+ TIẾP THEO ... 18.Có phải nơi Bát Quái Đài,
bảy khí chất tạo thành hình thể chúng ta bị tiêu hủy
và ta biến thành đạo hào quang ?
Phải, trước khi ra khỏi Bát Quái Đài chúng ta không còn hình thể nhơ nhớp như trước nữa. Bảy khí chất tạo thành hình thể chúng ta được bỏ đi. Hình hài thể chất của chúng ta nhờ huyền diệu ấy mà tiêu hủy, biến thành đạo hào quang.
Khi ra khỏi Bát Quái Đài rồi, chúng ta vui sướng không tả được. Phải chăng nơi ấy là nơi chúng ta đoạt đặng Thánh thể của ta, gọi Tiên phong Đạo cốt.
19.Trên cõi đó, người ta còn gặp lại kẻ thù nghịch?
Khi đi trên con đường này, dầu biết hay không biết nhau cũng đều mừng rỡ vui thấy nhau. Tới cửa này hết sự ganh ghét, giành giựt, hiềm thù với nhau; cảnh đó là cảnh vui hưởng hạnh phúc chung với nhau. Ngay cả vật loại cũng có tình đời với chúng ta, một cảm tình không gì tả được. Như loài chim chóc, thú cầm, cây cối đều thể trong tinh thần chúng ta một thâm tình quen biết, nồng nàn đặc biệt với nhau. Ở trên đó, không người nào không xinh. Nơi cảnh ấy không cần gì ăn mặc; họ muốn thì hiện tượng có. Những người thiếu thốn nơi mặt thế này, nếu họ đoạt vị được thì ngày đó họ vui hưởng biết bao.
20.Ý nghĩa của 8 hào quang xuất hiện tại 8 cửa Bát Quái Đài?
Nơi 8 cửa của Bát Quái Đài xuất hiện ra 8 hào quang chiếu diệu rực rỡ và xoay tròn trong sanh linh, có Bát hồn hiện ra đủ hết: vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần, Thánh, Tiên, Phật hồn.
Các đẳng chơn hồn ấy rải khắp trong Càn khôn Vũ trụ. Các vật loại vẫn bình tịnh trong đạo hào quang ấy.
21.Trên sông Ngân Hà có Thuyền Bát Nhã
của Đức Quan Âm Bồ Tát qua lại nữa không ?
Từ nơi Khổ hải về cảnh Thiêng liêng Hằng sống phải đi ngang qua sông Ngân Hà. Có một chiếc thuyền Bát Nhã của Đức Quan Âm Bồ Tát, vâng lịnh Đức Di Lạc Vương Phật chèo qua lại sông Ngân Hà và Khổ hải đặng độ sinh thiên hạ.
(*) Thuyền Bát Nhã tượng trưng cho Trí Huệ.
22.Có phải cõi Thiêng liêng hằng sống chỉ để rước những vị Chí Thánh ?
Cõi Thiêng liêng Hằng sống không phải để rước những vị Chí Thánh mà thôi, thoảng chúng ta biết tự tu thân, giải oan nghiệt, tội chướng thì đoạt đặng chơn huệ tinh thần của chúng ta nơi cảnh Thiêng liêng vinh diệu kia.
23.Đi qua cầu Bát Quái Đài rồi ta có thể gặp ai ?
Khi chúng ta tưởng đến, các Đấng Thiêng liêng sẽ nghinh tiếp, mừng rỡ một cách nồng nàn như người thân và còn ứa luỵ nữa. Chưa thấy vị Đế Vương nào tại thế gian này mà hưởng được đặc ân ấy. Nơi cảnh ấy không người nào không xinh. Tỷ như mình muốn cái gì đẹp thì có cái đó, tưởng đến người bạn nào thì sẽ có người bạn ấy ngay.
24.Ai chưởng quản cung Tạo Hoá Thiên ?
