TAM ĐIỂM ĐỜI SAU
Trong Đạo Cao Đài
(TT)


Tiếp theo đề tài " TAM ĐIỂM ĐỜI SAU TRONG ĐẠO CAO ĐÀI"

     CHÁNH TRỊ ĐẠO LÀ GÌ ?
     Toàn thể các tôn giáo hiện có mặt trên thế giới nầy, có tôn giáo nào mà không làm chính trị Đạo để tạo Đời cải dữ ra hiền, nếu Đời hiền thì không cần có tôn giáo. Nếu tôn giáo không làm chánh trị thì dứt khoát không phải là một tôn giáo nữa! Như vậy tôn giáo không làm chánh trị để cứu Đời thì làm gì? Chẳng lẽ lập tôn giáo rồi xây cất đền chùa, thánh thất… để cho những kẻ nhu nhược yếu hèn, dị đoan mê tín, mượn danh đạo tạo danh đời vào đó ẩn mình để trốn tránh tội tình, mượn danh đạo tạo danh mình đặng lừa mị nhơn sanh mà thế gian thường gọi là quỷ chùa đúng lắm ? Hay là nơi dành để cho những kẻ trốn tránh cái nợ đồng sanh trong nhơn quần xã hội? trốn tránh cái trách nhiệm làm cha, làm mẹ, làm con… của một gia đình? Cao trọng hơn hết là trốn cái nợ quốc vương thủy thổ? Phải làm thế nào để thể hiện được cái tính dân tộc truyền thống ngàn đời oanh liệt của một quốc gia nữa chớ! Còn phải đào luyện cho tinh thần được trí hóa tinh tấn rồi cùng sánh vai với các nước khác trên trường quốc tế nữa kìa.
     Nếu một nền tôn giáo có Thể pháp để làm ngoại dung mà không có tinh thần chánh trị đạo Bí pháp nội dung để làm cơ quan cứu thế, thì chắc hẳn tôn giáo ấy chỉ là tả đạo bàn môn mà thôi. Vậy chánh trị đạo của tôn giáo Cao Đài là thế nào? là cái bí pháp thay cũ đổi mới, nói và làm thật nhằm mục đích phụng sự: ưu nhơn, ái vật, cải thiện dân sinh, làm cho đại đồng thiên hạ, ra thiệt tướng thiên đường tại thế gian nầy. Bằng mặt trận trí thức tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, lấy Pháp thương yêu và Quyền công chánh làm căn bản.
     Thể theo tinh thần nhơn loại của mỗi một quốc gia, mà các tôn giáo lập nền tảng chánh trị đạo để thu tâm thiên hạ bằng nhiều phương cách:
     - Thích giáo lấy từ bi, bác ái làm căn bản.
     - Đạo giáo lấy Thân làm căn bản.
     - Nho giáo lấy Trí làm căn bản.
     - Công giáo lấy Tâm làm căn bản.
     - Hồi giáo lấy Tín ngưỡng làm căn bản.
     - Cao Đài giáo lấy tinh thần “thương yêu và công bằng” làm căn bản.
     - Nhơn đạo lấy Nhơn nghĩa làm căn bản.
     - Thế giới Tam Điểm lấy “tự do, bác ái, công bằng” làm thước đo chân lý lập tân thế giới.
     ▪ Dân tộc Việt Nam lấy “tinh thần Đại nghĩa” của một nền Quốc Đạo Văn hiến 4000 năm dựng nước và giữ nước.
Chánh trị đạo của các vì giáo chủ cầm quyền tư pháp tức chủ về pháp, nắm quyền trị thế và giác thế. Các Đấng ấy muốn thu phục tâm lý nhơn sanh, nên phất lên chủ nghĩa để lấy làm làm cờ hiệu quy nhứt như: từ bi, thân, trí, tâm, tín ngưỡng, tinh thần, nhơn nghĩa… Muốn có lực lượng phải phổ độ chúng sinh lập thành Hội Thánh là cơ quan hành pháp, mà đời gọi là quân đội. Có chính trị mới phát sanh quân đội, nếu không có quân đội thì chính trị cũng khó có và nếu không có quân đội thì chính trị chỉ là một giả thuyết không có thật.
     Vậy chánh trị là hồn tức Đạo, còn quân đội là xác tức Đời. Cho nên, hồn và xác hay Đạo và Đời phải tương liên hiệp một mới mong tạo đời chuyển thế.
     Trong Đạo Cao Đài có Hiệp Thiên đài là hình trạng của Ngọc Hư Cung tại thế, nắm chính trị Càn khôn Vũ trụ, cầm luật thiên điều là Đạo do Đức Giáo chủ Đại Sư HIRAM Hộ pháp chưởng quản. Đức Ngài cho biết “Hộ pháp giáng trần cầm Bí pháp” và Ngài cũng nói rõ thêm “ Bí pháp mới là phận sự đặc biệt của Bần đạo, còn Thể pháp Bần đạo làm dùm cho thiên hạ”. Một bằng chứng, Ngài giao cho Đức Lý kiêm Giáo tông Cửu Trùng đài rồi còn gì.
      Đã đủ đầy minh chứng, với tư cách là Hiệp Thiên đài thuộc Đạo cầm quyền tư pháp, Đức Hộ pháp trở thành một vị Đại Đạo Sư gọi là Thượng Tôn Quản Thế vi chủ tinh thần quân đội Cao Đài, mà quân đội là do nơi 3 vị Chánh Phối sư thuộc Hội Thánh Cửu Trùng đài cầm quyền thống nhứt thành lập, đặng có phương trừ an nội loạn và ngoại loạn.
“Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự,
Giữa Tây phương nắm giữ thiên điều.
Dưới Ngọc Hư kể bao nhiêu,
Thiêng liêng các Đấng lập triều trị dân”.
     Như vậy Đền Thánh Cao Đài Tây Ninh là Bạch Ngọc Kinh tức Kinh đô Cực Lạc của một thế giới mới lạc nghiệp âu ca. Nói theo “Phong Thần Tái Diễn”, thì Đền Thánh, cũng như một cung điện của triều đại thời nhà Châu, trời người đồng trị thiên hạ thái bình.
     Đền Thánh là Bát Quái Đài cũng là Bạch Ngọc Kinh tại thế. Đã đến ngày giờ Thiên cơ chuyển pháp, thiên điều phục nguyên thánh thể lại, cho nên chúng ta đừng dấu dím nữa, cũng chẳng có gì mà xấu mặt. Muốn trở thành con người Tam Điểm không phải là một việc dễ dàng có được ! Phải chăng nền văn minh của nhân loại hiện nay và cái quyền được sống tức định luật nhân quyền quốc tế của hàng tỷ người trên mặt địa cầu này…còn tồn tại đến ngày nay đều do thế giới Tam Điểm đàn anh đã đổ biết bao xương máu, dệt gấm thiêu hoa, tô đậm những nét son vàng tỏa sáng cho hành tinh xanh mãi trường tồn, cho đoàn hậu tấn của chúng ta thừa hưởng.
     Chúng ta rất may duyên, phải hãnh diện và tự hào nói thật lớn cho cả thế giới biết rằng, Đền Thánh Tây Ninh là kinh đô Cực Lạc hay cung điện của thế giới Tam Điểm đời sau, do chính Tổ Sư kiến trúc HIRAM Hộ Pháp phục sinh tạo tác. Cũng là nơi dành để cho các bậc nguyên nhân, anh hào tuấn kiệt quy hồi cựu vị trong tinh thần thi hành nhơn nghĩa: ưu nhơn, ái vật, cải thiện dân sinh, làm cho đại đồng thiên hạ, ra thiệt tướng Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam lập đời Thánh đức.
     Vậy mà 165 vị chức sắc lớn có biết Đạo là gì đâu? tỏ ra mình khôn rồi làm càn thò tay ký tên truất phế, cấm đoán, không nhìn nhận thầy của mình, định tội Thầy mình làm chính trị. Họ đã phạm thệ nghịch sư phản bạn ” thề Hộ pháp tận đọa tam đồ bất năng thoát tục”.
     ▪ Thử hỏi, đối với thế giới Tam Điểm đời sau trong cửa Đạo Cao Đài như chúng ta đây, những vị chức sắc những tay thợ rành nghề ấy (F.M) đã phản phúc bức tử Thầy (M) của họ và đám tùy tùng tại xứ người (Campuchia), cấm không cho về Đền Thánh phải tính như thế nào cho đáng tội? Không khác cái thảm sát giết Thầy của thế giới Tam Điểm đời trước, trong đám đệ tử có 3 người "thợ" âm mưu với nhau, ép buộc Đại Sư HIRAM (M) phải tăng lương họ lên bậc "thầy" và phải tiết lộ "bí truyền" cho họ, nếu không thì họ sẽ giết Đại Sư HIRAM.
      Khuya đến, Đại Sư HIRAM đi tuần trong đền, thì bị 3 tên phản thầy phục kích giết chết. Chúng đem xác của Đại Sư  ra chôn dưới gốc cây xiêm gai (Accacia). Trước khi chết Đại Sư HIRAM đã nhanh tay ném "chiếc tam giác bằng vàng" đeo nơi cổ xuống giếng sâu (bí mật hay còn gọi là bí pháp). Tam Giác ấy chứa đựng tất cả những điều bí mật mà tiên tri Moise đã truyền lại cho dân Do Thái, cùng tên họ của vị Đại Kiến Trúc Sư của vũ trụ.
