạm xếp bút nghiên chuẩn bị hành trang sẵn sàng chờ ngày lên đường. Đùng một tiếng, phong trào bị khám phá. Mật thám đến tra xét cơ sở Minh Tân công nghệ. Ông Dương Khắc Ninh đã lẹ tay hành động, tiêu hủy tất cả hồ sơ và tài liệu nên đều được an toàn. Tuy nhiên, mật thám vẫn chú ý, luôn theo dõi, dò xét các nhà lãnh đạo và chính Ông Phạm Công Tắc cũng bị chúng để ý và nhà trường lưu tâm. Buộc lòng Ngài phải nghỉ học về làng An Hòa (Tây Ninh) tạm tránh sự dòm ngó của mật thám Pháp.
Khi tình hình êm dịu, Ông Phạm công Tắc lại lao vào trường tranh đấu. Lần này Ngài hoạt động cẩn thận hơn, rồi tham gia viết báo như: Công luận, La Cloche fêlée (Chuông rè) của Nguyễn An Ninh, La voielibre … Tiếng nói tự do), Nông cổ Mín đàm, Lục Tỉnh Tân văn (Tờ Lục Tỉnh Tân văn của ông Pierre Jeantet, ông Gilbert Chiếu làm chủ bút). Ngài cộng tác thường xuyên với tờ này vì là đồng chí. Hơn nữa, ông Chiếu ngấm ngầm làm cơ quan tuyên truyền chống Pháp và kích động lòng yêu nước của nhân dân rất đắc lực. Các bài "Thượng bất chánh, hạ tắc loạn" (đăng ngày 12/12/1907), bài "Dân tộc đoàn kết và thời đàm" (đăng ngày 23/1/1908) là những lời thẳng thắng cảnh cáo nhà cầm quyền Pháp. Khi ông Chiếu bị bắt, tờ báo đình bản, Ngài lại về quê.
Vì ảnh hưởng cách mạng và các Tiên Vương, về sau, Ngài lập Báo Quốc Từ, bôn ba sang Nhật rước tro Cường Để, về Sài Gòn rước linh vị Thành Thái và Duy Tân đem thờ nơi Báo Quốc Từ (Gần chợ Long Hoa).
Ngoài ra cơ quan thông tin Cao Đài sưu tầm và phổ biến các hình ảnh Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học … Tất cả sự việc đó để tấm lòng nuôi dưỡng ý chí các liệt sĩ bất khuất và di dưỡng vang bóng một thời của tuổi trẻ hào hùng.
Âu cũng là thiên thơ tiền định, mộng Đông Du không thành, bạn bè cùng chí hướng mỗi người một ngã, Ngài chẳng lẽ ngồi đây nhìn quê hương mỗi ngày thêm tan nát, hay chỉ biết làm bạn cùng cây cỏ gió trăng.
Đêm rằm tháng giêng năm Đinh Mùi, Ngài nhìn vầng trăng hư ảo mà khẽ ngâm bài "Nhân nguyệt vấn đáp", rồi tâm thần dần dần tê mê theo cơn gió nhẹ ru. Khi mở mắt ra Ngài đã lạc đến Thiên cung, rất có lợi cho cuộc đời hành Đạo của Ngài sau này.”
Phục sinh hồn nước
“Ngài Phạm công Tắc có một nỗi băn khoăn lớn lao là tầm Đạo để giải thoát cho cả loài người xa nơi biển khổ. Ngài sinh ra trong một gia đình Công Giáo, nhưng Đạo cứu thế với lòng bác ái của Đức Jêsus chưa chiếm hết lòng tin của Ngài. Ngài có óc phán đoán và nhận thấy rằng Đạo Phật khuyên người từ bi hỉ xả; Đạo Lão đặt nền tảng dưỡng tính tồn chân; Đạo Khổng dìu dắt người trên con đường trung dung, dầu có những ưu điểm nhưng chưa thấy có cùng chung cội nguồn. Vì vậy Ngài muốn tổng hợp cả bốn Đạo lớn hiện có trên thế gian, và hòa hợp giữa hai nền văn minh Đông Tây. Tất cả các vị Tổ sư của các môn phái đều hướng tư tưởng về một điểm chung: thiện và mỹ. Như vậy, tư tưởng đó rất có thể hợp nhất được.
Để đạt mục đích trên, Ngài cùng mấy người bạn thân nghiên cứu và so sánh đối chiếu những Giáo lý của bốn Đạo. Một nhận xét chung được nêu lên: cứu cánh chỉ có một, còn phương tiện khác nhau, và một hoài bảo chung được phát biểu; kết tinh cả bốn Đạo thành một Đạo lớn duy nhất cả về tín ngưỡng lẫn phương tiện thực hành.
Nhưng phải thuyết trình và hành động như thế nào cho sự hiệp nhứt nầy?
Khi đó, đại úy P. Monet (Thần linh học), một người bạn của Ngài Phạm Công Tắc ở Pháp sang. Ông là một con đồng vẫn thường ngồi cảm thông với các Thần linh trong các cuộc giáng thần. Ông rất chú ý đến sự nghiên cứu của nhóm Ngài, nhưng ông cũng không quan niệm nổi là có thể tổng hợp những phương tiện thực hành của các Đạo. Ông khuyên nên cầu xin các Đấng Thần linh chỉ giáo. Và một đàn cơ được tổ chức. Những lời khuyên của Đấng Thần linh sau đây đã cho Ngài cái chìa khóa mở cửa bí mật để thông hiểu vấn đề khó khăn huyền diệu.
Tín ngưỡng bắt nguồn từ lương tâm. Lương tâm khác nhau tùy theo trạng thái tinh thần của mỗi con người. Nó không có cá tính, cũng chẳng bao giờ bị tiêu diệt, chỉ trừ khi họ chối bỏ lương tâm của họ mà thôi. Bởi vì nó phát sinh ra từ nơi Thượng Đế, mà tánh đức của Trời là một khối bác ái công bằng, tạo sanh vạn vật. Cho nên con người có cái thiên tính đồng thể tự nhiên với chí linh, mà thế gian thường gọi là tín ngưỡng hay đức tin là vậy.
QUỐC ĐẠO VIỆT NAM
Thực sự từ xưa đến giờ nước ta chưa có Đạo, nay Đức Thượng Đế mở cho mối Đạo nhà tại đất nước Việt Nam là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Ngài cho bài Thi:
“Từ thử nước Nam chẳng Đạo nhà,
Nay TA gầy dựng lập nên ra.
Ví bằng ai hỏi sao bao nã ?
Rằng trẻ noi sau biến hóa già.”
Đức Chí Tôn xác nhận điều ấy. Tại sao như vậy?
Đức Hộ Pháp giải cho biết: “Toàn cả thiên hạ nói rằng nòi giống Việt Nam không có Đạo. Lạ lùng thay! Chúng ta tự hỏi có thật vậy không ? Quả thật vậy ! Có nhiều Đạo quá mà thành ra không Đạo: mượn Đạo, xin Đạo của thiên hạ mà thôi. Ta thừa hiểu rằng nòi giống Việt Nam xuất hiện ở hoàng địa Tàu, nên ta không ái ngại nói Việt Nam này là sắc dân Tàu. Nòi giống Tàu, nhìn quả thật là dân Tàu mà thôi. Đất địa tổ quán ta không phải ở đây, ở Bắc Tam Tỉnh là: Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam kể luôn Đông Kinh (Tonkin) tức là Hà Nội và Hải Nam nữa, là tổ quán ta thì thiệt của ta đó vậy. Bần Đạo tìm hiểu Nho Phong ta đoạt đặng hay đã có trước ? Chúng ta thấy nòi giống Việt Thường này là con cháu nước Lỗ. Nói rằng giống Lỗ lập Đạo Nho, chắc hẳn là Nho Tông chúng ta vi chủ. Nói vi chủ tức là của mình nếu có Đạo Nho sẵn trước thì ta có: Đạo Nho, Đạo Lão, Đạo Phật; ba nền Tôn Giáo mà mặt địa cầu nhìn là trọng yếu, bất kỳ là sắc dân nào hay cường quốc nào cũng đều nhìn nhận là do trong xứ Á Đông này. Thêm nữa Thần Đạo do sắc dân Nhựt Bổn vi chủ đem truyền qua Trung Huê, rồi qua xứ ta. Ta chịu ảnh hưởng quyền lực của Thần Giáo từ đó. Nhờ có nó Nho Tông phát triển khác chánh giáo hơn, lại biết Tín ngưỡng một cách đặc biệt hơn Thần Giáo. Bằng cớ hiện hữu là ta đã thờ Thần trong các làng ngày nay đó vậy. Ngoài nữa tâm lý Tín ngưỡng của nòi giống, của Việt Nam nhiệt liệt và thật thà đối với bất kỳ đạo giáo nào.
Đến thế kỷ 19 Thánh giáo Gia Tô đem đến nước ta truyền giáo mới thành một trường nhiệt liệt đua tranh quyết chinh phục hết thảy tất cả các Tôn giáo khác, thành thử Việt Nam có nhiều Đạo quá nên thành không Đạo!
Nước Việt Nam không tinh thần đạo giáo nên khó lập chánh giới lắm! Vì không có căn bản tinh thần đạo đức mà chúng ta không thể chối, chịu thiệt thòi theo lời vu cáo. Hại thay! Ở trước mắt ta nào là bóng, chàng, đồng cốt, ông tà, ông địa, đủ thứ làm cho nhơ nhuốc cái tinh thần Đạo giáo.
Ngài Phạm Công Tắc, được Đức Chí Tôn tình cờ đến biểu phải phế đời lập đạo, khi ấy Ngài chưa có tín ngưỡng là gì, bởi dân tộc Việt Nam đang chịu dưới sự nô lệ của ngoại bang, đất nước đang trông chờ những đứa con dám hy sinh mình cho tổ quốc. Ngài mới trả lời với Đức Chí tôn:
- “Thưa Thầy, Thầy biểu con làm Lão Tử hay Chúa Jêsus con làm cũng không đặng, Thích Ca con làm cũng không đặng, con chỉ làm đặng Phạm Công Tắc mà thôi, con lại nghĩ bất tài vô đạo đức này quyết theo Thầy không bỏ nhưng tưởng cũng chẳng ích chi cho Thầy.
Đấng ấy trả lời:
- Tắc! thoảng Thầy lấy tánh đức Phạm Công Tắc mà lập giáo con mới nghĩ làm sao?
Bần Đạo liền trả lời: - Nếu đặng vậy !
Ngài liền nói: - Thầy đến lập cho nước Việt Nam này một nền QUỐC ĐẠO !”