Đức Phật Mẫu - Mẹ của chúng ta chưởng quản cung Tạo Hóa Thiên. Chúng ta vào trong thấy một cái Ngai. Đến trước Ngai vinh diệu ấy, chúng ta vừa dòm lên dường như có một Đấng. Đấng ấy chúng ta có thể gọi là Bà Già; còn nếu chúng ta tưởng một vị Tiên Nữ thì có một Vị Tiên Nữ. Muốn thấy già thì già, muốn thấy trẻ thì trẻ rất huyền diệu. Chúng ta được vào Cung và thấy Bà mẹ mình. Hễ thấy Bà rồi, cả tình ái xưa không thể gì tả ra hình trạng được. Tình ấy buộc chúng ta dầu đứa nào cứng đầu bao nhiêu mà khi thấy cái thâm tình cao trọng của bà Mẹ cũng phải đổ lệ rơi châu.
25.Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đối với Phật Mẫu ra sao?
Bần đạo dám chắc có nhiều người tin Đạo, hiểu Đạo mà chưa biết. Hồi buổi Chí Tôn phân định, phân tánh của Ngài, ngài dùng Linh pháp của Ngài biến tướng ra Phật Mẫu. Phật Mẫu thuộc về Âm, Chí Tôn thuộc về Dương. Âm Dương hiệp lại mới biến hóa ra Càn khôn Vũ trụ, sanh ra vạn vật. Nói cách khác, Đức Chí Tôn là Phật, Đức Phật Mẫu là Pháp,Càn khôn vũ trụ và vật loại là Tăng.
Phật giáo Ấn Độ tượng trưng Đức Phật Mẫu qua hình tượng CIVA PHẬT, là cái hình ở trên nóc Bát Quái Đài, thấy có cái “tinh nhủ” nơi ngực của Ngài đó.
Thử hỏi Đức Di Lạc Vương Phật, chưởng quản các nơi, dầu Ngài cao trọng đến bực nào cũng là con. Đức Phật Mẫu chưởng quản cung Tạo hóa Thiên và là Đấng tạo ra Vạn linh. Chúng ta thấy tượng Phật Mẫu, Đức Di Lạc quỳ đàng sau lưng, chấp hai tay đưa lên đó. Dầu Bần đạo không tả nghĩa lý ấy, cả thảy cũng đều hiểu: con cái quyền năng bực nào, Mẹ cũng vẫn là quyền Mẹ.
26.Huyền bí vô biên của Phật Mẫu và đạo hiếu ?
Khi chúng ta vào kiến diện Ngài, ngó trên mặt Ngài sẽ thấy mặt Bà Mẹ ta, sanh ta đương như buổi sống, đương lo buổi trở về.
Bà Mẹ hình hài chúng ta đây là nhơn viên của Đức Phật Mẫu. Phật Mẫu đã giao quyền năng tạo đoan trong tay đó vậy. Chẳng cần nói cái vinh diệu của người đàn bà khi người con ấy nên người, biết dục tấn trên con đường Thiêng liêng Hằng sống.
Coi chừng đừng thất hiếu với Cha Mẹ. Ngày mình ngó thấy hình ảnh của Đức Phật Mẫu thì thấy người Mẹ nhơn từ, hiền hậu vô cùng, hạnh phúc mình được hưởng đó. Trái ngược lại, nếu ta thất hiếu thì dòm vào hình ảnh của Phật Mẫu, ta thấy nét mặt nghiêm nghị và lãnh đạm, chúng ta sẽ hết sức đau khổ.
Nơi cảnh này chúng ta muốn cái gì sẽ được cái nấy. Nếu mình chưa thỏa mãn trong mấy ngàn kiếp sanh trước, thì khi về đến Phật Mẫu được, chúng ta muốn cái gì nó sẽ hiện ra để chúng ta thỏa mãn cái tinh thần, cũng như cái hạnh phúc ở thế gian vậy.
27.Nơi Diêu Trì Cung có vườn Ngạn Uyển, mà vườn ấy ra sao?