     Thảm trạng, trò phản Thầy của đời trước đã tái diễn lại trong cửa Đạo Cao Đài. Đại Sư HIRAM Hộ pháp (M) của thế giới Tam Điểm đời sau xác nhận tại xứ người “ Đức Ngài ra đi mang theo cả Hội Thánh, còn toàn bộ chức sắc tại Tòa Thánh Tây Ninh là một Hội Thánh Ngô Đình Diệm” thật đúng vậy. Họ tố cáo và truất phế Thầy của họ làm chánh trị năm 1957, tức gián tiếp giết chết Thầy của họ 2 năm sau đó (1959) tại Campuchia xứ lạ quê người và họ tự sát cả chính họ mà họ không hề hay biết. Vì sao? Họ chính là người của Hội Thánh Cửu Trùng Đài biến tướng thành Quân đội, dưới sự chỉ đạo của Hiệp Thiên Đài cầm quyền chánh trị là Đức Hộ pháp. Hãy nhận xét cái bí pháp tương liên giữa Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài là cơ quan hành chánh trị Đạo phát tiết Chơn khí xuất hiện quân đội Cao Đài trương cờ Bảo sanh nhơn nghĩa đại đồng.
     - Đức lý là Chơn khí của Đức Hộ pháp, cũng như Cửu Trùng Đài là Chơn khí của HTĐ.
     - Đời là Chơn khí của Đạo, cũng như Quân đội là Chơn khí của Chánh trị.
     - Hành chánh là Chơn khí của Tư pháp, cũng như Thể pháp là Chơn khí của Bí pháp.
     - Trò là Chơn khí của Thầy, ví như hình hài thể chất là Cơ khí của ý thức vậy.
     Cái cảnh vị Đại Sư HIRAM Tam Điểm đời trước bị đệ tử thảm sát, nó tái diễn lại trong Tam Điểm đời sau cũng như Đại Sư HIRAM Hộ Pháp bị phản đồ bức tử, phế Thầy, quả thật đời trước và đời sau như hình với bóng vậy.
      I- THỂ PHÁP TAM ĐIỂM (1926-1964).
     Cửu Trùng Đài
     “Cửu Trùng Đài là ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, Thầy sắm sẵn tại thế. Nó là cái không khí biểu (baromètre) để chỉ trước Thiên vị của mình. Lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy thì Thầy lựa chọn: nhứt Phật, tam Tiên, tam thập lục Thánh, thất thập nhị Hiền, tam thiên Đồ đệ, là Thầy nói Thầy đến hiệp các Đấng mà Thầy đã sai đến trước lại làm một mà làm Hình thể của Thầy hầu mở Tam Kỳ Phổ Độ. Ấy là Cửu Trùng Đài.”
     Theo tinh thần của Thể pháp Tam Điểm, thì Hội Thánh Cửu Trùng Đài thờ Thiên Nhãn thi hành tam lập, nặng về lập công là cơ quan hữu tướng hành chánh trị đạo của một đoàn thể, trong đó gồm những vị chức sắc mượn tánh đức của các đấng thiêng liêng mà phụng sự nhơn sanh trong tinh thần thương yêu và công bằng.
     Tổng cộng khoảng trên 3000 vị, thừa hành đấng cao nhứt là anh cả Giáo Tông.
     Thần có 3 đẳng cấp chánh vị, thuộc Hội Thánh em:
     - Địa Thần (Đạo Hữu) thi hành đúng như lời đã minh thệ, lo phụng sự cho dân, nêu gương tốt đại diện trong một xã.    Đối với Tam Điểm là Tập nghề (F)
     - Nhơn Thần ( Phó trị sự, Thông sự, Chánh trị sự), thi hành đạo đức nhơn nghĩa vượt trội hơn hẳn bạn đồng sanh trong một huyện. Tam Điểm gọi là Thợ bạn (F.M).
     - Thiên Thần (Lễ sanh) thì lo phụng sự cho dân, do dân, vì dân, được dân mến dân thương mà tôn tặng lên một phẩm vị cao trọng đứng đầu trong cả tỉnh. Với Tam Điểm là Thầy nghề (M).
      Hàng Thánh cũng có 3 cấp chánh vị, thuộc Hội Thánh anh trung ương:
     - Địa Thánh (Giáo hữu dạy bạn) thuộc cơ quan hành pháp cầm quyền trị thế, nhằm mục đích phụng sự cho dân trong cả nước, được dân trọng dân thương, nêu gương sáng bằng tinh thần đạo đức nhơn nghĩa cho toàn dân noi theo, như các ban ngành Trung ương: Văn phòng Chính phủ, UB Quốc Hội, UB Mặt Trận … và các vì Bộ Trưởng... Tam Điểm gọi là tập nghề (F).
     - Nhơn Thánh thuộc quyền của Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch nước, phải có tinh thần thương dân như con, trọng dân cũng như anh em ruột thịt của mình, để đúng với câu “ý dân là ý trời”. Lo cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh, làm được như vậy được toàn dân tôn tặng lên một phẩm vị Thánh sống tại thế, mà ngày xưa gọi là Bố Cái Đại Vương đáng làm cha mẹ của dân đó vậy. Thế giới Tam Điểm gọi là Thợ giỏi (F.M).
     - Thiên Thánh là Ông Thầy của toàn dân trong một nước, muốn dạy dân phải thương dân, rồi xích lại gần dân đặng biết dân, muốn biết dân phải do dân, vì dân, lắng nghe dân, học nơi dân, làm theo nguyện vọng của dân mới xứng đáng làm Thầy của toàn một dân tộc. Giáo hóa và chăm lo phụng sự cho dân được lạc nghiệp âu ca, nước được hòa bình thịnh trị. Công nghiệp đó là ngôi vị của Tổng Bí Thư nước hay là Tổng Thống chỉ có một mà thôi, thế giới Tam Điểm gọi là Vị Đại Sư (M) đứng đầu một quốc gia được toàn dân tôn tặng.
     Tiên cũng có 3 cấp, thuộc hàng lãnh đạo Hội Thánh anh.
     Bằng tinh thần trí hóa tùy phương để phụng sự cho nhơn loại trên toàn thế giới về thể xác lẫn tinh thần được ấm no hạnh phúc, thiên hạ thái bình, được nhơn loại tôn tặng lên tột phẩm vị một Ông Tiên sống tại mặt thế gian này.
     - Địa Tiên xuất hiện sở hành một ban Hội đứng đầu đại diện cho 1 Châu trong 5 Châu: Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc, Châu Phi, Châu Á. Như vậy có 5 ban đại diện của 5 Châu. Với Hội Tam Điểm gọi là Tập nghề (F).
     - Nhơn Tiên một ban Hội xuất sắc đại diện thay mặt đứng đầu 5 ban Hội của 5 Châu lục, thuộc đẳng cấp toàn thế giới. Người Tam Điểm gọi là Thợ giỏi (F.M) có thể thay mặt Thầy (M).
     - Thiên Tiên là đặc quyền quyết định của ban Đại diện Hội Đồng Liên Hiệp Quốc mà vị đứng đầu đó là Tổng Bí Thư (M). Hội Tam Điểm gọi là vị Đại Đạo Sư Vũ Trụ (M) của thế giới.
     Tôn giáo Cao Đài đã dành để ngôi vị NHƠN ĐẠO cao trọng tối cao nhứt là ngôi GIÁO TÔNG (M), đạt phẩm vị Thiên Tiên là anh cả của toàn thể nhơn loại trên hoàn cầu nầy, chớ không phải riêng của một tôn giáo, một nước, hay một dân tộc, một đảng phái nào.
     Ban sơ khai Đạo, Đại Sư HIRAM Hộ Pháp (M) là đấng đầu tiên sáng lập thế giới Tam Điểm đời sau trong cửa Đạo Cao Đài có khẳng định: “tại mặt thế gian nầy, đấng nào thu phục được tâm lý của nhơn sanh vào khuôn đại đạo, thi hành hai chữ nhơn nghĩa cho ra thiệt tướng thì ngôi vị Giáo Tông của người đó.”
     II- BÍ PHÁP TAM ĐIỂM (1964-1968)
     A- HỘI THÁNH QUỐC ĐẠO NAM PHONG VIỆT NAM (Trung ương)
     Thuộc Hội Thánh trung ương đệ nhứt quyền, là phận sự của chư Thánh, chư Tiên tại thế, mượn phẩm vị giả trạng để định sở hành thiêng liêng vị, trong khuôn pháp thương yêu và quyền công chánh. Có tương liên với quyền hạng và đẳng cấp cũng không khác 3 cấp: Thầy (M), Thợ giỏi (F.M) và Tập nghề (F) như của Hội Tam Điểm đời trước.
     Gồm: nhứt Phật, tam Tiên, tam thập lục Thánh, thất thập nhị Hiền, tam thiên Đồ đệ.
     B- HỘI THÁNH QUỐC ĐẠO NAM PHONG (Địa phương)
    Thuộc “Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong” của 800 trấn Chư Hầu nhà Châu từ trong ra ngoài nước có trên 5 triệu tín đồ, không có hai chữ “Việt Nam” cuối cùng, duy chỉ cấp Trung ương mới có một “Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam” mà thôi. Trước kia nhà Thương gọi Hội Thánh em là những Thánh Thất ở tại địa phương, nơi của chư Thần mượn phẩm vị để định sở hành xuất hiện, dìu dắt Tín đồ trên con đường Đạo và đường Đời trong khuôn luật thương yêu và pháp công chánh thi hành Nhơn Nghĩa, mà cùng nhau tấn hóa đoạt phẩm vị Thánh mới nhập vào hàng Thánh thể trung ương. Cũng là Thể pháp Tam Điểm đời sau, thuộc tông đường đệ nhị quyền được phân ra 3 cấp Thần: - Thầy (M), - Thợ giỏi (F.M), - Tập nghề (F).
     - Vậy Hội Thánh cũ là một triều đại a dua xu nịnh, loạn luân thường đạo lý, gia đình trị của Bộ tộc (chi phái) nhà Thương Trụ Vương Đầu Sư Tám Thể pháp Thanh Hương, là một tàn dư của tinh thần Chủ nghĩa Tư bản còn tồn tại trong cửa Đạo Cao Đài; đã suy tàn, quá lạc hậu, mê tín, thoái hóa và biến chất đến mục nát chờ ngày đổ sụp; không còn phù hợp với thời đại mới Chủ nghĩa Cộng Sản về mặt tinh thần đạo đức, con người mới của một thế giới mới thi hành Nhơn Nghĩa: thương yêu, công bằng, dân chủ, văn minh.