Đức Chí Tôn cho một bài thi, dám chắc không ai thấu đáo nỗi; người coi cái gốc thì không thấy ngọn, người coi cái ngọn thì không thấy gốc, tứ văn thiệt thà hay ho cho tới các đảng phái quốc sự ngày nay cũng là lợi dụng.
Từ đây nòi giống chẳng chia ba: tức nhiên không chia ba Đạo, chớ không phải ba kỳ.
Thầy hiệp các con lại một nhà: Thầy nắm chủ quyền hiệp Tam giáo, nếu nói riêng nòi giống hiệp Nam Trung Bắc thì vô vị lắm!
Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc: tức nhiên nền chơn giáo QUỐC ĐẠO, không phải của ta thôi, mà lại của toàn nhơn loại, là truyền giáo Nam Bắc thành tướng rồi ra ngoại quốc, tức là Tôn giáo toàn cầu vậy.
Chủ quyền chơn đạo một mình TA: Tam giáo Ngài vi chủ năm châu hiệp tín ngưỡng lại, quy nhứt mà thôi. Nắm cả tín ngưỡng của loài người, chính Chí Tôn là Chúa Tể Càn Khôn Thế Giới, làm Chúa nền chánh giáo tại nước Việt Nam, vi chủ tinh thần loài người, tức đủ quyền năng lập Quốc Đạo.
THỜ THIÊN NHÃN
Có nghĩa là con Mắt Trời hay là Mặt Trời.
Vào giữa năm 1925, Đức Chí Tôn độ được nhóm công chức Xây bàn ở Sài Gòn gồm quí ông: Cao Quỳnh Diêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang và kế đó độ thêm Ngài Lê Văn Trung; Đức Chí Tôn bảo quý vị nầy vẽ hình THIÊN NHÃN để thờ Đức Chí Tôn. Lúc đó là đầu năm 1926.
Thế là do lịnh dạy của Đức Chí Tôn, quý ông tìm đến nhà Ông Ngô Văn Chiêu, được Ông Chiêu hướng dẫn cách thờ phượng Đức Chí Tôn bằng biểu tượng Thiên Nhãn với đầy đủ chi tiết. Sau đó quý ông phò loan, cầu Đức Chí Tôn giáng dạy, quý ông hợp tác với Ông Ngô Văn Chiêu để chuẩn bị Khai Đạo, nhận ông Chiêu là Anh Cả.”
Ông Ngô Văn Chiêu tự ý rút lui
Toàn thể môn đồ hãy lưu ý trong đàn cơ ngày 14-4-1926, Ngài Ngô Văn Chiêu có đến dự, ông đến sau chót thấy số người tham dự đông đảo đã đến trước, Ngài nói :
"Cầu cơ chớ lập Thiên Địa hội sao mà đến đông vậy". Nói xong Ngài bỏ ra về.
Khi Đức Chí Tôn giáng dạy về ông, thì ông vắng mặt vì đã bỏ về mấy phút trước đó.
Trong đàn cơ ngày 24-4-1926 sau khi giảng dạy Ngũ Chi Đại Đạo bị quy phàm Đức Chí Tôn có dạy : "Thầy nhứt định đến chính mình Thầy mà độ rỗi các con chẳng chịu giao chánh giáo cho tay phàm nữa nhưng mà buộc phải lập chánh thể có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau anh trước em sau mà đến nơi Bồng Đảo !
Vì vậy Thầy mới lập ra phẩm Giáo Tông nghĩa là Anh Cả…"
Đức Chí Tôn cũng xác định luôn về trường hợp của Ngài Ngô Văn Chiêu như sau:
"Chiêu đã có công tu lại là môn đệ yêu dấu của Thầy nên Thầy muốn ban chức Giáo Tông cho nó, song vì lòng ám muội phạm đến oai linh Thầy mà ra lòng bất đức chẳng còn xứng đáng mà dìu dắt các con nên Thầy cất phần thưởng nó. Thầy nhứt định để chức ấy lại đợi người xứng đáng hay là Thầy đến chính mình Thầy dạy dỗ các con…"
"Chiêu đã hữu căn hữu kiếp Thầy lại dùng huyền diệu mà thâu phục đặng rỗi nó trước các con. Biết bao phen Thầy gom các môn đệ yêu dấu của Thầy lại sở cậy nó ấp yêu giùm cho Thầy dường như gà mẹ ấp con song nó chẳng vâng mạng lịnh Thầy lại đành cắn mổ, xua đuổi dường ấy thì làm sao cho xứng đáng cái trách nhiệm rất lớn của Thầy toan phú thác cho nó!". ( Trích : Đạo Sử Hương Hiếu ).
Thế thì ông Ngô văn Chiêu tự ý rút lui, chê bỏ ngôi vị Giáo tông anh cả mà Đức Chí Tôn đã ban cho, thì thầy dành cho kẻ khác. Một minh chứng trước mắt bạn đồng tu từ khi khai đạo đã lưu vào đạo sử đến thất ức niên.
▪ Vậy ông Ngô văn Chiêu không phải là người sáng lập ra đạo Cao Đài, cũng không phải là Giáo chủ của tôn giáo Cao Đài ĐĐTKPĐ như một số người nhận thức quá sai lầm và không biết tôn giáo là gì? Mục đích của tôn giáo làm gì? Đặc biệt giáo chủ của các tôn giáo phải đoạt phẩm vị Phật. Họ tưởng lấy cái trí thức đời để phán đoán tôn giáo? Họ tìm hiểu, học hỏi nơi những vị chức sắc mão cao áo rộng nhưng nào ngờ hạng ấy toàn là những kẻ thất pháp, họ không biết gì về bí pháp chơn truyền mà dám viết lách về tôn giáo để gạt người. Rồi sẽ có một ngày những kẻ ấy phải hiện nguyên hình giả pháp và những kẻ đi tầm đạo, ỷ vào trí thức cao chừng nào thì dốt nhứt chừng nấy.
Bí pháp Thiên Nhãn
Thiên Nhãn là biểu tượng của tân Tôn Giáo Cao Đài khai mở buổi Tam Kỳ Phổ Độ. Ban sơ Đức Chí Tôn giáng cơ dạy:
“Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng Con Mắt mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh:
THẦN là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày đạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ độ nầy, duy Thầy cho THẦN hiệp TINH – KHÍ đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh. Các con nhớ nói vì cớ nào thờ Con Mắt Thầy cho chư đạo hữu nghe. Phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, từ ngày đạo bị bế, thì luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên đình mỗi phen đánh tản THẦN không cho hiệp cùng TINH – KHÍ. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn Thần cho các con đắc đạo.
Con hiểu “Thần cư tại Nhãn”.bố trí cho chư đạo hữu con hiểu rõ. Nguồn cội Tiên Phật do yếu nhiệm là tại đó. Thầy khuyên con mỗi phen nói đạo, hằng nhớ đến danh Thầy.”
Nhãn thị chủ tâm
Lưỡng quang chủ tể
Quang thị thần
Thần thị thiên
Thiên giả ngã dã
Ý nghĩa thờ Thiên Nhãn
1- Sở dụng phàm trần:
Thông thường các biểu tượng Thiên Nhãn là để tượng trưng cho Thượng Đế toàn năng, Người đã thấu rõ tất cả những hành vi của con người. Biểu tượng này tìm thấy ở cả các nền văn minh phương Tây lẫn phương Đông có từ thời cổ đại.
Tiên Nho thường nói: “Hoàng Thiên hữu Nhãn” hay trong dân gian cũng thường nói: “Trời cao có mắt”, để chỉ rằng Ông Trời tức là Đấng Thượng Đế, nhìn thấy rõ tất cả những hành vi thiện ác của cả chúng sanh, dầu biểu hiện hay dấu nhẹm Mắt Trời đều biết hết, để khen thưởng hay xử phạt một cách công bình theo luật của Thiên điều.
Thờ Thánh tượng Thiên Nhãn tức Con Mắt của ông trời, lúc nào cũng sáng suốt quang sát mọi hành vi của chúng ta. Bởi khối thương yêu ấy chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ chúng ta không hề xa chúng ta một giây phút nào, cả ban ngày và ban đêm, cho nên Đấng ấy là Đấng chúa tể cả ban đêm lẫn ban ngày. Ấy là một đấng đại ân xá, không hề bắt tội vạn linh tại mặt địa cầu nầy, Ngài để cho vạn linh tự định phận và tự trị lấy mình; Ngài là một Đấng bác ái chỉ biết ban sự sáng là sự sống cho muôn loài tấn hóa và hằng sống mà thôi, chúng ta nên bắt chước theo tánh đức của Ngài. Cho nên phúc và họa của loài người tại mặt thế gian nầy đấng ấy biết hết, đừng dấu nhẹm sự thật rồi bày ra sự giả để gạt người, không qua mắt đấng ấy được đâu.
“Tại sao Thầy lại biểu các con tạo hình Thiên Nhãn mà thờ, không dạy thờ hình tượng như các Tôn giáo khác? “Thầy vốn là Hư vô chi khí, không giống cái chi hết. Các con chớ tạo hình Thầy mà thờ. “Trời là lý, thì lý ấy rất thông linh bao quát Càn Khôn Thế Giới. Thầy đâu phải có xác phàm như các con mà tạo hình thể như các con. Nên chi, thờ Thiên Nhãn là thờ Thầy”.
Thờ Thiên nhãn hay thờ mặt Trời có từ thời cổ đại
* Đền thờ Mặt trời của người Maya
Nhóm các chuyên gia dẫn đầu là nhà nhân loại học Stephen Houston của Đại học Brown (Mỹ) đã tìm thấy một kim tự tháp ở El Zotz, nơi được cho là thờ thần mặt trời của nền văn minh Maya.
Những bức tường bên ngoài của cấu trúc trên chứa những bức vẽ về vị thần này bằng các hình đắp nổi bằng trát stucco. “Những hình vẽ stucco đã cung cấp một cái nhìn chưa từng có về cách người Maya nhận thức về thiên đường, về mặt trời và bản thân mặt trời đã được gán ghép như thế nào để đồng nhất với các vị vua và những triều đại”, theo AFP dẫn lời chuyên gia Stephen Houston.
Mặt trời là yếu tố chủ chốt của quyền lực Maya thời xưa, là biểu tượng kết nối với dòng dõi và quyền lực của hoàng gia, theo chuyên gia Houston.
* Nước Ai Cập: Trong thần thoại cổ Ai Cập, Thiên Nhãn được gọi là Mắt của Thần Horus, Mắt của Mặt Trăng hay Mắt của Thần “Ra”. Horus là Thiên Thần của Ai Cập cổ đại hóa thân là chim ưng. Mắt phải chim ưng là Mắt của Thần Horus cũng được xem là tượng trưng cho mặt trời; Mắt trái tượng trưng cho mặt trăng và thần Tehuti.