Diêu Trì Cung là nơi nhao rún của chúng ta. Trong vườn Ngạn Uyển, mỗi mạng sanh con người đều có hiện tượng một bông nở. Mỗi khi bông ấy héo rụng tức nhiên là có một người chết.
Thế gian này gọi là chết chứ không phải chết. Loài người không bao giờ chết cả. Sự sống chết như thay đổi cái áo vậy thôi. Vườn hoa ở cảnh thiêng liêng ấy không phải như vườn hoa ở thế gian này đâu. Bông hoa ấy sẽ sống một triệu lần do nơi quyền năng biến hoá của nó và nó sẽ hiện tượng biến hóa trước mặt ta vô cùng tận.. Mỗi khi nhân loại tấn triển lên thì vườn Ngạn Uyển sẽ đổi hình đổi tướng một cách đẹp đẽ vô ngần.
28.Cảnh tượng hai bên bờ Ngân Hà ?
Trước mặt chúng ta dường như con sông Đại Hải. Khi nhìn lại thế gian phía sau lưng, thấy bên bờ sông người ta đứng muôn trùng thiên số không thể nào đếm được. Còn phía xa mù tịt bên bờ sông kia cũng đông đảo vô cùng. Thương thay người mé bên kia sông dòm qua mé bên này sông thấy họ khóc lóc, buồn rầu không biết bao nhiêu mà kể. Họ buồn rầu lo lắng như chờ ngày tái kiếp. Điều bí mật trọng yếu là ở mé bên này thiên hạ hào quang chiếu diệu đẹp đẽ vô cùng, còn một bên mé thì hình thể khô khan, đau thảm, tiều tụy và buồn rầu.
Hỏi vì sao bên này nhìn bên kia lại khóc, bên kia nhìn qua bên này lại đau khổ. Đó là luật thiên nhiên vẫn có một. Đó là vì LUẬT THƯƠNG YÊU .
29.Những người vì thất tình mà tự tử,
khi chết có làm chồng vợ, gần nhau được chăng ?
Họ phải xuống Uổng Tử Thành để đầu kiếp vì không trọn căn số của mình, còn niên kỷ bao nhiêu cũng phải trở lại đầu kiếp mà trả căn quả. Hai bên vừa có tình dục phát ra thì lại làm cho chết. Dầu cho hai đàng đứng trước mặt nhau cũng không khi nào làm chồng vợ cưới nhau đặng .
Nếu họ trọn lòng thương yêu chơn thật thì Đức Phật Mẫu siêu độ cầu rỗi với Đức Chí Tôn, còn người nào thương bằng tình giả dối xảo trá phải tiếp tục đầu kiếp lại.
Kiếp sống thật của mình không phải là cảnh phàm này. Mà mãi từ thử đến giờ, làm người có ai biết kiếm chỗ thật của mình không?
30.Tại sao cũng đồng là người
mà có nhiều người còn thú tánh, quá hung ác, bạo tàn ?
Trong mỗi người chúng ta Đức Chí Tôn đã để vào 3 thứ đặc sắc là TINH, KHÍ, THẦN. Đó cũng là: THÚ, NGƯỜI VÀ PHẬT.
Từ hồi mới tạo trái Địa cầu này, chúng ta có thể tính nó là 700 triệu năm. Tiểu Hồi đã đến thế gian này tạo vật loại, thảo mộc, thú cầm cho đến cốt cách nhơn phẩm. Từ giác hồn đi cho đến linh hồn ít nữa cũng 100 triệu năm. Khi con thú được nhứt điểm linh tâm thành người (phẩm Đại Hồi) thì nó phải tranh đấu đủ điều để bảo tồn sanh mạng, phải đối phó với áp lực Tạo Đoan như lửa, nước, gió mưa, thú dữ,…Vì thể xác chúng ta tiến từ thú cho nên còn giữ nhiều thú tánh qua quá trình chiến đấu đặng sống. Con người muốn giữ được nhơn phẩm thì đừng để thú tánh ấy phát triển, nó sẽ đày đoạ mình. Mình ở giữa, trên kia là Đức Chí Tôn, dưới là thú. Không lẽ mình theo thú? Nếu để nó dẫn mình đi thì mong gì đoạt được ngôi vị cao trọng đối phẩm Thần Thánh Tiên Phật mà Chí Tôn đã hứa.