     - Phải thay cũ đổi mới ! Làm sống lại, phục sinh lại cái tinh thần đại nghĩa 4000 năm Văn Hiến của Dân Tộc Việt Nam, mà Đại Sư Giáo chủ Hộ Pháp đã tạo khối tinh thần anh dũng bất khuất ấy thành tướng Đạo Cao Đài và Đức Ngài quả quyết:
     “Văn Hiến 4000 năm có sẵn,
Chi cần dị chủng đến dâng công”.
     Đó là “Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam” của những tinh thần anh hùng tuấn kiệt, của các đấng Thánh đang cầm quyền trị thế, là những bậc nguyên nhân phi thường vì đạo tạo tinh thần cho quần chúng. mà Đại Sư HIRAM Hộ Pháp đã lấy giống dân Việt Nam làm cơ quan cứu thế, làm giềng mối kết liên với các tôn giáo trên toàn thế giới, không phân biệt chủng tộc; tôn giáo; đảng phái, nhìn nhau như anh em ruột thịt thi hành nhơn nghĩa tiến đến đại đồng.
Kiến trúc sư HIRAM còn gọi là Đại Sư HIRAM là ông tổ của Hội Tam Điểm đời trước, cho thiết lập 3 đẳng cấp tùy theo khả năng chuyên môn của mỗi người. Điều nầy giúp ông dễ dàng chỉ huy và cấp phát lương bổng mà không gây điều dị nghị. Đại Sư HIRAM truyền cho mỗi người một mật hiệu và những dấu chỉ, để nhận nhau trong cùng đẳng cấp với mình. Có 3 đẳng cấp:
      1. Tập sự (apprenti: F) với mật hiệu là JAKIN.
      2. Thợ (compagnon: F.M) với mật hiệu BOAZ.
      3. Thầy (maître: M) với mật hiệu là JEHOVAH.
     Đối với Bí pháp Tam Điểm đời sau, Đại Sư HIRAM Hộ Pháp cũng chơn truyền bí pháp, và ban căn, định vị giao sứ mạng cho các môn đồ đặng thi hành phận sự. Ví như, Đức Hiến pháp Trương Hữu Đức được Đại Sư định:
     - Căn là Từ Hàng Quan Âm. Ý nói Quan Âm gốc do nơi Đức Di Lạc mà có.
     - Hiến pháp là sứ mạng từ Hiệp Thiên Đài, gìn giữ Mật pháp cho Đại Sư Hộ pháp.
     - 1 trong 12 Thời Quân thuộc chi Pháp tức trong nội thân của Đức Hộ Pháp.
     ▪ Bí Pháp: Hiệp Thiên Đài (HTĐ): Đại Sư HIRAM Hộ Pháp (M) biết trước sự việc trò phản thầy, sẽ xảy ra trong nội bộ tại Tòa Thánh Tây Ninh năm 1957, nên Đức Ngài không để trễ như Tổ Sư HIRAM đời trước mà ủy quyền chơn truyền Mật pháp cho Đức Hiến Pháp (F.M), từ Thánh lịnh 65 năm 1956 tại Campuchia “điều hành đạo sự tại Tòa Thánh Tây ninh và mở lớp Bí pháp HTĐ năm 1964-1968.
     ▪ Bí Pháp: Tam Điểm Hạo Nhiên: Đại Sư Hộ Pháp dạy: “ngày giờ nào Bí pháp còn duy chủ quyền Đạo chỉ là giả tướng mà thôi.” Cho nên Đại Sư HIRAM Hiến pháp thọ truyền Bí pháp cho 1 đệ tử vừa ý nhứt trong 18 vị, là ông Du Văn Siêu, căn Chuẩn Đề Bồ Tát (F.M), giao khai quát mở cửa Bí pháp Phạm môn Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên tại thế năm 1969-1986, được Đại Sư HIRAM Hộ Pháp ban bút hiệu Phi Phàm.
     ▪ Chơn Pháp: Tam Điểm Hạo Nhiên: Năm 1986-2006 Đức Chuẩn Đề chơn truyền Bí pháp cho Ngài Phổ Hiền Bồ Tát, thiên mạng lo về Pháp chuyển nhập Cực Lạc quốc.
     ▪ Chơn Đạo: Tam Điểm Hạo Nhiên: Mãi đến năm 1998-2013 Đức Phổ Hiền trả “Thân Công Báo thuộc gốc Hạo Nhiên nên trả về gốc…”, lãnh sứ mạng lo về Tăng thi hành nhơn nghĩa bảo thủ chơn truyền chánh pháp, thực hiện đạo đời tương đắc, vạn linh hiệp chí linh.
     Thế là Bí pháp chơn truyền bắt đầu từ năm 1964 được chuyển pháp an toàn mai danh ẩn tích trong vòng bí mật trên 40 năm. Mãi cho đến năm 2006, Chơn đạo mới vận hành bằng phương pháp luận, trên mặt trận trí thức tinh thần đạo đức nhơn nghĩa nói và làm thật, xuất hiện tại mặt thế gian nầy cho đến nay.
     Tuy trên lý thuyết văn bản có lưu lại và trình bày từng chi tiết, nói và làm trước mắt thiên hạ, nhưng tin chắc đến ngày giờ nầy cả 2 quyền đạo và quyền đời vẫn không biết thế nào là Thể pháp và Bí pháp của đạo? Vậy Bí pháp là gì? Họ là ai? Muốn gì ? Đang và sẽ làm gì? Những kẻ phàm tục mà người Tam Điểm thường gọi, họ không bao giờ biết những gì thuộc về thế giới Tam Điểm. Cho dù người trong cuộc cũng không biết rõ nhau, càng gần nhau, thân nhau lại càng không biết rõ về nhau, tìm càng nhiều càng dốt, trí thức cao chừng nào dễ bị lầm chừng nấy. Đó là cái chính trị tâm lý để giúp cho tự thân đào luyện mà tiến hóa, thứ hai là thương lún thương càn nhưng chớ đừng nên tin lún tin càn, là phương sinh tồn bảo thủ chơn truyền mật pháp. Muốn giả hay thật là còn do nơi tâm thật của chúng ta, muốn cùng chẳng muốn cái thật hay giả mà thôi, muốn cái nào trao cái nấy.
     Võ Vương hưng Châu phạt Trụ được thành công mỹ mãn cũng là nhờ Ông thu phục được nhân tâm, 800 trấn chư hầu quy thuận, bởi vì Ông là một vì vua nhân đức thương dân như con, lấy tinh thần đạo đức nhơn nghĩa mà làm giềng mối tâm lý cho hòa bình hạnh phúc.
     Gồm tất cả những chư vị: Thần, Thánh, Tiên, Phật tay thợ giỏi rành nghề điêu luyện do vị Đại Sư kiến trúc HIRAM Hộ Pháp đào tạo và lựa chọn để thay Ngài. Đó là những đàn cựu lãnh sứ mạng từ vị Đại Sư ẩn mặt qua cơ bút mượn danh nghĩa Chí Tôn vô vi…, truyền mật khẩu, thông tin qua trung gian… nhằm mục đích tuyển chọn tiếp những tập sự (F) và hướng dẫn cho họ trở nên những người thợ giỏi (F.M), rồi sắp xếp có hàng thứ đẳng cấp tùy theo khả năng, kiến thức nhận xét và học hỏi làm việc của mỗi người, lấy 3 điểm “tự do, bác ái, công bằng” làm căn bản. Còn với Tam Điểm đời sau lẽ đương nhiên phải có tự do quyền, chỉ lấy 2 điều “thương yêu và công bằng” làm chánh pháp.
Tinh thần của Thể pháp Tam Điểm nặng về lập công như xây cất, phước thiện, độ tử…do vậy còn phải tuyển chọn về đức tin, tri hành hiệp nhứt, buộc phải minh thệ lấy sinh mạng mình đặng giữ chữ tín, đối với hạng Tập sự mới nhập môn vào Hội gọi là Đạo hữu, thì thề có ban Trị sự làm nhân chứng:
     - Người Minh Thệ, đọc tên họ và tuổi của mình, rồi: “thề rằng từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục.”
Lời Minh Thệ nầy do Đức Chí Tôn giáng cơ lập ra, chớ không phải do một người phàm nào đặt để, nên có tính cách thiêng liêng huyền bí.
     Câu Minh Thệ gồm 36 chữ, số 36 là bội số của 12, mà số 12 là số riêng của Đức Chí Tôn. Được phân ra tam bửu của 2 phẩm NHƠN THẦN (Chánh, Phó, Thông) và ĐỊA THẦN đầu tộc đạo là THIÊN THẦN (Lễ sanh) như sau:
     1- Thần: “thề rằng từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế. (Chánh trị sự: Đầu sư em).
     2- Khí: chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ. (Phó trị sự: giáo tông em).
     3- Tinh: gìn luật lệ Cao Đài. (Thông trị sự: Hộ pháp em).
     ▪  Người: như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục.”(Đạo hữu: Địa Thần).
     Quả thật lời minh thệ của Đạo hữu phẩm vị Địa Thần có cái Bí pháp hiệp quyền và phân quyền rất sâu sắc. Đạo hữu là người có Đạo, dù có tin Đạo, hiểu Đạo cũng vẫn chưa biết Đạo là gì? Đạo là một khối thương yêu công bằng hóa sanh vạn vật mà chúa tể của thế giới vật chất là con người, cho nên con người là thiệt tướng của khối thương yêu ấy mà thành hình, con người là chúa tể của sự thương yêu thay khối Đại linh quang tạo hóa tại thế nầy. Vì sao ta biết Đạo? Phải chăng do các vì Giáo chủ của các tôn giáo mở Đạo, dạy Đạo… mới giúp cho con người biết Đạo, các đấng ấy cũng là người như chúng ta, nhưng có khác hơn chúng ta là các đấng ấy mang một khối ái truất quần sanh, khoan dung tha thứ và nhân từ độ lượng, đấng tối linh trong vạn linh mà xuất hiện. Năm 1926 Đức Ngài Phạm Hộ pháp cũng đạt được Bí pháp chơn truyền từ đấng ấy, và cũng từ các đấng ấy mà phục sinh, phù hợp với sự đòi hỏi của nhơn loại trong thời buổi hiện đại khi vật chất đang vi chủ về mặt đạo đức tinh thần, Đức Ngài quyết định khai mở Đạo Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ.