* Nước Đức: Biểu tượng Thiên Nhãn cũng được tìm thấy ở nhà thờ Aachen, miền Tây nước Đức. Nhà thờ này đã được UNESCO xếp vào di sản thế giới. Đây là một nhà thờ Công Giáo La-Mã cổ xưa nhất ở Bắc Âu. Từ năm 936 đến năm 1531, nhà thờ là nơi làm lễ đăng quang cho 30 vị Vua và 12 Hoàng-hậu nước Đức. Đây cũng là nơi còn giữ những di vật thiêng liêng của Mẹ Đồng Trinh Marie. Chúa Jésus và Thánh John the Baptist.
* Nước Mỹ:
- Tờ giấy bạc 1 đôla Mỹ
Phía sau tờ giấy bạc này ta thấy bên trái có một kim tự tháp chưa xây xong, còn thiếu hòn đá chóp; trong khi biểu tượng Kim Tự Tháp lại không hề có một ý nghĩa gì đối với lịch sử nước Mỹ. Phía trên có hình con mắt (Thiên nhãn), con mắt thấy hết mọi sự (“all-seeing eyes”) - gần giống với biểu tượng của Illuminati. Phía dưới tháp có khẩu hiệu “Novus ordo seclorum” (có nghĩa là “trật tự thế giới mới”).
Biểu tượng mặt trời trong tam giác đều của Hội Tam Điểm, muốn cho thế giới biết cái sứ mạng cao cả của họ là nhằm mục đích lập lại một “trật tự thế giới mới” tự do, bác ái và công bằng cho toàn nhơn loại. Nếu vẽ một dấu hiệu ngôi sao 6 cánh – Ngôi sao David của người Do Thái – chồng lên Kim Tự Tháp và “con mắt thấy hết mọi sự” thì 6 ký tự S-M-O-N-A sẽ xuất hiện. 6 ký tự này có thể được sắp xếp lại thành Mason có nghĩa là Hội Tam Điểm.
Vì sao mãi đến nay người Tam Điểm vẫn còn mai danh ẩn tích chưa hiện nguyên hình? Ngày giờ nào con người còn một chút phàm tâm thì không có dịp hội ngộ và không biết rõ người Tam Điểm đang muốn gì và làm gì?
Thiên Nhãn với Khoa Học
Thiên Nhãn là mặt trời, trong bầu khí quyển vô biên vô giới, không gian vô tận. Mặt trời mà khoa học gọi là Định tinh, chiếu ánh dương quang soi sáng cho tất cả những hành tinh xoay quanh mặt trời theo một quỷ đạo riêng nhất định của nó, cho nên cứ thế theo thời gian trong không gian sự vận chuyển không dừng, không có hành tinh nầy va chạm với hành tinh khác là vậy. Trong đó kể cả trái địa cầu của chúng ta đang ở cũng có riêng một quỷ đạo trong Thái dương hệ lấy mặt trời làm tâm vũ trụ. Ngày đêm sáng tối là do nơi hành tinh xoay quanh mặt trời có sự thay đổi chuyển di nơi bề mặt của hành tinh, còn nhanh chậm lâu hay mau là do nơi hành tinh vận hành theo quỷ đạo xoay quanh mặt trời mà ra. Cả thảy còn tùy thuộc vào thời gian trong không gian của mặt trời và những hành tinh xoay quanh, tương hiệp tương xung theo quy luật tự nhiên của vũ trụ biến thể và điều hòa.
Những hành tinh đang xoay quanh mặt trời tiếp ánh dương quang mà sinh tồn, nếu không có mặt trời chiếu rọi thì sự sống trên những hành tinh kia sẽ ở trong tối tâm, thì nhơn loại kể cả vật chất; thảo mộc; thú cầm sẽ anh ra bậy bạ và không chắc sống. Con mắt của vũ trụ ấy là mặt trời, mặt trời là linh hồn của vũ trụ. Cả thảy vạn vật trong càn khôn vũ trụ nếu không nhờ sự sáng của mặt trời sẽ trở nên tối tăm, coi như mất linh hồn. Vậy mặt trời là Thiên Nhãn của vũ trụ; của những hành tinh và toàn thể nhơn loại trên quả địa cầu nầy. Đối với tiểu thể của chúng ta, con mắt là gốc của tâm hồn nếu không có con mắt thì đui mù tiêu tàn ám muội.
2- Sở dụng thiêng liêng
Nếu chúng ta có con mắt trời sẽ thấy trời, mắt ấy là thiên nhãn, bằng ngược lại không thấy trời thì mắt ấy còn phàm tâm tục tánh gọi là nhục nhãn. Đức Phạm Hộ pháp cũng nhân cách hóa con mắt đối với Phật mẫu: “Civa là pháp, pháp là quyền năng của Phật mẫu, Phật mẫu là gì mà không biết, có con mắt mà không biết Phật mẫu là gì ?”. Khi biết được ý nghĩa thờ Thiên Nhãn mà Đức Chí tôn đã dành để từ buổi sơ khai, Đức Ngài không nói rõ mà buộc minh thệ, lòng đại bi đại xá của Chí tôn để cho chúng ta kiếm hiểu đặng lập công đạt vị. Bây giờ chúng ta trụ tinh thần nơi HTĐ cùng nhau giải đề thi Thiên Nhãn. Đức Hộ Pháp giảng: “Thiên Nhãn là hình trạng của lương tâm toàn thể làm nền móng cho Cao Đài, nghĩa là đền thờ cao trọng hay là đức tin lớn của Chí tôn tại thế nầy”. Như hai câu thi của Đức chưởng đạo Nguyệt tâm chơn nhơn Tam Điểm đời trước Victor Hugo: “Có Thiên nhãn mới tường chánh giáo tín Cao Đài do đạo lương tâm. Thờ Thiên nhãn là thờ lương tâm (khối thương yêu) của toàn thiên hạ”. Còn Đại từ phụ đến tạo đạo ngày nay thì tỉ như Thầy cầm nơi tay một ngọn đền rực rỡ quang minh (Thiên nhãn), mà soi vào mắt phàm tâm kêu định tỉnh. Hể có kiến thì có thức, kiến thức là căn bản của trí thức tinh thần. Muốn kiến (thấy) thì nhờ nhãn (con mắt), muốn thức (biết) thì nhờ trí (nhận thức), ấy vậy trong tâm (thương yêu) là Thiên nhãn (tánh trời) của trí thức loài người.
Thiên Nhãn trong Tôn Giáo
Thể pháp Thiên Nhãn chẳng phải từ buổi nầy mới có, Thiên Nhãn là mặt trời là một khối lửa nước vĩ đại đầu tiên của vũ trụ là một thực thể chơn dương, tự nó vận hành nhứt động nhứt tịnh mà sanh ra Khí… Khí trong Lửa sanh Thủy… khối vật chất Nước, Lửa, Gió tương hiệp, tương xung rồi phân tánh:
- Khí trọng trượt nặng trầm xuống sanh Thổ (đất).
- Khí nhẹ bay lên làm trời tạo nên vũ trụ và khai thiên lập địa, rồi tạo sanh vạn vật.
Đại Đạo Sư Phạm Hộ pháp (M) giáo chủ Hội Tam Điểm đời sau, Ngài sở dụng thiêng liêng bằng thuyết duy danh, mượn nguyên chất Lửa đầu tiên sanh thành nên vũ trụ mà lập đạo đặng giáo hóa nhơn sanh phản hồi bổn thiện. Tôn giáo muốn cho nhơn loại biết nguồn cội thế giới vật chất mà chúa tể của vật chất là con người do đâu mà có? Do Lửa tức khối linh chủ đầu tiên tự hữu hằng hữu tạo lần nên vũ trụ. Cho nên các nhà tôn giáo thường gọi “nhứt bổn tán vạn thù” là pháp sanh, còn “vạn thù quy nhứt bổn” là cơ quan quy pháp vậy.
Thờ Thiên Nhãn là thờ con mắt hữu hình của Đức Chí Tôn, hay thờ con mắt là thờ Thầy. Thầy đây là Đấng Thượng Đế; Đấng thương yêu; Đấng chăm sóc; Đấng nuôi dưỡng và là Khối linh chủ tạo sanh vạn vật. Vậy thờ Thiên Nhãn, là thờ ông Thầy của cả vạn linh, thay tánh đức từ bi bác ái của mặt trời đặng phụng sự vạn linh là làm ông thầy trời của vạn linh tại thế.
Thánh kinh Tân Ước, Đấng Chrits giảng: " Ngôi Lời trở nên xác thịt: Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời. Ban đầu, Ngài ở cùng Đức Chúa Trời, muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài, trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng". Ngôi lời mà Chúa Jésus Chrits đã nói, đó chính là Ngài. Ngôi Lời trở nên xác thịt, lời phán quyết của Ngài là lời phán quyết của Đức Chúa Trời, sự sáng của Đấng Chrits là sự sáng của Đức Chúa Trời. Ngôi Lời của Đức Chúa Trời, đạo Thánh nhị kỳ là Jésus Chrits. Có khác chi Thiên Nhãn (con mắt trời) của Đức Chí Tôn, Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là Đức Hộ Pháp, Đức Hộ Pháp cũng là Ngôi lời là con mắt của Đức Chí Tôn giáng trần khai đạo.
Vậy thuyết trời người đồng trị mà Chí Tôn đã để tại Hiệp Thiên Đài còn gọi là Hội Tam Điểm viết tắc HTĐ, để cho toàn thể nhơn loại kiếm hiểu mà lập công đạt vị trong kỷ nguyên hiện đại của thế giới Tam Điểm đời sau trong cửa đạo Cao Đài.
- Đài: muốn nói đến người, là Đức Ngài: Phạm Công Tắc.
- Hiệp: ý nói là một, không có hai.
- Thiên: Hộ Pháp. Ý nói chánh pháp (Hộ pháp) của trời là thương yêu và công bằng.