Một ngày kia trí óc của loài người có điểm quang minh cực kỳ, họ sẽ đoạt được huyền vi ấy. Bởi trí họ quá khôn ngoan vì vật chất, trí ấy dục họ vô Đạo. Quyền năng khôn ngoan ấy do Đức Chí Tôn ban cho chúng ta hưởng cái khôn ngoan hơn vạn loại, mà loài người thường phản lại với Tạo hóa, trở nên tự kiêu tự đắc. Hại thay quỉ tánh dục họ theo con đường thú, thành thử cái cảnh tương tàn, tương sát lẫn nhau tại thế gian này mới có. Loài người khổ sở vì phục tùng theo con thú, làm nô lệ cho nó, sát hại nhau để giành sống như con thú rừng.
31.Trước Diêu Trì Cung có các Cung gì ?
Trước Diêu Trì Cung có 3 cung :
- Cung giữa trước là Cung Hiệp Thiên Hành Hoá.
- Bên mặt là Cực Lạc Thế Giới.
- Bên trái là Ngọc Hư Cung .
Diêu Trì Cung
Cực Lạc Thế Giới Ngọc Hư Cung
Cung Hiệp Thiên Hành Hoá
32.Vai trò của cung Hiệp Thiên Hành Hóa?
Đức Chí Tôn đã để hai chữ Hiệp Thiên trong cửa Đạo, tức nhiên đem hình tượng cung Hiệp Thiên Hành Hóa để nơi măt thế gian này. Cung Hiệp Thiên Hành Hóa là nơi ngự của Tam Trấn Oai Nghiêm, nơi của các Đấng trọn lành. Dù Thần vị, Thánh vị, Tiên vị hay Phật vị đều phải trọn kính mới vào được Cung Thế Thiên Hành Hoá. Cung ấy đặc biệt để binh vực vạn linh sanh chúng, hằng ngày cầu nguyện và xin tội cho mọi người. ,
Chẳng phải nơi mặt địa cầu này thôi, trong Tam Thiên Thế Giới và Thất Thập Nhị Địa cầu đều có đại diện của vạn linh để bào chữa tội cho sanh chúng. Đó là nét công chánh, nhơn từ với ý nghĩa tận độ chúng sanh. Các bạn duy có tu mà thành và không có quyền hành nào bỏ rơi các bạn.
Hằng ngày nhớ tưởng tới lẽ ấy để tâm hăng hái đặng làm bửu bối theo chơn Đức Chí Tôn cho trọn Đạo. Khi Bần đạo vào thì thấy họ niềm nở và nói rằng: về nếu có thể, nói lại với sanh chúng hiểu cái án của kiếp sanh họ đã có nhiều, chúng ta đã đảm nhiệm nhiều nổi khó khăn. Ước ao sao các bạn hiểu LUẬT NHƠN QUẢ, quyền Thiêng liêng thưởng phạt là gì? Các bạn duy có tu mà thành, tu hành thì không ai có quyền nào biếm nhẻ và không có quyền nào bỏ rơi các bạn.
Cung Hiệp Thiên Hành Hoá nắm quyền nhơn loại cả Càn khôn vũ trụ, nhiều trái địa cầu, duy có địa cầu 68 này, các Vị ở cung Hiệp Thiên Hành Hoá khổ tâm hơn hết là lo địa cầu này phải chịu oan gia của Hạ Ngươn Tam chuyển.