     Thần là một khối thương yêu, người có Đạo mà không thoát 3 Thần phẩm có nghĩa đoạt vị được thì đừng trông mong vào hàng Thánh thể Đức Chí Tôn cho đặng, hóa ra là ác Thần chớ không phải hiền Thần, nếu là ác Thần mà lên nắm quyền trị thế dạy bạn có nghĩa là Giáo hữu phải lào thông chơn đạo thì quả quyết đó là ác Thánh chắc hẳn vậy. Cho nên đậu hay rớt, giả hay thiệt cũng từ căn bản 3 phẩm vị Thần giúp cho Địa Thần đạt phẩm vị người tại mặt thế gian nầy. Thế thì cơ đạo trên 80 năm, thử hỏi có mấy ai đoạt phẩm vị Thần sống chánh vị trong cửa đạo Cao Đài, xin cho biết? Nếu không đạt thiên phẩm chánh vị thì quả nhiên Đại Sư Hộ pháp cảnh báo đều là phẩm giả trạng đúng lắm vậy.
Đại Sư Hộ pháp còn nhắc nhỡ: “trên đầu các con đều có mão Giáo tông (Phó trị sự) và Hộ pháp (Thông trị sự)”, ý của Ngài cảnh tỉnh vừa chơn truyền cho chúng ta hãy ráng giữ gìn lời minh thệ, để thoát 3 Thần phẩm mới xứng đáng là hàng Thánh thể của Ngài đặng lập đời Thánh đức. Cho nên Đức Hộ Pháp khẳng định “thoát 3 Thần phẩm đứng đầu tam Thiên”.
     Minh thệ xong mới nhìn nhận là một Đạo Hữu, thuộc tinh thần Thể pháp Thanh Hương tức Thể pháp Tam Điểm thờ Thiên Nhãn, dạy cho biết thương người như tánh đức của mặt trời vậy.
Nhưng đặc biệt, khi lãnh phận sự dầu cho chức sắc Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài hay phước thiện cũng phải minh thệ với Đức Hộ Pháp như sau:
     Trước bàn thờ Hộ Pháp:
      (Chỉ dành cho Chánh Trị Sự và Thông Sự, vì 2 Chức-vụ nầy có giữ về Luật Pháp của Đạo).         Tôi là . . . . . . . . . . .ở Hương Đạo . . . . . . . . . . . .lảnh chức . . . . . . . . . .thề rằng: "Từ đây tôi giữ dạ vô tư hành đạo, dầu cha mẹ, anh, chị, em, vợ con, chẳng đặng phép tư vị, giữ dạ chơn thành, thế Thiên hành đạo mà dìu dắt cả anh em chúng tôi đều là môn đệ của CAO ĐÀI NGỌC ĐẾ, trọn trung cùng Hội Thánh, nhứt nhứt do lệnh Chức sắc bề trên, coi cả tín đồ như anh em ruột, không đặng chuyên quyền, chẳng đặng vạy tà, như ngày sau tôi có bội sư phản bạn, đổi dạ thay lòng, thì tôi thề HỘ PHÁP TẬN ĐỌA TAM ĐỒ BẤT NĂNG THOÁT TỤC".
     Nếu được Đức Hộ Pháp nhìn nhận cho vào Bí pháp Phạm môn, hết thảy chức sắc, chức việc đều phải giải thể để trở thành một tín đồ, muốn vào cửa phật tất cả đều ngang hàng phẩm giá xem nhau như anh em ruột thịt, có cùng chung một Thầy là vị Đại Đạo Sư Hộ pháp là Ông Thần chơn thật mà thôi.
     Hội Thánh Quốc Đạo duy có một, dầu biến ra trăm hình, ngàn trạng thành Đại Đạo đi nữa cũng hoàn lại chỉ có một chủ quyền là Thánh Thể Đức Chí Tôn đó thôi, hể tâm lý của kẻ phàm tâm muốn phân chia tạo thành giả pháp sẽ bị chơn truyền của Đức Chí Tôn từ từ tiêu diệt hết. Chúng ta tu hay là không tu, nếu tu thì phải hiền, như còn muốn dữ, thì bước cho xa cửa đạo.
     “Còn Tam Trấn Oai Nghiêm, Thầy lập đặng thay mặt cho Thầy nơi Cửu Trùng Đài cầm quyền Chánh trị, là Phật đó vậy. Cửu Trùng Đài phù hạp với Cửu Trùng Thiên thì dầu cho cả chơn linh trong Càn khôn thế giới cũng phải vào nơi đó đoạt cho đặng các phẩm vị giả trạng ấy, mới mong lập Thiên vị mình. Chẳng vào cửa Đạo hiệp cùng Cửu Trùng Đài thì chẳng đi đường nào mà vào Cửu Trùng Thiên cho đặng.”
     ▪ Toàn bộ hàng chức sắc của Thể pháp Thanh Hương đã giải thể kể từ khi Đạo lịnh 01-1979 được ban hành, trước và sau năm 1979 cho đến nay…đều thuộc tinh thần ”THỂ PHÁP TAM ĐIỂM” thầy của họ là THIÊN NHÃN.
     1/ BÍ PHÁP HIỆP THIÊN ĐÀI (1964-1968)
     Khi Ngài Hiến Pháp được Đức Hộ Pháp (M) ủy quyền “Điều hành Đạo sự tại Tòa Thánh Tây Ninh”, từ Thánh lịnh 65 năm 1956 tại Campuchia. Đức Hiến pháp (F.M) là một Tín Đồ trung kiên vừa ý nhứt, hơn nữa pháp chánh truyền đã định Hiến pháp thuộc chi Pháp, là 1 trong 12 thời quân nắm Mật pháp của HTĐ tức được Đức Hộ Pháp tiết lộ những điều bí mật. Cũng như Đức Hiến pháp (F.M) được vị Đại Sư HIRAM (M) đời trước đã phục sinh thay xác Phạm Công Tắc, khai sáng Hội Tam Điểm đời sau trong cửa Đạo Cao Đài.
     Không như Tam Điểm trời trước, chính Đại Sư HIRAM Hộ pháp còn sống tại thế đã ủy quyền truyền bí pháp chiếc Tam Giác bằng vàng cho Ngài Hiến Pháp năm 1956, trong Tam Giác ấy chứa đựng tất cả những điều bí mật, không một ai được biết. Mãi đến năm 1964 – 1968, Đại Sư  Hiến Pháp (M) thay quyền Đức Hộ pháp mới mở lớp Bí Pháp Hiệp Thiên Đài gọi là “Viện Đại Học Đạo Tâm”, để chuẩn bị cho cơ giải Thể phần Thể Pháp Thế Đạo của Tịch đạo Thanh Hương, đặng thay cũ đổi mới chuyển sang Tịch Đạo: Đạo Tâm giúp cho Bí pháp ra thiệt tướng Cực Lạc thế giới.
     Bắt đầu từ giai đoạn nầy, thì bất cứ những gì thuộc về Bí pháp Hiệp Thiên Đài mà Hội Tam Điểm đời trước gọi là Hội Kín mai danh ẩn tích vận hành trong bí mật, chỉ có người trong cuộc mới biết.
     Bí pháp chơn truyền trong Tam Bửu của Đại Sư Trương Hiến pháp Quan Âm:
     - chơn linh: Hộ pháp (M), tạo cảnh Cực Lạc quốc.
     - chơn thần: Hiến pháp (F.M), giáo hóa chơn truyền,đem chơn pháp cho vạn linh đạt.
     - chơn khí: Đại sư HIRAM (M) giúp cho bí pháp ra thiệt tướng thế giới đại đồng.
    + Tam Bửu hiệp nhứt trong thánh thể của Ngài Trương Hữu Đức thì Đại Sư HIRAM Hiến Pháp (M) phục sinh phát tiết chơn khí, giáo hóa chơn truyền phổ tế chúng sanh đạt pháp nhìn nhận sở hành tại thế.
     “Một nền Tôn Giáo nào đã xuất hiện tại thế gian này dầu Thể pháp cao siêu bao nhiêu đi nữa, nếu không có Bí pháp (Hội kín) làm tướng diện căn bản, thì nền Tôn Giáo ấy chỉ là Bàn Môn Tả Đạo mà Thôi. “
     Minh thệ
  
   Được sự độ dẫn của Tập nghề (F), người mới xin gia nhập vào Bí Pháp Tam Điểm phải chịu thử thách đủ điều khoảng 3 tháng, rồi buộc phải minh thệ tin tưởng Thầy, anh em bạn đồng môn của mình, không nghịch sư phản bạn, nếu phạm thệ, thề có “Hộ Pháp tận đọa tam đồ bất năng thoát tục”. Sau khi minh thệ phải học và làm đặng xuất hiện sở hành. Xét thấy tương đối đủ đầy bằng chứng đức tin, khôn ngoan sáng suốt thì Tập nghề giới thiệu lên Thợ giỏi (F.M) được Đại Sư tin tưởng giao thay mặt Ngài xử đoán mọi sự, tiến hóa sớm hay muộn là còn do nơi sự đào luyện nhận thức và học hỏi của mỗi người. Rất hiếm có ai được may duyên chỉ một lần gặp mặt vị Đại Sư (M) thôi, điểm lại không có mấy người, chớ đừng nói chi được Ngài dạy trực tiếp rồi chơn truyền Bí Pháp chỉ có một mà thôi. Quả thật thế gian khó đoán !