Đến đây cho chúng ta hiểu, cả Thể Pháp Tam Điểm và Bí Pháp Tam Điểm của Đạo Cao Đài cũng đều do chính tay của vị Đại Đạo Sư HIRAM Hộ Pháp nắm chủ quyền Đạo. Đàn cơ tại Chợ Lớn ngày 11 và 12 tháng 03 năm Bính Dần (1926), Đức Ngài đã được Chí Tôn trục thần. Từ đây Đức Ngài là Hộ Pháp Thiên Tôn, Đại Sư hữu hình khai Đạo đúng ngày rằm tháng 10 Bính Dần (1926), Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài, Giáo Chủ Đạo Cao Đài tại thế đó vậy. Còn Đức Chí Tôn vô vi Chưởng Quản Bát Quái Đài đã định nền Chánh Giáo phải trải qua nhiều giai đoạn để phù hợp với chánh trị Càn Khôn Vũ Trụ và đúng với luật thay đổi của cơ Tạo Hóa. Tam Bửu của Ngài Phạm Công Tắc:
- PHẬT: Chơn linh Di Lạc, chủ ý kiến tạo một thế giới Cực Lạc thái bình Thánh địa.
- PHÁP: Chơn thần Hộ pháp, cầm pháp công bằng giáo hóa dẫn độ chúng sanh phản hồi bổn thiện.
- TĂNG: kế chí tinh thần của Đại Sư kiến trúc HIRAM, tạo cơ quan hữu tướng của thế giới Tam Điểm đời sau.
+ Tam bửu hiệp nhất với thánh thể Phạm Công Tắc, là vị Đại Đạo sư Vũ Trụ HIRAM tức sư tổ của thế giới Tam Điểm đời trước, đã phục sinh lập thế giới Tam Điểm đời sau thay trời tại thế, khai Tôn giáo Cao Đài ĐĐTKPĐ ngày 15-10 Bính dần (1926) tại chùa Gò Kén, Tây Ninh là vị Đại Sư HIRAM Hộ Pháp giáo chủ của Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh.
● Đạo học mượn LỬA (ngôi một); KHÍ (ngôi hai); Nước (ngôi ba) và ba thực thể vật chất hiệp nhứt sanh ra ĐẤT, bốn nguyên chất hiệp một tạo sanh vạn vật.
♦ Thiên Nhãn của Đức Giê Hô Va trong kinh Cựu ước. Nói riêng, Thiên nhãn được biểu hiện sự thông sáng của chúa cứu thế Jêsus Chirts, Ngài là con mắt của Đức chúa trời tại thế.
♦ Thiên nhãn trên một đồng đô la của Hoa Kỳ cách đây cả trăm năm rồi sao? Ý muốn nói lên đồng tiền là huyết mạch của sự sống, người Mỹ muốn khẳng định đồng đô la của họ sẽ vi chủ trí thức tinh thần nhơn loại và thống trị trên thị trường tiền tệ của toàn thế giới.
Năm dạng thức thờ Thiên Nhãn nơi Đền Thánh Tây Ninh
Nay, thời kỳ thứ ba, Đức Chí Tôn mở Đại Đạo duy chỉ lấy biểu tượng “THIÊN NHÃN” để làm Tín ngưỡng. Ngoài Thiên Nhãn đặt trên Quả Càn Khôn còn nhiều dạng Thiên Nhãn các nơi và chung quanh Đền Thánh cũng là diệu pháp của nền Tân Tôn giáo Cao Đài.
Chung quanh các cửa sổ Đền Thánh có tất cả 23 khuôn bông sen có hình “Thiên Nhãn” phần trang trí này 2 mặt nên có đến (23 x 2) 46 Thiên Nhãn.
- 46 Thiên Nhãn Thầy hiệp với:
- 1 Thiên Nhãn nơi Quả Càn Khôn.
- 1 Thiên Nhãn nơi Cung Đạo.
- 1 Thiên Nhãn trên Phi Tưởng Đài trước Đền Thánh.
- 1 Thiên Nhãn ở phía trong của Thông Thiên Đài
Cộng là 50 Thiên Nhãn.
Thiên nhãn nơi Thánh Thất và tư gia của môn đồ Cao Đài
Trên 500 Thánh Thất, vừa trực thuộc Tòa Thánh Tây Ninh và 35 Chi phái Cao Đài khắp nơi từ trong ra ngoài nước trên toàn thế giới đều thờ Thiên Nhãn. Đặc biệt các tư gia của môn đồ Đạo Cao Đài đều lập bàn thờ Thiên Nhãn ở giữa nhà để tỏ sự kính trọng tôn nghiêm, có trên 5 triệu gia đình có đức tin cường liệt như vậy. Tất cả thuộc tinh thần Thể pháp Tam Điểm thờ Thiên Nhãn.
Đề tài « Hội Tam Điểm và tôn giáo mới ở Việt Nam » của TS. Trần Thu Dung « đã Cung cấp cho ta những tài liệu về Hội Tam Điểm và Đạo Cao Đài rất thú vị, quan hệ giữa Louis Viadal con rể Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, cắt nghĩa cho biết nguồn gốc thờ Victor Hugo trong Đạo Cao Đài ».
Chẳng những thú vị mà quả thật, bằng tinh thần đạo đức nhơn nghĩa của thế giới Tam Điểm đời sau trong cửa đạo Cao Đài, đủ làm cho thế giới Tam Điểm đàn anh đi trước phải hãnh diện và tự hào mình là con người Tam Điểm của toàn thế giới. Cái khí tiết “tự do, bác ái, công bằng” từ đấng sư tổ kiến trúc HIRAM hiền hòa, nhân hậu đã phục sinh sống mãi trong chúng ta, thối thúc chúng ta phải xuất hiện đoàn kết thống nhất, đặng tạo thành một lực lượng đủ chiến thắng tưới tắt chiến tranh bằng võ khí chiến lược, đem lại hòa bình hạnh phúc cho nhơn loại trên bàn thương nghị Liên Hiệp Quốc. Được vậy, nhơn loại sẽ tôn tặng chúng ta là ân nhân là các đấng thiêng liêng của họ, được lưu vào trang sử cứu tinh của thế giới ngàn đời chắc hẳn vậy. Cái triết lý trời người đồng trị của Khổng Phu Tử nghe ra thật mơ hồ, nhưng đối với thế giới Tam Điểm là phương chỉnh đốn một trật tự thế giới mới, nhằm mục đích phụng sự cho nhơn loại, do nơi con người biết thương người, biết thờ người hay không mà thôi.
Thế giới Tam Điểm của chúng ta phải xuất hiện, chủ lực phát động một cuộc đại cách mạng xoay chuyển càn khôn, thay cũ đổi mới biến địa ngục thành thiên đàng tại mặt thế gian nầy, cho nhơn loại vui hưởng một thế giới Cực Lạc, thái bình tự trị, lạc nghiệp âu ca. Tin chắc các anh sẽ làm được điều đó, bởi chiếc chìa khóa bí pháp của chiến tranh và hòa bình trong tầm tay của các anh, muốn thành phật hay quỷ cũng do nơi con người của chúng ta mà thôi. Thế giới Tam Điểm của chúng ta, muốn cho toàn thể nhơn loại tôn thờ hay nguyền rũa tránh xa cũng do nơi chúng ta muốn cùng chẳng muốn. Đã đến lúc chín mùi, nhơn loại chán ghét chiến tranh, sợ hãi chiến tranh, họ khao khát hòa bình. Thế thì, nhìn trò đoán thầy, Tổ Sư kiến trúc HIRAM kỳ vọng vào thế hệ cuối cùng của chúng ta, chỉ có chúng ta may ra đem lại trật tự thế giới mới an bình hạnh phúc cho nhơn loại trên toàn cầu này trông đợi.
Hãy hy sinh mình vì mọi người đi các anh, nếu đánh đổi cái kiếp sống thừa nầy để đem lại hạnh phúc cho hàng triệu người sau không đổi? chúng em là đoàn hậu tấn của thế giới Tam Điểm cuối cùng đời sau đã chịu nhiều khổ não và nhục nhã vẫn còn đây, đang trông chờ sự phán quyết anh minh “tự do, bác ái, công bằng” của các anh và toàn thể nhơn loại trên hoàn cầu đang khát khao, chờ các anh ban cho những giọt cam lồ hòa bình hạnh phúc trên mặt hành tinh xanh nầy.
Đến đây xem như chúng ta đã giải được đề thi THIÊN NHÃN của Đức Chí Tôn ở phần Thể pháp Thế Đạo Thanh Hương. Từ nay không còn gọi là bí pháp nữa mà là chơn pháp, nói thật chỉ cho thấy sự chơn thật không cho thấy ảo ảnh, chơn truyền của Chí tôn đại kỵ điều ấy. Đã đủ đầy minh chứng, nói chung cho hàng triệu môn đồ đạo Cao Đài từ trong ra ngoài nước, hãy hãnh diện và vui mừng cả thảy chúng ta là người của Thế giới Tam Điểm đời sau trong cửa đạo Cao Đài, mà vị Đại Đạo sư sáng lập là Đức Giáo chủ HIRAM Hộ Pháp phục sinh đó vậy. Để đúng với lời của Đức Hộ pháp khẳng định: “không có một con đường đi nào trên thế giới nầy có, mà trong cửa đạo Cao Đài nầy không có”. Nếu Đạo Cao Đài không phải là thế giới Tam Điểm đời sau, vậy Đức Hộ pháp nói gạt thiên hạ hay sao ?
Đức Hộ pháp vẫn bị Pháp khảo thí
Sau khi khai Đạo (14-10-Bính Dần) tại Thánh Thất Từ Lâm Tự, xảy ra việc tà quái ngoài ý muốn, nhưng người theo Đạo mỗi ngày một đông, người Pháp theo dõi, hăm he các Chức Sắc bị dọa nạt đủ điều và lập hồ sơ đen các người theo Đạo trong đó có Ngài. Cả toàn con cái Đức Chí Tôn buổi nọ, còn lại có ba người. Ba người ấy là Đức Quyền Giáo Tông, Đức Cao Thượng Phẩm và Đại Sư Hộ Pháp nhứt tâm nhứt trí quyết làm cho Đạo thành, vừa ý Đức Chí Tôn định.
Nhờ làm việc tại Campuchia mà Đức Ngài độ được Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng, bấy giờ làm Phòng Chưởng Khế tại đây (1927), và anh em vua Cao Miên là Sisowark qua trung gian Tổng Trưởng Sơn Điệp. Trong Hoàng Cung hiện nay vẫn còn thờ Thiên Nhãn.
Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đăng tiên (19/11/1934), vào ngày lễ Đại Tường (8/11/1935), một Đại Hội Đồng gồm Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh đồng bầu cử Đức Hộ Pháp cầm quyền thống nhất Chính Trị Đạo cho đến ngày có Đầu sư Chánh Vị.