(*) Tam Trấn Oai Nghiêm là Đức Lý Giáo Tông, Đức Quan Âm, Đức Quan Thánh Đế Quân
33.Long Hoa Hội là gì ? Tại sao phải mở Long Hoa Hội ?
Thời kỳ này là sắp mãn Hạ Ngươn Tam Chuyển, Thiên Thơ đã định Long Hoa Hội. Thánh Giáo Đức Chí Tôn nói:“Các con phải chung cùng nhau, tức nhiên lập Long Hoa Hội, định vị cho các chơn linh trong kỳ Hạ Ngươn Tam chuyển này, đặng mở Thượng Ngươn tứ chuyển ”. Mở Long Hoa Hội, tức nhiên là Ngài sẽ chấm rớt đậu cho các chơn linh. Vì cớ cho nên chúng ta ngó thấy huyền vi bí mật nơi mặt thế này: Đức Chí Tôn đến mở Đạo, oan gia nghiệp chướng phải trả liền buổi này, không cho thiếu, trả mãn mới thôi.
34.Nguyên nhân nào toàn cầu nhân loại buổi này hỗn loạn,
tương tàn tương sát lẫn nhau, các nền chính trị thế giới xiêu đổ?
Thú vật còn chung sống cùng nhau, hiệp nhau đặng sống, trong đó có nhiều giống tự chủ lấy nó. Nhơn loại là người, chẳng khi nào sống riêng mình được. Tại sao? Tại sự thương yêu ràng buộc trong phương sống, con người lấy trí khôn ngoan tức cái thiên lương đặng chung hiệp.
Con người sợ nhiều thú dữ nên lập xã hội để bảo vệ cho nhau, quây quần chung sống mới có tinh thần vững chắc. Con người phải định bổn phận đáp trả lại xã hội nhơn quần. Trái lại, họ dùng trí khôn ngoan để lường gạt, ăn gian, xảo mị. Con người vì giành sống mà tìm cách giết nhau. Vì cớ, oan gia trái chủ là tự chúng ta tạo nghiệp. Con người có thể qua mặt xã hội được, nhưng luật công bình thiêng liêng căn quả chẳng hề khi nào chúng ta qua mặt được. Nhơn quần xã hội sống cùng nhau tức nhiên phải có định chủ quyền. Hồi trước, mỗi nơi có một vị đủ trí thức, tài tình, đủ mạnh mẽ làm chủ. Khi lập quốc, mọi người phải tôn sùng cung kỉnh vị Chúa của nước. Nhơn trí buổi ấy hiền lương, Thánh Đức của họ không xảo trá, hung ác. Chịu ảnh hưởng văn minh khoa học, trí lự khôn ngoan của nhơn loại đi quá xa, không phương thế trị an được nên chính quyền thường bị đánh đổ.
Ngày nay nhơn loại trên địa cầu này đều xu hướng theo dân chủ, vậy dân chủ là gì? Là đại đa số dân chúng tổng hợp lại nắm chủ quyền. Hại thay có nhiều hạng người không đủ tinh thần học thức, không đủ tâm đức để làm đại diện cầm sanh mạng nhơn loại. Làm chúa thiên hạ với phương xảo mị, không phải với phương pháp tối cổ. Cả tinh thần trên mặt địa cầu này đều loạn, chỉ vì không có quyền vi chủ.
35.Có con đường nào, giải pháp nào cho hoà bình thế giới ?
Đức Chí Tôn nói: Phương pháp tạo quyền của nhơn loại không thể gì bền vững được, ta coi các người đập phá tan tành hết. Ta đến cho lại, ta chỉ đường cho. Con đường Đức Chí Tôn chỉ là con đường Pháp Chánh. Ngày giờ nào trên mặt địa cầu này: quốc gia, xã hội, nhơn quần biết tìm chủ quyền đặc sắc, vĩnh cửu, công chánh, tức họ phải đồ theo Pháp Chánh của Đạo Cao Đài mà tạo hình tướng thánh thể nước nhà. Pháp Chánh có năng lực đào tạo quyền hành cho nhơn loại. Muốn được món báu ấy, nhơn loại phải tự tỉnh định quyền vi chủ lấy mình trước, quyền đó do nơi đạo đức tạo thành vậy.