     2/ BÍ PHÁP: TAM ĐIỂM HẠO NHIÊN (1969-1986)
     “Theo Bí Pháp chơn truyền thì Ngọc Hư cung (Đại Sư Hộ Pháp. M) đã giao quyền  cho Lôi Âm tự (Hiến pháp. F.M), tức Cực Lạc Thế Giới cầm pháp xây chuyển thiên thơ. Nên cung Hạo Nhiên Pháp Thiên (Chuẩn Đề Bồ Tát. M) tức là cửa Niết Bàn (Tây Phương Cực Lạc) xuất hiện.
     Nói về Pháp Chánh Truyền thì Hiến Pháp nắm Mật Pháp, nên Đức Hộ Pháp đã giao cho Đức Ngài một nhiệm vụ yếu trọng là khai quát Phạm Môn Trí Huệ tức cửa Phật Hạo Nhiên Pháp Thiên để minh chứng sự xuất hiện Bí Pháp của Đạo Cao Đài. Vì một khi Thánh Thể Đức Chí Tôn giải thể mà không có lưu hậu chứng cứ, không có hậu nhân kế chí bảo thủ Pháp Chánh Truyền để cho cơ Đạo đến hồi thất pháp thì câu nghi vấn Hiệp Thiên Đài là tòa ngự của Đức Chí Tôn, “ Dù cho còn một mặt Tín Đồ, Hội Thánh vẫn giữ bản quyền Hội Thánh” phải giải đáp sao đây khi không còn Bí Pháp nữa?
Nói rõ hơn, Đại Sư Chuẩn Đề Bồ Tát (M) Chưởng Quản Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên đã được thọ truyền Bí Pháp do chính vị Đại Sư Hiến Pháp (M) Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, quyền năng Hiến Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài cũng như Hộ Pháp vậy, làm cho lời khẳng định: “Chủ quyền Chơn Đạo một mình ta” của Đức Chí Tôn phải thành sự thật.
     Chính vì lẽ ấy, cho nên Chơn Pháp Cao Đài là thiệt hiện Niết Bàn tại thế. Như Đền Thánh là Bạch Ngọc Kinh tại thế. Trong lớp Bí Pháp HTĐ, Đức Phi Phàm nhắc lại lời của Ngài Đại Sư Hiến Pháp:
      - Qua nhìn nhận em tư (Du văn Siêu) là đệ tử số một, căn của em là Chuẩn Đề Bồ Tát, được Đức Hộ Pháp ban bút hiệu Phi Phàm.
     Tam Bửu của Đức Phi Phàm:
     - Chơn linh: Hộ Pháp, thiên mạng lo về phật tạo Cực Lạc thế giới.
     - Chơn thần: Hiến Pháp, thiên mạng lo về Pháp giáo hóa chơn truyền phổ độ vạn linh.
     - Chơn khí: Đại Sư HIRAM Chuẩn Đề, thi nhơn đạo và thiên đạo.
     Tam bửu hiệp nhứt trong thánh thể Phi Phàm là Đại Sư HIRAM Di Lạc, là vị chưởng giáo Cực Lạc thế giới chủ trường “Viện Đại Học Đạo Tâm” cung Hạo Nhiên Pháp Thiên.
     Đức Phi Phàm cho biết “hiện giờ Phổ Hiền ở ngoại quốc, sau nầy về đây giúp mình”.
     Ông còn báo trước: “Bây giờ người ta chê mình không chịu học, thì sau này sẽ học đệ tử chót”. Cũng có vài anh em tò mò muốn tìm hiểu về việc này, Đức Chuẩn Đề rầy:
     - Làm không lo làm, tìm chi mấy chuyện đó! Ông Thánh hiện là ông Thánh dốt, còn Thánh ẩn là ông Thánh hữu học cao hơn. Nếu mình có công, thì dù trốn trong hang núi hay ở đâu đi nữa, sau nầy nhơn sanh họ cũng tìm họ lôi ra lập bàn hương án.
      “ Nói về Bí Pháp là đề cập đến thế giới thần linh có liên đới cùng vật thể. Bí Pháp là kín đáo, khó hiểu, không thể lậu ra. Bí Pháp là huyền diệu pháp, nguyên tắc là vận hành. Bí Pháp là vận hành kín, tri hành là biện pháp bí mật bằng tinh thần mà kết quả biểu lộ ra bằng vật thể. Thấy đặng  nghe đặng hoặc bằng vật thể mà có kết quả về mặt tinh thần. không thấy không nghe mà vẫn có hiệu lực, nói rõ là vận dụng bằng tinh thần mà hiện tượng lộ ra bằng vật thể.
     Bí Pháp không phải tìm mà có, nhưng nó có sẵn ở bực chơn tu đại đức được lựa chọn để điểm đạo, những bậc được thọ truyền là mang một mối nợ giúp đời, được tiếng là ân nhân của vạn loại. Còn người được cái tốt đẹp của nó là chúng sanh hữu đức cùng người có nguyên căn, thế thường vật rất ít là quý. Thường ở nơi tay người có đủ điều kiện sử dụng, ngoài ra là những cái hư không.”
     “Bí Pháp chơn truyền là quyền năng vô đối của Đức Chí Tôn cầm nơi tay. Ngài đến cùng con cái của Ngài, ban cho mỗi người một quyền hành, đủ phương pháp đủ quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình “.
Truyền bá đức tin thờ Đại Sư HIRAM Hộ Pháp.
     Theo truyền thuyết thì Hội Tam Điểm đã xuất hiện từ tạo thiên lập địa, có mặt ở khắp nơi trên thế giới, từ Âu sang Á được phân ra làm 2 thời kỳ, HTĐ đời trước và HTĐ đời sau. Sự vận hành và phát triển của HTĐ đời trước được chia ra làm hai giai đoạn là Thể pháp và Bí pháp, Hội Tam Điểm đời sau cũng có Thể Pháp và Bí Pháp. Dù Tam Điểm đời trước hay đời sau cũng có chung một sự nhận thức rõ rệt, là tinh thần của Tam Điểm Thể pháp thì thờ và tin Thiên Nhãn là Thượng đế, còn TAM ĐIỂM BÍ PHÁP thì thờ và tin vị ĐẠI SƯ khai sáng Hội Tam Điểm là THẦY, thay mặt Thượng đế tại thế giáo hóa chơn truyền phổ tế chúng sinh, do nơi đức tin hữu hình cho nên Bí pháp Tam Điểm mới mai danh ẩn tích đặng sinh tồn.
     Sự vận hành kín của Bí pháp Hạo Nhiên từ năm 1969 cho đến 1986 vẫn năm mai danh ẩn tích trong màn bí mật. Người Tam Điểm đời sau ở giai đoạn nầy thường trao đổi và học hỏi với nhau trước mắt thiên hạ, nơi quán tiệm cà phê… sinh hoạt bình thường ngoài xã hội cũng như bao nhiêu người khác. Nhưng có một điểm đặc sắc là họ thường xử dụng “nói tiếng lạ” mà chúa Jêsus Chrits có phân tích, “đấng nói tiếng lạ” dành để cho các đấng thiêng liêng nói chuyện với nhau, và nói với Đức Chúa Trời, thế gian làm sao biết được, nên cần phải có “đấng thông giải” nhơn sanh mới hiểu. Thủ thuật ẩn tích “Nói tiếng lạ” nhằm mục đích không cho người khác biết mình nói gì, mà các tôn giáo gọi là Pháp giới hay mật pháp, hoặc nói rõ là mật mã của đạo học.
     Khi cần thiết người Tam Điểm không xưng hô gọi tên bình thường… mà sở dụng thiêng liêng mượn danh nghĩa các đấng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, Trời; hoặc họ phú, tỷ, hứng tích xưa rồi chuyện nay… mượn cảnh nói vật, mượn người ta nói về mình, chỉ có họ biết thôi. Người ngoài cuộc nghe, họ lắc đầu bảo “tụi đó nói chuyện trên trời dưới đất không hè !” cái cách mai danh là đó vậy, chớ không phải mai danh ẩn tích là trốn nhủi trốn chui ẩn mình trong bóng tối. Cái đặc sắc của thế giới Tam Điểm là mình biết người ta, nhưng không cho người ta biết mình.
Cách thức gia nhập hội viên
     Muốn gia nhập Hội Tam Điểm đời sau cũng gần giống như đời trước, người phàm tục (profane) phải tự nguyện xin gia nhập có hai người thuộc đẳng cấp là đàn anh thợ giỏi (F.M) đã hướng dẫn một thời gian, tin nhau đến với nhau bằng tinh thần, không bằng giấy tờ giả tướng. Khi thấy được rồi đứng ra bảo lãnh cho minh thệ ở các cơ sở Phi Phàm chi nhánh mật, đặt tại tư gia của người Bí pháp Tam Điểm. Sau một hoặc hai năm do sự tấn hóa học và làm để xuất hiện sở hành, tạo dựng đức tin sớm hay muộn là còn tùy thuộc ở mỗi người gọi là tập sự (F), nếu đạt kết quả tốt thì được sự nhìn nhận kín của vị Đại Sư (M) thăng cấp là thợ (F.M) qua trung gian người trực tiếp hướng dẫn. Có rất nhiều thợ giỏi, nhưng chưa chắc tất cả những người thợ nầy được gặp mặt Đại Sư đâu! Ngài biết ta, chớ ta không biết rõ về Ngài, bởi vì Đức Ngài mai danh ẩn tích đó là cơ sinh tồn. Đặc biệt đẳng cấp thầy là Đại Sư HIRAM Hộ Pháp (M) duy chỉ có một Chơn linh chớ không có hai.
     Dấu hiệu Tam Điểm Cao Đài
     Dấu hiệu của người Tam Điểm đạo Cao Đài là hai bàn tay bắt ấn tí. Trên bàn tay trái, vị trí của Tí ở tại chân ngón áp út, Sửu ở chân ngón giữa và Dần ở chân ngón trỏ. Ấn Tí là cái ấn mà ngón tay cái của bàn tay trái co lại chỉ vào chi Tí rồi nắm lại, bàn tay mặt ốp bên ngoài mà ngón cái chỉ vào chi Dần của bàn tay trái.