Thời Pháp nạn
- Vào ngày 23 -7 Canh Thìn (1940), lính mật thám Pháp vào châu vi Thánh Địa xét giấy tờ và đóng cửa Báo Ân Từ. Năm sau, Chánh phủ Pháp ra lịnh cấm công nhân tạo tác Tòa Thánh. Đến ngày 4 -6 năm đó, vào 8 giờ sáng, mật thám bắt Đức Phạm Hộ Pháp. Ba ngày sau họ vào Tòa Thánh đuổi hết mọi người trở về nguyên quán. Chúng xung công tất cả Văn Phòng và chiếm đóng trong chu vi.
Chúng đày Đức Ngài sang Pháp “Mã Đảo Madagascar” trên chiếc tàu Compiège vào ngày 27-7-1941 cùng 5 vị Chức Sắc. Trong chuyến tàu này ngoài Đức Ngài còn có các nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Thế Sang… Khi đến Đảo, Ngài và chư Chức Sắc bị giam đến ngày 24-11-1944, mới được ra ngoài lao động.
- Năm 1945, phe Đồng minh thắng, De Gaulle giải phóng nước Pháp, Đức Ngài được đưa về Việt Nam ngày 1-10-1046 tính lại thời kỳ đồ lưu hải ngoại là 5 năm, 2 tháng, 3 ngày.
1/ VỀ PHẦN ĐỜI:
Khi hiệp định Genève ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 không được tôn trọng, hoàn cảnh nước Việt Nam lúc bấy giờ trở nên đen tối và dần đưa cuộc chiến Việt Nam càng ngày càng khốc liệt. Trước cảnh đồng bào bị ngoại bang áp đặt, gây cảnh nồi da xáo thịt và vì yêu nước, thương dân, nên Đại Sư HIRAM Hộ Pháp phải lưu vong sang Cao Miên vào ngày 16-2-1956 để tìm phương gở rối cho thế cuộc.
Ngày 26 -3-1956 Đức Hộ Pháp có gởi 2 bức thư cho Chủ Tịch Hồ chí Minh và Tổng Thống Ngô đình Diệm kêu gọi cuộc thi đua Nhân Nghĩa giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam. Đồng thời trình bày Bản Cương Lĩnh Hòa Bình Chung Sống, nhưng cả 2 đều không dám ngồi lại với nhau để bàn bạc vì đang chịu ảnh hưởng nặng nề của ngoại bang, cả hai nhà lãnh đạo Nam Bắc không có quyền định đoạt đến vận mạng của dân tộc mình.
Tại Phnom Penh, ngày 17-5-1959 nhằm ngày mùng 10 tháng 4 năm Kỷ Hợi Đức Hộ Pháp quy Thiên và để lại một Đại nghiệp cho Đạo.
Rồi đây ai đến cầm Chơn Pháp
Tô điểm non sông Đạo lẫn Đời.
Vừa lo việc đối nội vận hành cơ đạo cho ra thiệt tướng, vừa đối ngoại phổ độ các bậc nguyên nhân anh hào chí sĩ thành tâm giúp đạo, trong số ấy xuất hiện Long Nữ là chơn linh của bà Lâm Hương thanh; Từ hàn Quan Âm là nguyên căn của Ngài Thái Thơ Thanh; Đức Quyền Giáo tông Thượng Trung Nhựt (Lê văn Trung); Trần Quang Vinh tức người Tam Điểm đời trước thời Pháp thuộc... và còn có rất nhiều chơn linh cao trọng khác nữa, cũng giáng linh chuyển kiếp xuống thế mang xác phàm giúp Đại Sư HIRAM Hộ pháp khai đạo Cao Đài phụng sự vạn linh. Nếu không có các đấng thiêng liêng giúp sức thì chắc hẳn nền chơn giáo của Ngài chưa thành đặng.
Việc thành lập quân đội.
Khi Đức Ngài trở về Tòa Thánh thì Quân Đội Cao Đài đã lập từ năm 1945 với danh Nội Ứng Nghĩa Binh. Vì hoàn cảnh đất nước và Đạo sự lúc bấy giờ, Đức Ngài phải để quân đội thành hình và xuất quân ngày 8/1 ÂL (1947).
Đức Ngài nhắc nhỡ "Quân đội các con thành lập đặng do toàn thể trụ cả năng lực trên nền tảng Nghĩa Nhân, Đạo Đức. Ngọn cờ Cứu Khổ của các con xuất hiện nơi nào thì nhân sanh nơi ấy đều phải đặng các con bảo vệ, cứu khổ phò nguy mà làm rạng danh anh tuấn của non sông chủng tộc"
Xây dựng chợ Long Hoa
Khi Đức Hộ pháp xuất quan khỏi nhà tịnh Trí Huệ Cung, Ngài thấy chợ Ngã Năm (gần cửa số 4 Nội Ô Tòa Thánh) chật chội và ẩm thấp, nên lấy 47 mẫu đất ở phía Nam Tòa Thánh lập chợ Long Hoa. Đến ngày 05-06-1951, chợ Long Hoa cơ bản thiết lập xong, Đức Ngài làm lễ Ban Phép Lành và trấn thần Long Hoa Thị.
Khi khánh thành văn phòng Ban Quản Trị Long Hoa Thị (15.07 Quý-Tỵ).
Chính Đức Ngài đôn đốc công cuộc khai phá rừng, tuy chợ Ngã Năm rất sung túc, nhưng lại ẩm thấp, chật chội. Vì cớ, Đức Ngài mới lấy khu rừng 47 mẫu (chưa có chợ nào đặng 47 mẫu), nhưng chừng vài năm nữa đây sẽ chật hết. Thật vậy, chợ cũ Long Hoa không đủ chỗ buôn bán, nên ngày mùng một tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1952), Đức Hộ Pháp cho khởi công đào móng xây Long Hoa Thị.
Biến tướng thành khu Trung tâm Thương mại hiện đại nhứt tỉnh.
Sau ngày thống nhất đất nước, chợ Long Hoa được UBND tỉnh phê duyệt vào tháng 1 năm 2002 và giao cho Công ty Xây dựng và Phát triển đô thị Tây Ninh làm chủ đầu tư.Tháng 10 năm 2004 giai đoạn 1, hoàn thành gồm hai khối A, B với kinh phí đầu tư hơn 22 tỷ đồng và đã đưa vào khai thác. Tuy nhiên, giai đoạn 2 triển khai khá chậm so với dự kiến ban đầu, do phải điều chỉnh dự án theo hướng phát triển thêm.
Được xây dựng trên nền đất 12.482m2 của chợ đầu mối Long Hoa cũ tại thị trấn Hòa Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, Trung tâm Thương mại Long Hoa mới được xây dựng 2 tầng với tổng diện tích sàn 15.688m2 gồm 6 khu mua sắm và dịch vụ.
Tầng trệt được bố trí trung tâm vàng bạc đá quý, khu thời trang cao cấp, khu chợ đầu mối truyền thống bao gồm 380 sạp hàng tươi sống, nông, thủy, hải sản và 30 ki ốt dành cho các tiểu thương đang kinh doanh tại chợ cũ. Tầng 1 có siêu thị điện máy, siêu thị đồ gia dụng, nhà hàng tiệc cưới và nhà hàng ăn chay.
Giám đốc điều hành của Trung tâm Thương mại Long Hoa cho biết trong thiết kế kiến trúc của công trình, Công ty vẫn bảo đảm giữ được nét đặc trưng truyền thống của chợ Long Hoa cũ với nóc nhà lồng của Trung tâm có hình bát quái và 8 cửa chợ thông qua 8 con đường, tạo điều kiện thuận lợi cho khách tham quan du lịch và người dân địa phương đến mua sắm, ẩm thực, vận chuyển hàng hóa.
Tâm tâm huyện Hòa Thành cách thị xã Tây Ninh khoảng 5km, đa số người dân theo đạo Cao Đài, có tốc độ phát triển đô thị nhanh.
Khu chợ Long Hoa cũ trước đây là đầu mối phân phối dịch vụ, hàng hóa lớn nhất cho các nơi trong tỉnh, khu vực lân cận và sang các tỉnh biên giới của Campuchia.
Thượng Tôn Quản Thế.
Sau khi về đến Tây Ninh, Đại Sư Hộ Pháp phải lo trùng tu và tiếp tục hoàn thành công trình xây cất Đền Thánh cũng như sắp xếp mọi việc đối nội và đối ngoại của Đạo. Đức Ngài được Nhơn sanh công cử kiêm thêm chức vụ Thượng Tôn Quản Thế để giám sát Quân Đội Cao Đài.
Đại Sư ban danh hiệu cho Binh Sĩ Cao Đài là Thiên Binh với thiên trách “Bảo Sanh, Nhân Nghĩa, Đại Đồng”. Từ năm 1946 đến 1955, ở miền Nam Việt Nam, ngoài binh đội của Pháp, chỉ có lực lượng Cao Đài là hùng mạnh nhứt. Quân đội Cao Đài nổi tiếng là can trường và nhân nghĩa nhứt ở miền Nam Việt Nam.
Thành lập “Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”.
Sau chuyến Âu du, với sứ mạng Cố vấn tối cao cho Đức Quốc Trưởng Bảo Đại, quan sát Hội Nghị Génève. Nhưng kết quả không toại ý. Nên Hiệp Định Génève đã chia xẻ Giang sơn gấm vóc của Tiền nhân thành hai mãnh cho ngoại bang lợi dụng và khai thác xương máu của đồng bào Việt Nam, với những mỹ từ vô ích cho nhân dân Việt Nam từ Nam ra Bắc.
Ngày 20.07.1954, Đức Ngài và đoàn tùy tùng rời Pháp về thẳng Việt Nam. Đức Ngài thấy trước cuộc chiến nồi da xáo thịt và kết quả của nó ra sao. Đức Ngài thương cho đám Việt kiều chúng ta, phải lưu vong ra khắp năm Châu như hiện nay. Sự sung túc về vật chất không thể nào lấn át được hận vong quốc, nỗi lòng hoài hương xa lìa quê cha đất tổ. Vì lòng ái quốc thương dân, Đức Ngài không thể nhắm mắt đưa chân mặc cho tha chủng dày xéo quê hương, nên Đức Ngài vận động với tất cả các lực lượng quân sự ở miền Nam lúc bấy giờ là: Cao Đài, Thiên Chúa, Hòa Hảo và Bình Xuyên, phối hợp với nhau trong một lực lượng thống nhất, lấy tên là “Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”, gọi tắt là “Mặt Trận Cao Thiên Hòa Bình”.