Ngày giờ nào nhơn loại trở lại con đường đạo đức gầy dựng phương pháp sống, mới sống vinh quang, hạnh phúc được. Ngày giờ nào tiêu diệt được quả kiếp hung tàn, trở lại con đường đạo đức, ngày giờ ấy nước nhà mới yên ổn, thiên hạ mới hưởng được hồng ân đặc biệt của Đức Chí Tôn ban cho.
36.Nếu con người quá hung ác,
con người có thể bị trở lại kiếp thú chăng ?
Bần đạo vấn nạn các Đấng Thiêng liêng buổi ban sơ, không thể gì con người có thể đầu kiếp làm thú.Các Đấng Thiêng liêng trả lời dè dặt: “Khi có nhiều chơn linh không đáng địa vị nhơn phẩm, làm thế nào cho có sự tấn hoá toàn thể. Ở nhơn phẩm hoặc đứng chựng hoặc tấn tới. Hễ ta đứng không đặng phải thoái bộ, mà con người đã thối bộ tức nhiên trở lại thú rồi. ”
37.Tại sao chúng ta phải ở đây? Sống để làm gì ?
Toàn thể thiên địa trên mặt địa cầu này đều do quả kiếp. Quả kiếp ấy gầy dựng sản xuất ra do cơ tạo hoá của nó. Vừa lọt lòng mẹ, ta mang bao nhiêu thứ nợ: nợ trái chủ, nợ quả kiếp đủ thứ. Thiên Chúa giáo gọi là nợ Tổ tông đó. Cái nợ nó thiết yếu, trọng hệ, mắc mỏ lắm. Hễ trả hết nợ, mình lại được giàu thêm, vinh diệu thêm. Vậy làm sao trả cái quả kiếp ấy cho rồi, đừng để nó theo ràng buộc cái khối thiên lương của chúng ta. Thể xác này là con kỵ vật, con thú chúng ta cỡi. Con vật này làm cho ta thiếu nợ kiếp sanh của nó. Phương pháp trả nợ như thế nào? Phải nương theo cơ quan hữu vi này mà sống. Nó quyết định làm tôi tớ cho xã hội, làm tôi cho mặt địa cầu này để trả nợ tình. Ngày giờ nào nó không làm tôi tớ cho cơ quan hữu hình này, thì mối nợ ấy vẫn còn.
Cái triết lý cao thượng hơn hết là mình không sống cho mình mà sống cho xã hội nhơn quần. Được thế, cơ quan giải khổ của chúng ta chắc chắn không ai là không đoạt được.
38.Tại sao chúng ta phải chịu Tứ khổ ?
Các chơn linh đến trần gian này mang xác phàm, nương với cái hình luật tấn hóa của các chơn linh để lập thiêng liêng vị của mình. Muốn đoạt thiêng liêng vị xứng đáng thì phải giải quyết vấn đề Tứ Khổ: SINH, LÃO, BỆNH, TỬ .
Ngó thấy vạn loại: con cá bị nhốt trong chậu, con chim bị nhốt trong lồng, con người bị nhốt trong Tứ Khổ. Tất cả đều tìm phương thế đặng thoát cái ngục nơi mặt Càn Khôn Vũ trụ này. Thể xác là cái khám nhốt chơn linh chúng ta. Như con thú kia nó vùng vẫy thoát cảnh khổ, dù thoát không được nó vẫn tìm mọi cách vùng vẫy. Con người cũng vậy, tìm phương kế hoạt động để giải khổ; tìm không đặng cũng kiếm cách để an ủi lấy mình. Ngặt nỗi để tìm phương thoát ngục ấy phải chịu bao nhiêu là khổ hải. Nhiều khi chưa tìm đặng hạnh phúc để giải khổ, nó làm cho mình thêm tội mà chớ.
39.Hạnh phúc thật sự của loài người là gì?
Có cách nào thắng được cảnh khổ chăng ?
Chúng ta thử tìm hiểu hạnh phúc trong cảnh trần là gì? Có hiểu được mới giải quyết vấn đề thắng khổ được. Có một chơn linh sắp đi đầu kiếp nhưng cự nự lắm, xin Diêm Vương cho mấy điều thì chơn linh ấy mới chịu đi. Đó là:
Cha Thượng Thơ
Con Trạng Nguyên
Quanh nhà ngàn khoản nhứt hạng điền.
Trai tơ gái lịch, vợ tốt hầu xinh thảy thảy đều
Diêm Vương nói : dù có cho ngươi cũng chưa chắc ngươi có hạnh phúc.
- Linh hồn ấy muốn mình là Trạng Nguyên con của vị Thượng Thơ. Nếu gặp vị Thượng Thơ gian ác, tham ô bị dân oán ghét ngươi còn có hạnh phúc chăng ?
- Nếu thi đậu làm Trạng Nguyên mà mệnh yểu, chết sớm, có hạnh phúc chăng ?
- Nhà nhiều ruộng đất đặng làm giàu, bất quá tham của thôi, chứ chưa có hạnh phúc.
- Trai tơ, gái lịch, vợ tốt, hầu xinh có tạo hạnh phúc được chăng ? Chưa chắc ,vợ đẹp cậy thế đè đầu mình, hầu xinh ganh ghét, hãm hại nhau … Tất cả đều chưa chắc tạo hạnh phúc được.
Ngay cả bậc Đế Vương cũng chưa chắc kiếp sanh đoạt được hạnh phúc. Muốn lập quốc và tạo hạnh phúc cho quốc dân phải có 3 điều kiện. Đó là Thiên thời, Địa lợi, Nhơn hoà.
a. Thiên thời là gì? tức nhiên theo mạng Trời; tùng mạng Trời tức nhiên tùng Đạo.
b. Địa lợi là gì? là biến đất đai trở nên sung túc. Muốn vậy phải có đạo đức, có nhơn tài.
c. Nhơn hoà đặng chi? Nếu lòng người không hòa thì sẽ có loạn lạc, chiến tranh.
Đó là 3 điều đặng tạo hạnh phúc cho quốc dân, mà nhà lãnh đạo nước có phương thế tạo đặng hay chăng. Nếu tạo không được, tức chỉ tìm hạnh phúc trong mơ mộng mà thôi.
Hại thay, nhơn loại không biết nghe theo tiếng Thánh đặng tự giác sửa mình hầu tìm được hạnh phúc chơn thật.
40.Năng lực của các Tôn giáo
có đủ để bảo vệ phần hồn của sanh chúng không ?
Khi lập giáo, các vị Giáo chủ lấy một thuyết trọng yếu đặng làm triết lý Đạo giáo của họ. Tỷ như :
Thánh Giáo Gia Tô lấy TÂM làm căn bản,
Lão giáo lấy THÂN làm căn bản,
Hồi giáo lấy TÍN NGƯỠNG làm căn bản,
Phật giáo lấy TỪ BI BÁC ÁI làm căn bản,
Khổng giáo lấy TRÍ làm căn bản.
Mỗi giáo lý đều có sở năng làm trung tâm điểm đặng vi chủ tinh thần của con người trong khuyết điểm của họ.
Thoảng có một vị tu theo Phật giáo, chẳng noi theo tánh đức nhà Phật là trọn kiếp sanh đem thân phụng sự cho nhơn loại, sang trọng, vinh hiển coi như giọt sương đầu cỏ. Xuất thân Đế Vương mà Ngài bỏ hết, mang bình bát đi hành khất, tạo Cô Độc viên nuôi kẻ nghèo khó. Mảnh áo Ngài không muốn mặc sang hơn kẻ khó khăn. Ăn mày như thế mới siêu thoát tinh thần làm sao! Nếu một vị giáo đồ nhà Phật lấy căn bản hành khất ấy để tạo cảnh chùa; ngồi đợi chúng sanh cúng dường đặng ăn mà sống, đem cả mầu nhiệm Thiêng liêng của Phật dạy làm khí cụ dụ dỗ mà chưa hề phụng sự chúng sanh như Phật Thích Ca. Đến khi về cửa thiêng liêng nói: Tôi theo tôn chỉ nhà Phật mà Phật đoạt vị được, tôi cũng phải đoạt vị như Phật chớ ? Hỏi vậy nơi cung Hiệp Thiên Hành Hoá, các Đấng làm sao bảo vệ cho kẻ ấy nơi Cực Lạc Thế Giới và Ngọc Hư Cung đặng ?
Đức Gia Tô truyền Thánh Giáo lấy Tâm làm căn bản. Vì lòng yêu ái vô tận của Ngài đối với chúng sanh, Ngài xin mang cả tội tình của loài người vào mình. Ngài chịu chết trên cây Thánh Giá đặng cứu rỗi nhơn loại. Thoảng như môn đệ của Ngài về tới cung Hiệp Thiên Hành Hoá nói: Tôi theo chơn truyền của Đức Chúa Jesus Christ, tôi đem mảnh tâm hiến cho Đức Thượng Đế; nhưng tinh thần của họ chẳng mảy may yêu ái chúng sanh. Trái lại họ cầm cái quyền nhơn danh Đức Chúa Trời tha tội cho nhơn loại đặng vi chủ tinh thần loài người, hành tàng của họ thực hiện không đúng gì với chơn lý cao siêu của Đức Chúa Jesus cả. Nơi cung Hiệp Thiên Hành Hoá, họ sẽ trả lời thế nào về hai quyền năng Trị Thế và Giác Thế ?
Khổng Giáo lấy Trí làm căn bản. Trí thực muôn hình vạn trạng. Đem cái triết lý cao siêu ra tạo xã hội nhơn quần không phải dễ. Đức Khổng Tử phải dùng trí đặng tự tu kỳ thân. Có vậy mới đủ quyền năng giáo hoá nhơn loại đến trọn lành. Ngược lại, môn đồ của Ngài học nhiều thấy rộng, nói cho hay cho khéo, lấy cả tinh thần cao thượng làm vui miệng, còn thật chơn lý không ai làm đặng. Những kẻ ấy về Ngọc Hư Cung kêu nài: Tôi theo Đạo giáo của Đức Khổng Tử, đào luyện tri thức, trọng nhơn luân phẩm cách, tôi cũng có quyền đứng vào phẩm Thánh! Sự thực họ chẳng thực hành gì cả mà còn lấy trí thức để giục loạn làm cho xã hội điên đảo, dùng miệng lưỡi lường gạt kẻ dốt nát, mượn ngồi bút bán cả sanh mạng con người. Hỏi những kẻ đó Đức Khổng tử có nhìn không ?
Tóm lại, các vị Giáo chủ đã tạo ra nền Tôn giáo, tinh thần của các vị chỉ biết phụng sự cho nhơn loại. Họ chịu khổ hạnh muôn cay ngàn đắng trọn kiếp sanh đào tạo tinh thần cho loài người. Hại thay, cả triết lý Đạo Giáo thay vì tạo hạnh phúc cho nhơn loại đã bị làm khí cụ cho kẻ vô tâm lợi dụng đặng lường gạt tinh thần nhơn loại. Nếu Cung Hiệp Thiên Hành Hoá chiếu luật “Tội vi Trưởng ” thì chưa chắc các vị Giáo chủ ấy ngồi yên trên Liên Đài của họ đặng, mà phải hầu toà mãi thôi.
+ CÒN ....