     Cách bắt Ấn TÍ :
     Ấn Tí là cái ấn đặc biệt của Đạo Cao Đài, cách bắt như sau : (Xem hình vẽ 1,2,3,4)
     -  1 : vị trí của ba Địa chi : Tí, Sửu, Dần trong thập nhị Địa chi nơi bàn tay trái.
     -  2 : ngón cái co lại đặt tại chi Tí, ý nghĩa là: Thiên khai ư Tí (Trời mở ở hội Tí).
     -  3 : nắm bốn ngón tay trái lại, bên trong có ngón cái làm như cái hột ở giữa.
     -  4 : bàn tay mặt ốp bên ngoài nắm tay trái ấy, ngón cái của bàn tay mặt đặt vào vị trí chi Dần của tay trái, ý nghĩa : Nhơn sanh ư Dần (Người sanh ra ở hội Dần).
     Thể Pháp Tam Điểm chuyển sang Bí Pháp Tam Điểm (bí mật).
     Hội Tam Điểm (Freemasonry, Francs maçons) là một tổ chức huynh đệ có nguồn gốc huyền bí từ thời Trung Cổ và chính thức ra đời ở thị trấn nhỏ Warrington, Anh quốc năm 1646. Hội này kết nạp các hội viên thông thái và bác ái để huấn luyện nhau bằng biểu tượng và các nghi lễ một cách bí truyền, phi giáo điều nhằm tiến tới sự hoàn thiện của nhân loại.
     Hội Tam Điểm đời sau cũng có nguồn gốc huyền bí từ Thượng đế và các đấng thiêng liêng giáng linh như Hội Tam Điểm đời trước, họ thường tham gia vào các hoạt động từ thiện, phát triển tình huynh đệ và tôn trọng và học hỏi về những giá trị đạo đức, mong muốn chia sẻ công việc và đóng góp lợi ích cho xã hội. Đến nay, thành viên của Hội Tam Điểm đời sau được phân ra làm hai tinh thần:
Bí pháp Tam Điểm tin và thờ vị Đại Đạo Sư HIRAM Hộ Pháp (M) thay trời hữu hình tại thế, được chia ra làm 2 tinh thần:
     1- Thể pháp Tam Điểm Cửu Trùng Đài: tin và thờ Thiên Nhãn là Thượng đế vô vi, hiện có mặt trong toàn quốc và  khắp nơi trên thế giới gần 10 triệu hội viên, từ năm 1926 đến nay.
     2- Thể Pháp Tam Điểm Hiệp Thiên Đài (1926-1981): tức gốc của Hội Tam Điểm, có 15 vị chức sắc là những thợ giỏi (F.M), gọi là đoàn ngự mã Thiên quân tiền khai Đại Đạo: Thượng Phẩm chi Đạo, Thượng Sanh chi Thế và 12 Thời quân của 3 chi: Bảo, Khai, Hiến, Tiếp. Đặc biệt trong 15 vị chỉ có 1 mình Thời quân Hiến Pháp thuộc chi Pháp cầm Mật pháp, tin và thờ Đại Sư Hộ pháp nên Đức Ngài được ủy quyền Chơn truyền Bí Pháp năm 1956 qua Thánh lịnh 65 tại Campuchia. Chưởng quản HTĐ là Đại Sư HIRAM Hộ Pháp (M) chủ về Pháp.
     - Bí Pháp Hiệp Thiên Đài (Hội Tam Điểm), được ủy quyền 1956, đến năm 1964 mới mở Viện Đại Học Đạo Tâm dạy truyền bá đức tin thờ Đại Sư Hộ Pháp, được 18 vị tin và thờ ngài.
     a/- Bí Pháp Tam Điểm Hạo Nhiên, Đức Chuẩn Đề Bồ Tát (M) được thọ truyền Bí Pháp Hội Tam Điểm (HTĐ), cho nên từ năm 1969 đến 1986 xuất hiện trước mắt thiên hạ, truyền bá đức tin thờ Hộ Pháp, giáo hóa phổ độ chúng sanh được gần 100 vị thờ Đại Sư (M).
     b/- Chơn pháp Tam Điểm Hạo Nhiên, muốn Bí pháp ra thiệt tướng, Đức Chuẩn Đề chuyển Pháp cho Ngài Phổ Hiền Bồ Tát (F.M) hóa thân ra mặt, thế thì từ năm 1986-2008 dần dần mở rộng địa bàn, phân ra 5 cơ sở Tam Điểm nhỏ để lẫn theo thế, mượn thế đặng toan phương giác thế, độ được gần 500 môn đồ. Tỏa hào quang tạo tiếng vang khắp cả nước, lan rộng ra ngoại quốc đều nghe thấy.
     c/- Chơn đạo Tam Điểm Hạo Nhiên, là giai đoạn cuối cùng của cơ chuyển pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, giúp cho Chơn đạo thành thì Hội Long Hoa khai mạc. Do vậy, Đức Phổ Hiền (F.M) trả “Thân Công Báo (F) thuộc gốc Hạo Nhiên nên trả về gốc…” năm 1998, vâng mạng lịnh Bí Pháp Tam Điểm Hạo Nhiên (M) là gốc: thi hành nhơn nghĩa, thực hiện đạo đời tương đắc, vạn linh hiệp chí linh đại đồng thiên hạ. Lúc đầu có 5 vị, đến nay (2013) trên 20 tín đồ.
     Bảo mật và nhận thức tinh thần
     Khi đủ điều kiện trở thành hội viên, ứng viên phải bảo toàn bí mật của hội và không được khai tên thành viên khác khi bị bắt. Bộ phận điều hành của hội được gọi là Cơ Sở Phi Phàm Trung Ương do vị Đại Sư chưởng quản. Các tiểu cơ sở dù nhiều hay ít cũng chỉ có một người lãnh đạo là tín đồ cấp thợ. Về mặt trí thức tinh thần những tín đồ Bí Pháp Tam Điểm tương đối xếp vào đẳng cấp đứng đầu cả nước và quốc tế.
     Về mặt tổ chức và sinh hoạt
     Hội Tam Điểm đời sau cũng giống như đời trước. Đơn vị của Tam Điểm là một loge (chi hội), có nhiều chi hội trong một địa phương (region). Các chi hội ở nhiều địa phương họp lại thành đại hội (convent). Nơi hội họp của một chi hội gọi là đền (temple), các buổi họp gọi là tenues theo những thủ tục (rite) còn gọi là tuân thủ (obédience).
     Nhưng có khác hơn đời trước, lại trong thời buổi Cộng sản chủ nghĩa, cho nên Tam Điểm đời sau mượn những buổi tiệc giỗ, cưới hỏi, sinh nhật, những ngày lễ lớn của cả nước như ngày tết, kỷ niệm anh hùng dân tộc… ngày vía các đấng thiêng liêng của tôn giáo, để mở những cuộc hội lớn tại tư gia, nhà hàng...
     Các hội viên cũng như đời trước:
     a) Tập nghề (F): Điều luật đầu tiên là phải giữ yên lặng, được quyền chất vấn, trao đổi cho tỏ tường chơn lý. Tập nghề không có căn riêng như thợ. Sau thời gian tập nghề, thì sẽ được lên cấp thợ bạn. Muốn được vậy, tập nghề phải giải trình, lý luận ngắn gọn dễ hiểu chỉ cho thấy sự chơn thật bất cứ một đề tài nào, pháp giới nào, đã học qua và chưa học. Để chứng tỏ sự hiểu biết có mọi người làm nhân chứng, tự mình định vị công bằng vừa sức với cấp bậc của mình.
     b) Thợ bạn (F.M): Khác người tập nghề, thợ bạn có thể nói lên những ý kiến của mình nhưng chưa được hưởng hết quyền của một F.M. Chỉ sau khi đã hoàn thành sứ mạng và có những kiến thức của cấp bậc của mình, thì thợ bạn mới được tăng cấp lên bậc thầy và được hưởng toàn quyền của một F.M.
     c) Thầy nghề (M): Thầy là thiên mạng, đấng tối linh trong vạn linh, cầm chánh pháp thương yêu và công bằng vô tư vô vị, đem chơn pháp cho vạn linh đạt, đào tạo tập nghề và thợ bạn tiến hóa, phải giữ mình làm gương mẫu cho mọi người đồ theo. Muốn chi hội hoạt động được thì phải có ít nhất là từ 5 cho tới 7 thầy nghề và 2 thợ bạn. Là thầy nghề có thể xin làm chức sắc (officier) có thể đại diện cho chi hội đi dự đại hội địa phương hay đứng ra lập các chi hội (loge) khác. Muốn hợp pháp, các hội viên phải được cấp trên nhìn nhận, tên của chi hội thường là tên của một nhân vật F.M có tiếng vang và huy tín.
     Buổi họp (Tenues)
     Phần lớn trong các buổi họp, chỉ có những hội viên mới được vào, song có một vài buổi, người phàm có thể tới được gọi là “tenue blanche”. Nếu có một diễn giả (conférencier) từ ngoài vào nói chuyện thì được gọi là tenue blanche fermée. Nếu có người phàm tới nghe buổi nói chuyện thì gọi là tenue blanche ouverte. Buổi họp thật sinh động, được quyền chất vấn trao đổi. Mọi người bày tỏ ý kiến một cách lịch lảm, lễ độ và tôn trọng ý kiến người khác, không ai được ngắt lời ai, và không được tỏ ý tán thành hay không tán thành khi không được phép nói. Khi ông chủ tịch cám ơn người thuyết trình rồi tuyên bố bế mạc. Phải nhìn nhận buổi sinh hoạt trong bầu không khí lịch lãm và khả ái của họ.