2/ VỀ PHẦN ĐẠO:
Đại Sư HIRAM phục sinh
Đền Thánh Tây Ninh là một công trình kiến trúc tân kỳ vĩ đại, khiến cho người ngoại quốc thầm kính phục một khối óc phi thường. Đền Thánh dài 145 thước, rộng 40 thước, cao 36 thước về phía gác chuông Hiệp Thiên Đài, 25 thước nơi Cửu Trùng Đài và 38 thước nơi Bát Quái Đài. Công trình tạo tác đồ sộ nguy nga như thế mà Ngài vẫn cho rằng chỉ làm theo lịnh dạy của Đức Chí Tôn, nhưng mãi đến nay chúng ta mới biết Tổ Sư kiến trúc HIRAM đã phục sinh, mượn thể hình Phạm Công Tắc làm con kỵ vật để lập Hội Tam Điểm đời sau. Đúng vậy, nghe những người thợ hồ trực tiếp làm ở thời buổi ấy kể lại rằng, Đức Hộ pháp cứ mỗi đêm Ngài xuất vía về Bạch Ngọc Kinh thiêng liêng, ghi nhớ từng chi tiết rồi tự phát họa lại chuẩn bị cho sáng hôm sau có công thợ làm, xong rồi Ngài xuất vía tiếp… cứ thế cho đến khi hoàn thành một công trình đồ sộ với thời gian khoảng 10 năm mới hoàn chỉnh. Do vậy mà Đức Ngài cho biết Đền Thánh là Bạch Ngọc Ngọc Kinh tại thế. Đây quả là một lối kiến trúc có một không hai, đối với quá trình lịch sử xây dựng của Việt Nam đã hơn 4 ngàn năm Văn Hiến.
Công nghiệp lớn lao của Đức Hộ pháp là xây dựng Tòa Thánh, cũng như trước kia khi vua Salomon vâng lời Thượng Đế, ra lệnh cho xây cất đền thờ Jérusalem trên đồi Moria. Vua tuyển lựa 30.000 thợ luyện kim, 80.000 thợ hồ, 70.000 phu khuân vác. Tất cả những người nầy đều đặt dưới quyền chỉ huy của kiến trúc sư HIRAM do vua nước TYR gởi đến.
Kiến trúc sư HIRAM còn gọi là Đại Sư HIRAM, đã phục sinh lập vùng Thánh Địa Tam Điểm đời sau trong cửa đạo Cao Đài.
Đức Hộ Pháp đặt viên gạch đầu tiên năm 1933, qua năm 1936 mới khởi công xây cất và đến năm 1941 công cuộc kiến trúc bên ngoài vừa hoàn thành thì Đức Ngài bị người Pháp bắt lưu đày. Năm 1946, Đại Sư trở về nước tiếp tục xây dựng. Năm 1954 thì hoàn tất và lễ Khánh thành được tổ chức vào đầu tháng giêng năm Ất Mùi (1955).
Ngoài ra, quy trình độc đáo trong việc định cư cho người tín đồ ở từ bốn phương quy tụ về vùng Thánh Địa càng ngày càng đông. Lúc bấy giờ, nơi đây là vùng rừng sâu nước độc, Đức Hộ Pháp chắc chắn không có bằng cấp về khoa Thiết Kế Đô Thị, vả lại, vào thời buổi đó làm gì có chuyên khoa nầy. nhưng Ngài đã lập một Sơ Đồ hết sức khoa học, phân lô cất nhà, khu chợ búa, trường học, bịnh viện… và hình thành các con đường theo đúng hướng Đông Tây Nam Bắc, có lộ trước và lộ sau nhà để dễ bề cấp cứu khi cần. Ngoài ra còn có kinh đào làm thủy lộ đáp ứng chợ Long Hoa. Theo các điều quy định cho việc cư trú tại Vùng Thánh Địa Cao Đài, đem đối chiếu lại với sách Thiết Kế Đô Thị ngày nay, quả chưa có điều nào hóa ra lỗi thời.
Quả thật, vùng Châu Thành Thánh Địa thuộc tỉnh Tây Ninh, chúng ta thấy từ việc xây cất ngôi Tòa Thánh, những Đền Thờ, dinh thự để làm các Cơ Sở Đạo, những con đường lớn, nhỏ, cầu cống, chợ búa, các Trường Trung Tiểu Học cho đến các Y viện, Dưỡng lão, Cô nhi viện.. đâu cũng có những dấu vết với đôi bàn tay của Đức Hộ Pháp.
Đặc biệt, với một con người như Đức Ngài, không có mảnh bằng Kiến Trúc Sư, đôi tay chưa hề cầm đến một dụng cụ xây cất nào… thế mà đã điều hành hàng trăm công thợ không chuyên nghiệp, phát nguyện làm công quả, ngày 2 bữa cháo rau không đủ no…để hoàn thành một công trình xây dựng ngôi Đền Thánh với lối kiến trúc độc đáo, hài hòa giữa Cổ- Kim, Âu- Á. Nhứt là dung hợp được những bí pháp chơn truyền của các Tôn giáo, tổng hợp những triết học của các đảng phái đang nắm chủ quyền của đời tại mặt địa cầu này, trong đó có Hội Tam Điểm. Để đúng như lời Đức Ngài khẳng định “Đạo Cao Đài không thiếu một con đường đi nào mà thế giới nầy có”.
Những gì mà Đức Hộ Pháp đã làm trước mắt nhơn loại trên toàn thế giới đều nghe và thấy, đủ đầy những minh chứng còn lưu lại tại vùng Thánh địa Tây Ninh ngày nay. Quả quyết, thời buổi ấy chưa có một trí thức đời nào đủ năng lực, kiến tạo để chuẩn bị cho một trật tự thế giới mới an bình siêu nhiên, một thiên đàng tại thế trong tinh thần đạo đức nhơn nghĩa như Đức Ngài Phạm Công Tắc đã làm. Tin chắc, hành tàng của Ngài phải chính do vị Đại Sư Kiến trúc HIRAM tổ sư của Hội Tam Điểm đời trước, chơn linh nhập thể Phạm Công Tắc vào giữa thế kỷ 19, gọi là Đại Sư HIRAM Hộ Pháp sáng lập vùng Thánh địa của thế giới Tam Điểm đời sau, cho nhơn loại vui sống trong cảnh thái bình hạnh phúc, thương yêu và công bằng đó vậy.
Dám chắc cả thảy môn đồ Cao Đài từ trong ra ngoài nước và nhơn loại trên toàn Thế giới cũng không thể ngờ rằng, thế giới Tam Điểm đời sau lại trong cửa Đạo Cao Đài, mà Đại Sư HIRAM đã phục sinh lập một thiên quốc Cực Lạc tại vùng Thánh địa Việt Nam miền Đông Nam Châu Á, Thái Bình Dương cho một giống dân nô lệ, nhỏ nhen, nhưng giàu lòng nhân ái, biết tôn sư trọng đạo, giữ nghĩa đồng sanh đặng làm cơ quan cứu thế kỳ ba này. Sở hành xuất hiện của Đấng ấy là Đại Sư HIRAM Hộ Pháp vừa là giáo chủ Đạo Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Ngài đến lập Hội Thánh Tam Điểm đời sau trong cửa đạo Cao Đài để lãnh một sứ mạng làm giềng mối kết liên không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, đảng phái…trên toàn thế giới, hòa hiệp thống nhứt nhìn nhau là anh em ruột thịt, có cùng chung một tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, tiến đến xây dựng một thế giới mới hòa bình hạnh phúc trong “Tự do, bác ái và công bằng”.
Trên đất khách
Vào đầu tháng 8 năm Ất Mùi (1955), vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cao Đài, khi được Quốc gia hóa, ra lệnh thành lập Ban Thanh Trừng, bắt nhiều đạo hữu giam cầm. Một số thiếu nữ trong Đạo cũng bị câu lưu mấy tháng và bị ép buộc phải khai nhiều điều khiếm nhã cho Đức Ngài. Còn chính Đức Ngài cũng bị cầm lỏng tại Hộ Pháp Đường chung quanh có quân đội võ trang canh phòng, từ 20 tháng 8 Ất Mùi (1955) đến mùng 5 tháng 1 Bính Thân (1956). Vì quá đau buồn cho cảnh đồng đạo tương tàn, Đức Hộ Pháp buộc lòng cùng nhiều Chức Sắc tùy tùng rời khỏi Thánh Địa, lúc 3 giờ khuya ngày ấy nhắm thủ đô Miên quốc Campuchia trực chỉ.
Việc ra đi được Đức Ngài tuyên ngôn như sau:
"Bần đạo buộc mình phải xuất ngoại đặng bảo thủ tự do cá nhân của Bần Đạo, hầu đem ra một giải pháp mới mẻ có thống nhứt hoàn đồ và chủng tộc là phương pháp Hòa Bình và Chung Sống". Hành động rời Tổ Đình, không những để bảo vệ tự do cá nhân để chủ thuyết của Đức Ngài được quảng bá sâu rộng trên toàn thế giới và các giáo lãnh Tôn giáo mà còn một sự hy sinh cao cả "tránh cảnh đồng đạo tương tàn" như Đức Cao Thượng Sanh thuyết. Chẳng khác nào như Đức Jésus Christ hy sinh trên Thập tự giá để cứu nhân loại.
Trở về ngôi xưa cảnh củ
Dù sống trên đất bạn an toàn, nhưng lúc nào Đức Ngài cũng hướng về quê hương. Tuổi già sức yếu, thế nên bịnh nặng không bao lâu, Đức Ngài quy thiên nhằm mùng 10 tháng 4 Kỷ Hợi (17-5-1959), hưởng thọ 70 tuổi.
Việc quy Thiên của Đức Ngài được đài Thông Thiên Học chứng nhận và thông báo trên mặt báo cho toàn thế giới biết. Ngay khi thi thể chưa liệm Đức Ngài giáng Cơ cho bài thi nhiều ẩn ý sau:
"Trót đã bao năm ở xứ người,
Đem thân đổi lấy phút vui tươi.
Ngờ đâu vạn sự do Thiên định,
Tuổi đã bảy mươi cũng đủ rồi.
Nhớ tiếc sức phàm thừa chống chỏi
Buồn nhìn cội Đạo luống chơi vơi
Rồi đây ai đến cầm Chơn pháp
Tô điểm non sông Đạo lẫn Đời".
■ nhắc lại, Vi bằng 165 vị chức sắc truất phế Đức Hộ Pháp.
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Tam thập nhị niên)
Tòa Thánh Tây Ninh
VI BẰNG
Phiên nhóm bất thường của Hội Thánh Cửu Trùng Đài, Phước Thiện và các cơ quan tại Giáo Tông Đường ngày mồng 10 tháng 3 năm Đinh Dậu (9-4-57) vào lúc 9 giờ ban mai.
Dưới quyền chủ tọa của Ngài Chánh Phối Sư Ngọc Non Thanh với sự hiện diện của chư chức sắc Hành Chánh, Phước Thiện và chư vị Đầu Phận Đạo, Lễ Sanh nam nữ gồm có 165 vị.
Sau khi trao đổi về tình hình nguy ngập của Đạo lâm vào ngõ bế tắc, do những hành động của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
Thông cảm thiện chí của Ngài Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân ở Sài Gòn do bức thơ đề ngày 7-4-57. Nên Hội Thánh Cửu Trùng Đài, Phước Thiện cùng toàn thể chức Sắc sau đây đồng tâm quyết nghị.
1- Không thừa nhận và không chịu trách nhiệm các hoạt động chánh trị của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
2- Kể từ nay chấm dứt mọi sự liên lạc giữa Nam Vang và Tòa Thánh Tây Ninh.
3- Tất cả mạng lịnh và chỉ thị chi của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc từ ngoại bang đưa về đều coi là không hiệu quả đối với Hội Thánh Tây Ninh về mặt chánh trị.
4- Hoàn toàn tín nhiệm Ngài Thượng Sanh cầm giềng mối Đạo, Thập Nhị Thời Quân hành Đạo đúng theo luật Pháp Chơn Truyền và triệt để tuân mạng lịnh của Hiệp Thiên Đài để điều khiển Đạo. Cả toàn Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Hội Thánh Phước Thiện nam nữ đồng thanh yêu cầu Ngài Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân về Tòa Thánh Tây Ninh để cứu vãng tình thế nguy ngập của Đạo.
Buổi hội bế mạc vào lúc 11 giờ trưa.
CHỨC SẮC CÓ MẶT DỰ HỘI, ĐỒNG KÝ TÊN DƯỚI ĐÂY: (tất cả 165 vị)
Nữ Chánh Phối Sư Thái Chánh Phối Sư Thượng Chánh Phối Sư
…….. ………. ………
Hương Hiếu Thái Bộ Thanh Thượng Sáng Thanh
Chánh trị Đạo là gì?
Toàn thể các tôn giáo hiện có mặt trên thế giới nầy, có tôn giáo nào mà không làm chính trị Đạo để tạo Đời cải dữ ra hiền, nếu Đời hiền thì không cần có tôn giáo. Nếu tôn giáo không làm chánh trị thì dứt khoát không phải là một tôn giáo nữa! Như vậy tôn giáo không làm chánh trị để cứu Đời thì làm gì? Chẳng lẽ lập tôn giáo rồi xây cất đền chùa, thánh thất… để cho những kẻ nhu nhược yếu hèn, dị đoan mê tín, mượn danh đạo tạo danh đời vào đó ẩn mình để trốn tránh tội tình, mượn danh đạo tạo danh mình đặng lừa mị nhơn sanh mà thế gian thường gọi là quỷ chùa đúng lắm ? Hay là nơi dành để cho những kẻ trốn tránh cái nợ đồng sanh trong nhơn quần xã hội? trốn tránh cái trách nhiệm làm cha, làm mẹ, làm con… của một gia đình? Cao trọng hơn hết là trốn cái nợ quốc vương thủy thổ? Phải làm thế nào để thể hiện được cái tính dân tộc truyền thống ngàn đời oanh liệt của một quốc gia nữa chớ! Còn phải đào luyện cho tinh thần được trí hóa tinh tấn rồi cùng sánh vai với các nước khác trên trường quốc tế nữa kìa.
Nếu một nền tôn giáo có Thể pháp để làm ngoại dung mà không có tinh thần chánh trị đạo Bí pháp nội dung để làm cơ quan cứu thế, thì chắc hẳn tôn giáo ấy chỉ là tả đạo bàn môn mà thôi. Vậy chánh trị đạo của tôn giáo Cao Đài là thế nào? là cái bí pháp thay cũ đổi mới, nói và làm thật nhằm mục đích phụng sự: ưu nhơn, ái vật, cải thiện dân sinh, làm cho đại đồng thiên hạ, ra thiệt tướng thiên đường tại thế gian nầy. Bằng mặt trận trí thức tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, lấy Pháp thương yêu và Quyền công chánh làm căn bản.
Thể theo tinh thần nhơn loại của mỗi một quốc gia, mà các tôn giáo lập nền tảng chánh trị đạo để thu tâm thiên hạ bằng nhiều phương cách:
- Thích giáo lấy từ bi, bác ái làm căn bản.
- Đạo giáo lấy Thân làm căn bản.
- Nho giáo lấy Trí làm căn bản.
- Công giáo lấy Tâm làm căn bản.
- Hồi giáo lấy Tín ngưỡng làm căn bản.
- Cao Đài giáo lấy tinh thần “thương yêu và công bằng” làm căn bản.
- Nhơn đạo lấy Nhơn nghĩa làm căn bản.
- Thế giới Tam Điểm lấy “tự do, bác ái, công bằng” làm thước đo chân lý lập tân thế giới.
▪ Dân tộc Việt Nam lấy “tinh thần Đại nghĩa” của một nền Quốc Đạo Văn hiến 4000 năm dựng nước và giữ nước.
Chánh trị đạo của các vì giáo chủ cầm quyền tư pháp tức chủ về pháp, nắm quyền trị thế và giác thế. Các Đấng ấy muốn thu phục tâm lý nhơn sanh, nên phất lên chủ nghĩa để lấy làm làm cờ hiệu quy nhứt như: từ bi, thân, trí, tâm, tín ngưỡng, tinh thần, nhơn nghĩa… Muốn có lực lượng phải phổ độ chúng sinh lập thành Hội Thánh là cơ quan hành pháp, mà đời gọi là quân đội. Có chính trị mới phát sanh quân đội, nếu không có quân đội thì chính trị cũng khó có và nếu không có quân đội thì chính trị chỉ là một giả thuyết không có thật.
Vậy chánh trị là hồn tức Đạo, còn quân đội là xác tức Đời. Cho nên, hồn và xác hay Đạo và Đời phải tương liên hiệp một mới mong tạo đời chuyển thế.
Trong Đạo Cao Đài có Hiệp Thiên đài là hình trạng của Ngọc Hư Cung tại thế, nắm chính trị Càn khôn Vũ trụ, cầm luật thiên điều là Đạo do Đức Giáo chủ Đại Sư HIRAM Hộ pháp chưởng quản. Đức Ngài cho biết “Hộ pháp giáng trần cầm Bí pháp” và Ngài cũng nói rõ thêm “ Bí pháp mới là phận sự đặc biệt của Bần đạo, còn Thể pháp Bần đạo làm giùm cho thiên hạ”. Một bằng chứng, Ngài giao cho Đức Lý kiêm Giáo tông Cửu Trùng đài rồi còn gì.
Đã đủ đầy minh chứng, với tư cách là Hiệp Thiên đài thuộc Đạo cầm quyền tư pháp, Đức Hộ pháp trở thành một vị Đại Đạo Sư gọi là Thượng Tôn Quản Thế vi chủ tinh thần quân đội Cao Đài, mà quân đội là do nơi 3 vị Chánh Phối sư thuộc Hội Thánh Cửu Trùng đài cầm quyền thống nhứt thành lập, đặng có phương trừ an nội loạn và ngoại loạn.
“Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự,
Giữa Tây phương nắm giữ thiên điều.
Dưới Ngọc Hư kể bao nhiêu,
Thiêng liêng các Đấng lập triều trị dân”.
Như vậy Đền Thánh Cao Đài Tây Ninh là Bạch Ngọc Kinh tức Kinh đô Cực Lạc của một thế giới mới lạc nghiệp âu ca. Nói theo “Phong Thần Tái Diễn”, thì Đền Thánh, cũng như một cung điện của triều đại thời nhà Châu, trời người đồng trị thiên hạ thái bình.
Đền Thánh là Bát Quái Đài cũng là Bạch Ngọc Kinh tại thế. Đã đến ngày giờ Thiên cơ chuyển pháp, thiên điều phục nguyên thánh thể lại, cho nên chúng ta đừng dấu dím nữa, cũng chẳng có gì mà xấu mặt. Muốn trở thành con người Tam Điểm không phải là một việc dễ dàng có được ! Phải chăng nền văn minh của nhân loại hiện nay và cái quyền được sống tức định luật nhân quyền quốc tế của hàng tỷ người trên mặt địa cầu này…còn tồn tại đến ngày nay đều do thế giới Tam Điểm đàn anh đã đổ biết bao xương máu, dệt gấm thiêu hoa, tô đậm những nét son vàng tỏa sáng cho hành tinh xanh mãi trường tồn, cho đoàn hậu tấn của chúng ta thừa hưởng.
Chúng ta rất may duyên, phải hãnh diện và tự hào nói thật lớn cho cả thế giới biết rằng, Đền Thánh Tây Ninh là kinh đô Cực Lạc hay cung điện của thế giới Tam Điểm đời sau, do chính Tổ Sư kiến trúc HIRAM Hộ Pháp phục sinh tạo tác. Cũng là nơi dành để cho các bậc nguyên nhân, anh hào tuấn kiệt quy hồi cựu vị trong tinh thần thi hành nhơn nghĩa: ưu nhơn, ái vật, cải thiện dân sinh, làm cho đại đồng thiên hạ, ra thiệt tướng Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam lập đời Thánh đức.
Vậy mà 165 vị chức sắc lớn có biết Đạo là gì đâu? tỏ ra mình khôn rồi làm càn thò tay ký tên truất phế, cấm đoán, không nhìn nhận thầy của mình, định tội Thầy mình làm chính trị. Họ đã phạm thệ nghịch sư phản bạn ” thề Hộ pháp tận đọa tam đồ bất năng thoát tục”.
▪ Thử hỏi, đối với thế giới Tam Điểm đời sau trong cửa Đạo Cao Đài như chúng ta đây, những vị chức sắc những tay thợ rành nghề ấy (F.M) đã phản phúc bức tử Thầy (M) của họ và đám tùy tùng tại xứ người (Campuchia), cấm không cho về Đền Thánh phải tính như thế nào cho đáng tội? Không khác cái thảm sát giết Thầy của thế giới Tam Điểm đời trước, trong đám đệ tử có 3 người "thợ" âm mưu với nhau, ép buộc Đại Sư HIRAM (M) phải tăng lương họ lên bậc "thầy" và phải tiết lộ "bí truyền" cho họ, nếu không thì họ sẽ giết Đại Sư HIRAM.
Khuya đến, Đại Sư HIRAM đi tuần trong đền, thì bị 3 tên phản thầy phục kích giết chết. Chúng đem xác của Đại Sư ra chôn dưới gốc cây xiêm gai (Accacia). Trước khi chết Đại Sư HIRAM đã nhanh tay ném "chiếc tam giác bằng vàng" đeo nơi cổ xuống giếng sâu (bí mật hay còn gọi là bí pháp). Tam Giác ấy chứa đựng tất cả những điều bí mật mà tiên tri Moise đã truyền lại cho dân Do Thái, cùng tên họ của vị Đại Kiến Trúc Sư của vũ trụ.
Thảm trạng, trò phản Thầy của đời trước đã tái diễn lại trong cửa Đạo Cao Đài. Đại Sư HIRAM Hộ pháp (M) của thế giới Tam Điểm đời sau xác nhận tại xứ người “ Đức Ngài ra đi mang theo cả Hội Thánh, còn toàn bộ chức sắc tại Tòa Thánh Tây Ninh là một Hội Thánh Ngô Đình Diệm” thật đúng vậy. Họ tố cáo và truất phế Thầy của họ làm chánh trị năm 1957, tức gián tiếp giết chết Thầy của họ 2 năm sau đó (1959) tại Campuchia xứ lạ quê người và họ tự sát cả chính họ mà họ không hề hay biết. Vì sao? Họ chính là người của Hội Thánh Cửu Trùng Đài biến tướng thành Quân đội, dưới sự chỉ đạo của Hiệp Thiên Đài cầm quyền chánh trị là Đức Hộ pháp. Hãy nhận xét cái bí pháp tương liên giữa Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài là cơ quan hành chánh trị Đạo phát tiết Chơn khí xuất hiện quân đội Cao Đài trương cờ Bảo sanh nhơn nghĩa đại đồng.
- Đức lý là Chơn khí của Đức Hộ pháp, cũng như Cửu Trùng Đài là Chơn khí của HTĐ.
- Đời là Chơn khí của Đạo, cũng như Quân đội là Chơn khí của Chánh trị.
- Hành chánh là Chơn khí của Tư pháp, cũng như Thể pháp là Chơn khí của Bí pháp.
- Trò là Chơn khí của Thầy, ví như hình hài thể chất là Cơ khí của ý thức vậy.
Cái cảnh vị Đại Sư HIRAM Tam Điểm đời trước bị đệ tử thảm sát, nó tái diễn lại trong Tam Điểm đời sau cũng như Đại Sư HIRAM Hộ Pháp bị phản đồ bức tử, phế Thầy, quả thật đời trước và đời sau như hình với bóng vậy.
I- THỂ PHÁP TAM ĐIỂM (1926-1964).
Cửu Trùng Đài
“Cửu Trùng Đài là ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, Thầy sắm sẵn tại thế. Nó là cái không khí biểu (baromètre) để chỉ trước Thiên vị của mình. Lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy thì Thầy lựa chọn: nhứt Phật, tam Tiên, tam thập lục Thánh, thất thập nhị Hiền, tam thiên Đồ đệ, là Thầy nói Thầy đến hiệp các Đấng mà Thầy đã sai đến trước lại làm một mà làm Hình thể của Thầy hầu mở Tam Kỳ Phổ Độ. Ấy là Cửu Trùng Đài.”
Theo tinh thần của Thể pháp Tam Điểm, thì Hội Thánh Cửu Trùng Đài thờ Thiên Nhãn thi hành tam lập, nặng về lập công là cơ quan hữu tướng hành chánh trị đạo của một đoàn thể, trong đó gồm những vị chức sắc mượn tánh đức của các đấng thiêng liêng mà phụng sự nhơn sanh trong tinh thần thương yêu và công bằng.
Tổng cộng khoảng trên 3000 vị, thừa hành đấng cao nhứt là anh cả Giáo Tông.
Thần có 3 đẳng cấp chánh vị, thuộc Hội Thánh em:
- Địa Thần (Đạo Hữu) thi hành đúng như lời đã minh thệ, lo phụng sự cho dân, nêu gương tốt đại diện trong một xã. Đối với Tam Điểm là Tập nghề (F)
- Nhơn Thần ( Phó trị sự, Thông sự, Chánh trị sự), thi hành đạo đức nhơn nghĩa vượt trội hơn hẳn bạn đồng sanh trong một huyện. Tam Điểm gọi là Thợ bạn (F.M).
- Thiên Thần (Lễ sanh) thì lo phụng sự cho dân, do dân, vì dân, được dân mến dân thương mà tôn tặng lên một phẩm vị cao trọng đứng đầu trong cả tỉnh. Với Tam Điểm là Thầy nghề (M).
Hàng Thánh cũng có 3 cấp chánh vị, thuộc Hội Thánh anh trung ương:
- Địa Thánh (Giáo hữu dạy bạn) thuộc cơ quan hành pháp cầm quyền trị thế, nhằm mục đích phụng sự cho dân trong cả nước, được dân trọng dân thương, nêu gương sáng bằng tinh thần đạo đức nhơn nghĩa cho toàn dân noi theo, như các ban ngành Trung ương: Văn phòng Chính phủ, UB Quốc Hội, UB Mặt Trận … và các vì Bộ Trưởng... Tam Điểm gọi là tập nghề (F).
- Nhơn Thánh thuộc quyền của Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch nước, phải có tinh thần thương dân như con, trọng dân cũng như anh em ruột thịt của mình, để đúng với câu “ý dân là ý trời”. Lo cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh, làm được như vậy được toàn dân tôn tặng lên một phẩm vị Thánh sống tại thế, mà ngày xưa gọi là Bố Cái Đại Vương đáng làm cha mẹ của dân đó vậy. Thế giới Tam Điểm gọi là Thợ giỏi (F.M).
- Thiên Thánh là Ông Thầy của toàn dân trong một nước, muốn dạy dân phải thương dân, rồi xích lại gần dân đặng biết dân, muốn biết dân phải do dân, vì dân, lắng nghe dân, học nơi dân, làm theo nguyện vọng của dân mới xứng đáng làm Thầy của toàn một dân tộc. Giáo hóa và chăm lo phụng sự cho dân được lạc nghiệp âu ca, nước được hòa bình thịnh trị. Công nghiệp đó là ngôi vị của Tổng Bí Thư nước hay là Tổng Thống chỉ có một mà thôi, thế giới Tam Điểm gọi là Vị Đại Sư (M) đứng đầu một quốc gia được toàn dân tôn tặng.
Tiên cũng có 3 cấp, thuộc hàng lãnh đạo Hội Thánh anh.
Bằng tinh thần trí hóa tùy phương để phụng sự cho nhơn loại trên toàn thế giới về thể xác lẫn tinh thần được ấm no hạnh phúc, thiên hạ thái bình, được nhơn loại tôn tặng lên tột phẩm vị một Ông Tiên sống tại mặt thế gian này.
- Địa Tiên xuất hiện sở hành một ban Hội đứng đầu đại diện cho 1 Châu trong 5 Châu: Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc, Châu Phi, Châu Á. Như vậy có 5 ban đại diện của 5 Châu. Với Hội Tam Điểm gọi là Tập nghề (F).
- Nhơn Tiên một ban Hội xuất sắc đại diện thay mặt đứng đầu 5 ban Hội của 5 Châu lục, thuộc đẳng cấp toàn thế giới. Người Tam Điểm gọi là Thợ giỏi (F.M) có thể thay mặt Thầy (M).
- Thiên Tiên là đặc quyền quyết định của ban Đại diện Hội Đồng Liên Hiệp Quốc mà vị đứng đầu đó là Tổng Bí Thư (M). Hội Tam Điểm gọi là vị Đại Đạo Sư Vũ Trụ (M) của thế giới.
Tôn giáo Cao Đài đã dành để ngôi vị NHƠN ĐẠO cao trọng tối cao nhứt là ngôi GIÁO TÔNG (M), đạt phẩm vị Thiên Tiên là anh cả của toàn thể nhơn loại trên hoàn cầu nầy, chớ không phải riêng của một tôn giáo, một nước, hay một dân tộc, một đảng phái nào.
Ban sơ khai Đạo, Đại Sư HIRAM Hộ Pháp (M) là đấng đầu tiên sáng lập thế giới Tam Điểm đời sau trong cửa Đạo Cao Đài có khẳng định: “tại mặt thế gian nầy, đấng nào thu phục được tâm lý của nhơn sanh vào khuôn đại đạo, thi hành hai chữ nhơn nghĩa cho ra thiệt tướng thì ngôi vị Giáo Tông của người đó.”
II- BÍ PHÁP TAM ĐIỂM (1964-1968)
A- HỘI THÁNH QUỐC ĐẠO NAM PHONG VIỆT NAM (Trung ương)
Thuộc Hội Thánh trung ương đệ nhứt quyền, là phận sự của chư Thánh, chư Tiên tại thế, mượn phẩm vị giả trạng để định sở hành thiêng liêng vị, trong khuôn pháp thương yêu và quyền công chánh. Có tương liên với quyền hạng và đẳng cấp cũng không khác 3 cấp: Thầy (M), Thợ giỏi (F.M) và Tập nghề (F) như của Hội Tam Điểm đời trước.
Gồm: nhứt Phật, tam Tiên, tam thập lục Thánh, thất thập nhị Hiền, tam thiên Đồ đệ.
B- HỘI THÁNH QUỐC ĐẠO NAM PHONG (Địa phương)
Thuộc “Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong” của 800 trấn Chư Hầu nhà Châu từ trong ra ngoài nước có trên 5 triệu tín đồ, không có hai chữ “Việt Nam” cuối cùng, duy chỉ cấp Trung ương mới có một “Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam” mà thôi. Trước kia nhà Thương gọi Hội Thánh em là những Thánh Thất ở tại địa phương, nơi của chư Thần mượn phẩm vị để định sở hành xuất hiện, dìu dắt Tín đồ trên con đường Đạo và đường Đời trong khuôn luật thương yêu và pháp công chánh thi hành Nhơn Nghĩa, mà cùng nhau tấn hóa đoạt phẩm vị Thánh mới nhập vào hàng Thánh thể trung ương. Cũng là Thể pháp Tam Điểm đời sau, thuộc tông đường đệ nhị quyền được phân ra 3 cấp Thần: - Thầy (M), - Thợ giỏi (F.M), - Tập nghề (F).
- Vậy Hội Thánh cũ là một triều đại a dua xu nịnh, loạn luân thường đạo lý, gia đình trị của Bộ tộc (chi phái) nhà Thương Trụ Vương Đầu Sư Tám Thể pháp Thanh Hương, là một tàn dư của tinh thần Chủ nghĩa Tư bản còn tồn tại trong cửa Đạo Cao Đài; đã suy tàn, quá lạc hậu, mê tín, thoái hóa và biến chất đến mục nát chờ ngày đổ sụp; không còn phù hợp với thời đại mới Chá»