     Tri hành hiệp nhứt
     Sự giáo huấn của F.M. không phải là một học thuyết mà là một phương pháp đi tìm chân lý của sự hiểu biết qua những biểu tượng có thật, hay bằng tinh thần trước rồi biểu hiện kết quả vật thể sau. Người Tam Điểm họ mượn những biểu tượng cụ thể xảy ra hàng ngày trong xã hội loài người để truyền đạt các giáo lý luật lệ của các tôn giáo, học thuyết của đời bằng phương pháp luận thực tiễn dễ hiểu, vừa chứng minh qua thực nghiệm việc làm nhằm mục đích giải mã những sự thật siêu việt, không thể diễn tả được bằng lời, đó cũng là dùng cái biết mà đi tới cái không biết, cái thấy được mà đi tới cái không thấy được, cái hữu tận đi đến cái vô tận vậy. Nói một cách khác, có những sự việc họ không học tới nhưng mà linh cảm thấy được sự vật.
     Cũng như Tam Điểm đời trước, trong khi sinh hoạt, họ tôn trọng nguyên tắc bình đẳng. Khi hội họp, họ đưa ra trình bày thảo luận các vấn để đã được tổ chức chi phối và phải tuân thủ (obedience) và đưa ra quyết định cho sự sinh hoạt của hội. Họ cho là nhờ vào phương pháp cùng nhau suy nghĩ, giữa những lớp người có nguồn gốc khác nhau, tư tưởng không đồng nhau lại hòa nhau, thì những buổi học hỏi sẽ rất hữu ích, khó mà có thể có được ở ngoài đời. Tánh cách kỳ bí của F.M. mà người đời cho là để che đậy những điều bất chính, thực ra là điều cần thiết để bảo đảm công việc của họ được hoàn thiện và trong sáng, tránh sự lẫn lộn tác động náo nhiệt của xã hội bên ngoài. Thực ra, họ không tách rời thế tục, họ lẫn theo thế đặng chung than cùng thế, nhờ thế mới biết thương đời lo cứu khổ.
     Trước kia, F.M được coi là một tổ chức kín đáo (discret) chứ không phải là một hội kín (secret). Người hội viên có quyền tự tiết lộ, nhưng không được phép tiết lộ các đoàn viên khác hiện tại còn sống. Nhưng hiện nay người Tam Điểm lại là ân nhân của xã hội, dám nói lên sự thật và làm thật chỉ cho thấy sự chơn thật, không còn ẩn mình dấu dím nữa, để nêu gương cho nhơn loại đồ theo sống với cảnh sống thật, tránh xa sự giả, mới là cái hạnh phúc chơn thật của một trật tự thế giới mới “tự do, bình đẳng, bác ái”.
Qua lịch sử biến chuyển cho đến nay, F.M. đã có những bức thăng trầm, và bị đày đọa, thử thách nhục hình, nhưng họ vẫn còn tin tưởng rằng họ là một lực lượng tinh thần, có đủ khả năng để thích nghi với sự biến thể của xã hội và thế giới đặng làm cơ quan cứu thế.
      Họ cũng chịu nhiều nhục nhã và bị khảo dượt từ trong gia tộc ra tới ngoài xã hội, bị tra vấn xét hỏi, bắt bớ tù tội, hăm dọa đủ điều… nhỡ gia đình nào có tang tế thì Thể pháp Tam Điểm thờ Thiên Nhãn không hành lễ đưa đi an táng, cũng như trước kia Tam Điểm đàn anh bị giáo hội Công giáo khảo thí vậy, họ được sự hỗ trợ hậu thuẫn của chính quyền đời. Bởi bất đồng chánh kiến giữa thờ Thiên Nhãn và thờ Đại Sư HIRAM Hộ Pháp, giữa chơn và giả mà từ đó Thể pháp Tam Điểm Thiên Nhãn họ sĩ nhục Bí pháp Tam Điểm rồi họ tìm đủ cách cô lập những nơi thờ tự, học hỏi, họ cấm không cho thờ giáo chủ Đại Sư HIRAM Hộ Pháp cũng là thầy của họ mà ra cớ sự. Cái bản chất của con người Bí pháp Tam Điểm trung can nghĩa khí, dám nói thật và làm thật, bằng tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, không chịu lệ thuộc bởi một thế lực nào, họ sống rất gương mẫu tốt đời đẹp đạo trong nhơn quần xã hội.
     “ Cung Hạo nhiên Pháp Thiên là Hiệp Thiên Đài (Hội Tam Điểm), là nơi Chí Tôn ngự, ngự đây là cả quyền năng và tinh thần của Đại Sư HIRAM Hộ Pháp đã giao trọn vẹn cho Cung Hạo nhiên Pháp Thiên thực hiện đạo đời tương đắc, vạn linh hiệp chí linh “.
     Đến ngày giờ thiên thơ chuyển Pháp, Đức Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa vui mừng cầm Bí Pháp ký Đạo Lịnh giải thể 01 của phần giả tướng Thể Pháp Tam Điểm Thanh Hương thờ Thiên Nhãn. Để hiện nguyên hình thú tánh là “Hội Đồng Chưởng Quản” năm 1979, đến 2010  càng lộ chân tướng một Hội ác Thánh suy tàn cuối cùng của nhà Thương, trong tay một hôn quân vô đạo Trụ Vương quỷ vị Đầu sư Tám thất đức bất nhân. Giết hại tôi trung, rước quỷ vào chùa lộng giả thành chơn kết bè lập đảng đặng dễ dàng “bốc nguyệt hái hoa”, hảm hiếp trẻ em đồng nhi, chứa chấp, bao che đám xu nịnh, để xỏ mũi con heo nọc súc chuồn chạy loạn luân thường đạo lý.
     Mục đích của Ngài Bảo Đạo muốn cho toàn thể môn đồ biết rõ cái giả tướng Hội Đồng Chưởng Quản của nhà Thương đã hết thời tiêu vong để cẩn thận mình. Đó là phận sự của Ngài Bảo Đạo đã xuất hiện sở hành ký Đạo Lịnh Giải Thể phần Thể Pháp (ĐL:01/1979), đặng chuyển sang Bí Pháp Tam Điểm Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên, nhưng vì sao còn gọi là Bí pháp? là vì Bí Pháp Tam Điểm Hạo Nhiên Chuẩn Đề thuộc gốc Bí pháp Hội Tam Điểm Hiệp Thiên Đài biến tướng do Đại Sư HIRAM Hiến Pháp chủ trường. Từ Bí pháp tấn hóa lên Chơn pháp thì Hạo Nhiên Pháp Thiên là cửa hay  mạch giao chuyển còn gọi là Bí pháp hay điểm nhấn để thay cũ đổi mới giữa Thể pháp đặng tác thành Chơn pháp, điểm nhấn trung tâm ấy còn gọi là Phạm môn tức cửa phật Bí pháp Tam Điểm Hạo Nhiên, cũng là cung Thánh cửa ải địa đầu của con đường Thiêng Liêng Hằng sống tại thế.
     Cho nên Bí Pháp Tam Điểm Hạo Nhiên là tướng diện căn bản của Bí Pháp Hiệp Thiên Đài xuất hiện, tương liên và hiệp một cùng Đức Chí tôn, chủ cung Chưởng Pháp xây quyền tạo hóa, nắm quyền trị thế chính quyền năng của Đại Sư HIRAM Hộ Pháp định.
     3/ CHƠN PHÁP: TAM ĐIỂM HẠO NHIÊN (1986-2006)
     Giữa hai phạm trù Thể pháp và Bí pháp nghe ra có vẽ mơ hồ không tưởng, thật ra phần Thể pháp ý muốn nói tinh thần đạo đức nhơn nghĩa trong một nước, còn Bí pháp là điểm nhấn để thực hiện bước nhảy, phổ truyền và thu phục tâm lý của toàn thiên hạ trong tình yêu thương huynh đệ đại đồng.
Thể Pháp dứt, chuyển qua Bí Pháp. Không riêng Đạo Cao Đài, Đại Sư HIRAM thay xác Phạm Công Tắc phục sinh ở Tam Điểm đời sau là Đức Hộ pháp, có nghĩa Đức Phạm Hộ Pháp kế chí tinh thần của Đại Sư HIRAM mở Tam Điểm đời sau. Vận hành từ Thể pháp tạo thành cơ quan hữu tướng Thanh Hương làm nền tảng cho chính trị đạo, rồi chuyển sang Bí Pháp lấy tinh thần Đạo Tâm làm căn bản giúp cho nhơn loại biết tìm về cảnh sống thật hòa sự sống trong càn khôn vũ trụ.
     Sứ mạng yếu trọng của Chơn Pháp Tam Điểm Hạo Nhiên, là làm cho pháp thương yêu và quyền công chánh thành hiện thực. Do nơi vị Phổ Hiền (F. M), lãnh sứ mạng từ Đại Sư Chuẩn Đề Bồ Tát (M) năm 1986 cầm Chơn Pháp Giáo Hóa, đem Chơn Pháp cho vạn linh đạt tại thế, xuất hiện sở hành lập ngôn, thi hành tam thiện.
     - Chơn linh: Hiến Pháp nắm mật pháp, thay thế ngôn ngữ cho Đại Sư HIRAM Hộ Pháp.
     - Chơn thần: Chuẩn Đề giáo hóa chơn truyền thi nhơn đạo và thiên đạo.
     - Chơn khí: Đại Sư HIRAM Phổ Hiền, dạy thi hành đạo đức nhơn nghĩa, kiến tạo Văn Phòng Cơ Sở Phi Phàm Trung Ương.
      Tam Bửu hiệp nhứt xuất hiện sở hành, thọ lãnh thiên mạng lo về Pháp là Đại Sư HIRAM  Phổ Hiền Bồ Tát giúp cho vạn linh đạt pháp, chuyển nhập Cực Lạc quốc.
      Với Chơn pháp, trong thời kỳ sau này mới thường gặp những cơn khảo thí đặng thử thách tinh thần. Khi đã trọn phần Thể pháp rồi, liền bước qua mặt Bí pháp là phương tu tâm sửa tánh hầu lập thành Chơn khí thanh khiết mà hiệp với Chơn thần, đặng tiếp Chơn linh để giải phương cứu khổ thêm bề siêu lý diệu chơn. Ấy là phương tầm hiểu chơn truyền Chánh pháp, khi đã vẹn sạch Tinh, Khí, Thần thì là đắc pháp đó vậy.
      Nhơn sanh tu, muốn đạt Đạo, dĩ nhiên phải nhờ chơn sư chỉ điểm khai khiếu.
      Vấn đề then chốt là ở đây. Chơn sư đúng nghĩa, thì quán thông vô vi thực chứng hữu hình. Rõ cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống vì đã nhập vào cảnh giới, đã đi khắp các Cung các Điện, diện kiến Đức Chí Tôn nơi Bạch Ngọc Kinh và thọ lãnh Thiên mạng, tức là mang trọng trách làm giềng mối kết liên tinh thần đạo đức nhơn nghĩa với các tôn giáo trên thế giới kể cả những triết học của đời. Lấy chữ hòa làm tôn chỉ trên tinh thần “tự do, bình đẳng, bác ái” tiến đến đại đồng nhơn loại đặng mở Long Hoa Đại Hội, kết thúc Tam Chuyển, để bước qua kỷ nguyên Thánh Đức. Nói ngắn gọn nếu là một Chơn Sư phải đạt Bí Pháp, thông Thể Pháp, tánh hiệp vô vi, nhất quán Phật, Pháp, Tăng và có Thiên Mạng. Đặc biệt, tại cung Hạo Nhiên Pháp Thiên có hai sứ mạng yếu trọng, mượn danh Phật để xuất hiện sở hành nơi Tây phương Cực Lạc.
     - Chuẩn Đề Bồ Tát (M) lo về Phật tạo cảnh Cực Lạc thế giới, ý muốn nói lên lòng từ bi bác ái và công bằng mà kỳ nầy phật Chuẩn Đề Bồ Tát Tây phương Giáo chủ xuất hiện, đặng chỉnh sửa những gì đã thất pháp từ trước đặng mở Cực Lạc thế giới thiên hạ thái bình.
     - Thiên mạng lo về Pháp là Phổ Hiền Bồ Tát (F.M) phổ độ giáo hóa chơn truyền, giúp cho nhơn sanh đạt chơn pháp quy hồi bổn thiện.
     Khi đã trọn về mặt Thể pháp tức nhiên hiểu biết Bí pháp, vì Bí pháp không chi lạ hơn là phương pháp bí yếu để nâng cao giá trị cho Thế đạo. Nói rõ hơn nữa là phương làm cho đời trở nên tận thiện tận mỹ. Nói theo nhơn sanh triết lý thì Bí pháp là kế hoạch nâng cao đời sống nhơn nghĩa.
Năm 1998, Đại Sư HIRAM Phổ Hiền trong tinh thần Hạo Nhiên Pháp quyết định: “Thân Công Báo thuộc gốc Hạo Nhiên, nên trả về gốc…”, để đúng với lời cảnh báo của Đức Chuẩn Đề tại Hạo Nhiên Phật năm 1984: “bây giờ người ta chê mình không chịu học, sau nầy học đệ tử chót”.
      4/ CHƠN ĐẠO: TAM ĐIỂM HẠO NHIÊN(1992-1998-2014)
      Cũng khá đặc biệt, ngày 15-10 Nhâm Thân (1992) Đức Phi Phàm cho Thân Công Báo  minh thệ trước hai Đấng Đức HIRAM Hộ Pháp và Đức HIRAM Hiến Pháp tại chủ cơ sở Cẩm giang của bà “Cứu Khổ Phật”, được Đức Chuẩn Đề Bồ Tát cho thọ giáo nhìn nhận là đệ tử Cung Phật Ngọc Hư (Bát quái Đài) Quy Y Phật. Trước đó 3 tháng, thiếu 3 ngày, cũng tại tiểu cơ sở Phi Phàm Cung Pháp Bích Du của Đắc Kỷ, chư vị Tín đồ thay mặt Đức Thông Thiên Giáo Chủ nhìn nhận một Đạo Tâm được thọ pháp Quy Y, nhằm ngày 10-7 Nhâm Thân (1992) trước tượng Thiên Nhãn Thể Pháp (giải Thể 01-1979), lúc nầy chưa được phép thờ hai Đấng. Vị Đạo Tâm đó đúng 3 tháng sau, Đức Phật Chuẩn Đề mới cho biết nguyên căn của Võ Hoàng Thọ là Thân công Báo.
      Trong khi Đức Phi Phàm đã biết họ Thân là người của Cung Pháp Bích Du, nhưng Ông vẫn thu nhận?! Bởi Thân Công Báo, được biểu hiện cho một tinh thần nhơn nghĩa thống nhất, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, đãng phái… tự chủ quyết đoán, dám nói và làm thật, không chịu lệ thuộc bởi một tinh thần nào, một lực lượng nào; của quý không bán nài, không lượm mót đồ bỏ của thiên hạ đặng làm của quý, lấy chữ hòa làm tôn chỉ, làm tế vật lót đường cho thiên hạ đi qua thi hành trung, hiếu, nghĩa đặng tiến đến đại đồng.
      Hơn nữa, Thân Công Báo là đệ tử Cung phật Hạo Nhiên (1969-1992), xuống thế giúp Cung Pháp Hạo Nhiên (1986-1996). Từ khi Cung Phật Ngọc Hư (1986) phân ra Cung Pháp Bích Du tính theo thời gian (1986-1992) cho đến năm Thân Công Báo được Đức Phi Phàm nhìn nhận là 6 năm (1992). Như vậy, Thân Công Báo xuất hiện trong tinh thần của Bích Du Cung, mới có căn duyên với Cung Ngọc Hư. Nhờ hội đủ điều kiện đó nên Đức Phi Phàm Cung Phật Hạo Nhiên Pháp Thiên, mới nhìn nhận là đệ tử chót cuối cùng của Ông là vậy.
      Kể từ sau đó, Thân Công Báo làm phương tiện trung gian giữa Ngọc Hư Cung và Bích Du Cung, tương liên và hiệp một nơi Bạch Ngọc Kinh, mà Đền Thánh là Bạch Ngọc Kinh tại thế cũng là hình trạng của Bát Quái Đài. Trãi qua hai giai đoạn thi Nhơn đạo và Thiên đạo:
      1- Nhơn đạo: được Đức Phi Phàm Chuẩn Đề “nhìn nhận về phần Nhơn đạo”  (1996).
      2- Thiên đạo: tiếp đó, Đức Ngài hứa : “sau nầy ông về định cho”.
      Sau khi giải thể phần Thể pháp Thiên đạo 1998, đặng chuyển tinh thần lên Bí pháp Thiên đạo đặng tác thành Chơn pháp Tam Điểm, Đức Từ Hàn Quan Âm Bồ Tát trả Thân Công Báo về Cung Phật Hạo Nhiên Pháp Thiên bằng pháp giới: “Thân Công Báo thuộc gốc Hạo Nhiên nên trả về gốc…” để có phương cầm Bí pháp chơn truyền thuộc gốc Phật Hạo Nhiên mà xuất hiện hành tàng Hạo Nhiên Tăng giúp cho:
       -  Hạo Nhiên Phật thi nhơn đạo và thiên đạo năm 1995-1996.
       - Hạo Nhiên Pháp ra Thiệt tướng là Hỗn Ngươn Thượng Thiên thuộc Tạo hóa thuộc Tăng năm 2005-2006.
      “Thân Công Báo thuộc gốc Hạo Nhiên nên trả về gốc” thì là gốc. Lãnh sứ mạng lo về Tăng thi hành nhơn nghĩa tức Chơn đạo Tam Điểm Hạo Nhiên xuất hiện trong tam bửu:
      - Chơn linh: Đại Sư HIRAM Chuẩn Đề, thuộc Phật (M). Vâng lịnh Tây Phương Cực Lạc, Thi hành luật thương yêu và quyền công chánh cho ra thiệt tướng.
      - Chơn thần: Sư Huynh HIRAM Phổ Hiền, thuộc Pháp (F.M). Giáo hóa chơn truyền dẫn độ nguyên nhân quy hồi cựu vị, chuyển nhập Cực Lạc quốc.
      - Chơn khí: Tín đồ, thuộc Tăng (F).
      Tam bửu hiệp nhứt từ “Pháp Chánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam”, thực hiện đạo đời tương đắc, vạn linh hiệp chí linh, thi hành Nhơn nghĩa tiến đến đại đồng thiên hạ.
      Trả về gốc để bảo thủ chơn truyền chánh pháp, trên tinh thần tự do quyền, thương yêu và công bằng. Đã đến ngày giờ thiên thơ tiền định, phải phản hồi nguyên bổn đặng tác thành Chơn đạo. 5 tín đồ quèn (F) Hạo Nhiên Tăng: Thanh Công, Nguyễn Văn Ráo, Hồ Tuyết Go, Nguyễn Công Nhuận, Thân Công Báo, chuyển từ ngoài vào trong thi hành NHƠN NGHĨA để tại Hiệp Thiên Đài, cấm cờ Thanh Liên Bửu Sắc trước Đền Thánh Tây Ninh đêm mùng 7- 4 Nhâm Thìn (2012). Dựng bảng Phong Thần tái diễn kỳ ba mà Đại Sư HIRAM Hộ Pháp (M) đã định từ khi khai Đạo, năm Bính Dần (1926), thi hành Nhơn nghĩa cho ra thiệt tướng Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam thì đắc thành Chơn đạo. khai Hội Long Hoa tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh.

THÂN CÔNG BÁO – Cảnh giác !

Nhơn nghĩa    Công Bằng     chẳng vị dung,
Sanh tử          Ngọc Hư         vốn không cùng.
Buộc đồ         Pháp Chánh    tùng quyền đạo,
Hiệp được     Chơn Truyền   Hạo Nhiên cung.
Khai môn       Bát Quái          Tam Tài trận,
Hội đủ            Phong Thần     đặng hiếu trung.
Long vân       Tái Lập             đời Thánh đức,
Hoa chúa      Thiên Triều        thế giới chung.

Tây Ninh, ngày 06-1-2014
(Võ Hoàng Thọ)
- Đồ Phi -    


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả