BÀI 3

41.Năng lực của Tôn giáo Cao Đài như thế nào ?

Tôn giáo của Đức Chí Tôn lấy tinh thần làm căn bản. Tinh thần của nhơn loại hiện ở dưới quyền áp bức của văn minh vật chất. Tinh thần ấy có đủ quyền năng bảo vệ họ chăng? Nếu tinh thần của nhơn loại không quật khởi lên bằng tự quyết, tự chủ, tự định phận mà làm nô lệ cho vật chất thì tương lai Đạo Cao Đài sẽ ra sao? Chúng ta nên có một dấu hỏi ?

Chúng ta để mắt nhìn Đức Chí Tôn tạo hình thể nào đặng bảo trọng tinh thần đạo đức của loài người. Ấy là phương pháp ta nương theo đó đặng tạo dựng khối đức tin vững chắc bền bĩ vậy.

42.Sống không đức tin sẽ ra sao ?

Có nhiều điều rắc rối giữa quyền năng binh vực các chơn linh nơi cung Hiệp Thiên Hành Hoá đối với quyền trị thế của Ngọc Hư Cung và quyền giáo hoá của Cực Lạc Thế Giới. Những nhà tư tưởng vô tín ngưỡng tới chừng về Thiêng Liêng rồi phải buộc mình quì trước mặt luật Thiêng Liêng chịu khảo dượt tinh thần.

Họ đưa ra nhiều lý lẽ phản đối, tỷ như: Mấy nhà đạo giáo dạy Đạo cho nhơn sanh nhưng đối với phương sanh sống của đời không có quyền chi hết, còn làm trở ngại bước đường tranh đấu của loài người. Chớ chi quyền năng Tạo Đoan cho chúng tôi thấy hiện tượng trước mặt hay là bảo trọng đặng sanh mạng của loài người thì ai không muốn tu? Các vị Giáo chủ khuyên chúng tôi làm lành lánh dữ. Chúng tôi muốn làm lành nhưng nếu chúng tôi nhịn thì bị cái dữ của thiên hạ tàn hại. Thế gian kia bao nhiêu bực đạo đức phải chịu khuất thân dưới quyền cường bức của thế gian, chịu mai một thiệt thòi; bây giờ các Ngài biểu nương nơi họ mà tạo đức tin, tôi chưa thấy, xin các Ngài tả hình cho chúng tôi thấy thử.

Các Đấng nơi cửa Thiêng liêng mới bảo: các ông đa văn quảng kiến tìm phương thế bào chữa, chứ chơn lý không phải như mấy ông bày ra đó đâu. Các ông không biết tin mình thì còn tin ai, còn tin triết lý Đạo Giáo sao được.

Nếu triết lý Đạo giáo không có thì nhơn loại sẽ thuộc vào hàng thú cầm. Hỏi các ông nương theo lý thuyết nào mà biết mình tối linh, cao trọng hơn vạn loại? Các ông tính chối phẩm vị cao trọng của mình đặng nạp cả mạng sanh và tâm hồn vào chỗ đê tiện thì bảo tinh thần phải nương nơi đâu ?

Tấn tuồng tranh sống giục thúc nhơn loại tàn hại như thế nào? Bậc trí thức tìm hạnh phúc trong cái sống vật chất, tức là cái sống của con vật. Loài người đào óc não mưu cầu hạnh phúc cho kiếp sống mà đã nên chưa, thành hình chưa? Hay còn đang chiến đấu, mà chiến đấu đến chừng nào? Các ông trách quyền thiêng liêng không để một oai quyền trước mắt định đức tin cho thiên hạ. Dám chắc rằng dầu cho Đức Chí Tôn hiện hình biểu con người theo Ngài đi nữa, con vật trong họ biểu họ chỉ theo hạnh phúc của con thú mà thôi! Như kẻ đánh xúc xắc, đánh trúng mới ăn tiền, nếu để chén ngửa ra thì thiên hạ ai nói cũng trúng hết.

Có biết ta rồi mới biết thiên hạ, biết thiên hạ rồi mới biết đến ngôi Chúa Tể Càn khôn Vũ trụ. Biết Đấng ấy là biết rõ mình vậy. Sống không đức tin nghĩa là không biết mình, khác nào cây cỏ vật loại kia thì không có nghĩa gì hết, sống ấy vô giá trị.

43.Nhiều tôn giáo quá làm cho tinh thần loài người hoang mang,
không biết nên để đức tin nơi nào ?

Mỗi Đạo giáo có phương chước tu hành đặng dục tấn trên về mặt tinh thần trên con đường Thiêng liêng Hằng sống.

- Nhơn đạo dạy nhơn loại TÙNG KHỔ

- Thần đạo dạy nhơn loại THẮNG KHỔ

- Thánh đạo dạy nhơn loại THỌ KHỔ

- Tiên đạo dạy nhơn loại GIẢI KHỔ

- Phật đạo dạy nhơn loại THOÁT KHỔ

Tất cả chỉ có một triết lý. Vì muốn diệt khổ mà các Tôn giáo đề ra nhiều con đường, nhiều biện pháp. Không có tôn giáo nào dạy điều quấy, tức nhiên dạy làm phải. Nếu thấy phải mà không dám làm theo thì là bạc nhược tinh thần lắm vậy. Người ta dọn một bữa cơm có nhiều món, nếu nói nhiều quá cứ cầm đũa quơ hoài không biết chọn món nào rồi chịu đói sao? Phải ăn chớ! Các nền Tôn giáo đã để tại mặt thế này tuỳ theo trí hoá, tánh đức của nhơn loại tiến tới điểm nào để Tôn giáo đến cho vừa điểm ấy.

Tôn giáo là gì? Tôn giáo nào cũng dạy cho ta sáng tạo đạo đức tinh thần. Tổng số các Tôn giáo ấy tạo ra thiệt tướng của đạo đức, chứ nào phải tạo ra cho nhiều để chỉ trích nhau, tàn diệt nhau. Chơn lý ấy chỉ là một. Đó là sống trong cái sống của tín ngưỡng, sống trong con đường hằng sống. Dù cho một trăm đường đi, ta chỉ cần biết một nẻo là đủ, điểm đến là cõi Thiêng liêng Hằng sống. Đó là cảnh mà ta cần tìm chứ không phải cảnh phàm này.

44.Triết lý “vị tha diệt kỷ”
hay “dĩ công diệt tư” nếu đem thực hành có thể đem nhơn loại
ra khỏi vòng tương tàn tương sát lẫn nhau ?

Tại mặt thế này có nhiều lẽ bất công trước mắt, trường đời hỗn loạn mạnh được yếu thua, tấn tuồng ấy cứ tiếp diễn hoài. Hỏi có quyền năng nào đủ năng lực để ngăn không cho sự bất công tiếp diễn nữa không ?

Các Đấng nơi Cung Hiệp Thiên Hành Hoá trả lời rằng: cũng bởi nguyên căn dĩ tư diệt công, dĩ kỹ diệt tha. Giờ nào nhơn loại biết

DĨ CÔNG DIỆT TƯ, DĨ THA DIỆT KỸ

giờ ấy là giờ giải thoát cho nhơn loại. Hễ dĩ kỹ vị tư tức có tương tranh, mà có tương tranh ắt có tương tàn tương diệt. Luật Thiên nhiên định quyền dĩ công diệt tư, dù cho xã hội nhơn quần đến gia đình cũng vậy. Trong gia đình nếu con cái lấy tư kỷ thì gia đình ấy xào xáo. Trong một quốc gia, dân phải vì nước mình thì nước mới giàu mạnh nếu dân vị kỷ không biết hy sinh, chỉ biết hạnh phúc cá nhân thì nước nhà suy yếu, loạn lạc. Nếu một nước lo cho nước mình giàu mạnh hơn các nước khác mà xâm lăng nước ngoài thì chiến tranh phải xảy ra!..Luật thiên nhiên dục tấn đặng chi? Đặng đưa họ đến con đường hiệp nhứt, vị tha bất vị kỷ. Hại thay, nhơn loại chưa có tinh thần đó.

Đức Chí Tôn là Cha của mỗi đứa mình, Đức Phật Mẫu là Mẹ sanh của mình. Cả hai cũng là công, không phải tư được. Về quyền Thiêng liêng, nắm cái Càn khôn lập quyền năng vững chãi do nơi cơ quan vị công bất vị tư. Thế gian này ngày giờ nào nhơn loại lấy của mình làm công thì ngày ấy thiên hạ mới hạnh phúc.


45.Quyền năng của luật Bác ái & Công bình?

Các chơn linh thiếu đạo đức tinh thần công kích: tại sao các vị Giáo chủ lập giáo bất đồng với nhau, phản khắc nhau; biểu sao nhân loại không chia rẽ, không thống nhất? Các Đấng nơi cung Hiệp Thiên Hành Hóa nói: luật hữu hình bất công của các chủng tộc nơi mặt địa cầu này là tại nhiều tâm lý, tâm đức, tinh thần bất đồng của nhơn loại.

Như Đức Phật Thích Ca lập giáo nơi Ấn Độ. Ngài vẫn làm chủ tâm lý loài người do đâu? Do mặt luật Bác ái và Công bình. Các nền Tôn giáo mở đường chỉ nẻo cho nhơn loại đến con đường Đạo, tức là tín ngưỡng thờ Người và thờ Trời. Những phương pháp các vị Giáo chủ tạo ra cho có hình tướng cốt yếu dìu dắt tinh thần nhơn loại đi đến mức cao thượng là Bác ái và Công bình. Đó cũng là đạo Nhơn luân vậy.

Đức Jesus Christ nếu không Bác ái thì chưa đem xác thịt của mình làm con vật tế để cầu xin Thượng Đế tha thứ tội tình cho nhơn loại. Nếu đem ra làm kiểu mẫu cho nhơn loại bắt chước thì Tôn giáo Gia Tô đã đoạt được bao nhiêu tinh thần thương yêu nơi mặt địa cầu này. Đạo Cao Đài xuất hiện với Luật Bác ái và Pháp Công bình. Dầu luật pháp muôn hình ngàn tướng cũng vẫn trong luật Bác ái và Công bình mà thôi.

46.Đệ tam hoà ước ký giữa Chí Tôn và nhân loại là gì?
Giá trị của LUẬT THƯƠNG YÊU VÀ QUYỀN CÔNG CHÁNH ?

Trên mặt địa cầu có nhiều chủng tộc nên tâm lý, tâm đức bất đồng thay.

Các Giáo chủ như Đức Phật Thích Ca, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức Chúa Jesus v..v.. vì thấy thiên hạ không biết nhìn phẩm vị của mình, không biết định vị cho mình nên các vị đem Bác Ái, Từ Bi thức tỉnh nhơn loại buổi ấy. Những phương pháp các vị tạo ra đều chung một hình tướng là Bác Ái, Công Bình, cốt yếu để dìu dắt tinh thần nhơn loại đi đến mức cao thượng. Hễ biết trọng mình, biết trọng nhơn phẩm của mình tức biết Thiên đạo; Biết Thiên Đạo tức biết Thiên điều ; biết Thiên điều tức biết Đức Chí Tôn tạo Đạo, mình phải giữ Đạo.

Đạo Cao Đài xuất hiện, Đức Chí Tôn ký một bản hoà ước thứ ba với nhơn loại vì hoà ước thứ hai đã bị nhơn loại phản bội, không giữ sự tín ngưỡng của mình nên thất Đạo, nhơn loại đi trên con đường tương tranh tự diệt nhau. Trong Đệ Tam Hoà Ước này Đức Chí Tôn buộc nhơn loại, nhứt là Thánh thể của Ngài thi hành LUẬT THƯƠNG YÊU VÀ QUYỀN CÔNG CHÁNH. Tờ Hoà Ước này, Ngài buộc thi hành theo luật cho chúng ta khỏi phải bội ước. Hai kỳ trước Ngài có buộc luật ấy chăng? Có, mà tại Ngài không nói với nhơn loại. Không nói tức là không buộc, không buộc thì không làm. Kỳ này Đức Chí Tôn không nói mà buộc phải thực hiện.

Năng lực của LUẬT THƯƠNG YÊU VÀ QUYỀN CÔNG CHÁNH ra sao ?

Do nơi Luật Thương yêu mà vạn vật sinh sôi nảy nở. Con người nếu không có ân tình nên chồng nên vợ chắc là chưa có con nối dòng, truyền tử lưu tôn cho loài người đặng. Vạn vật cũng thế, người cũng thế. Không chỉ thương vợ, thưong chồng, luật Thương yêu còn cao xa hơn thế, buộc phải thương yêu cả toàn vạn linh nữa.

Còn nếu không có công lý tại mặt thế này thì các cơ quan không tồn tại được. Một trường hỗn loạn, tương tàn tương sát lẫn nhau. Muốn thi hành luật công lý, tức nhiên phải lấy Cân Công Chánh làm mô giới cả cơ quan trị thế.

Công Chánh nơi miệng lưỡi vạn quốc đương dùng bây giờ chỉ là một phương pháp để lường gạt tâm lý nhơn loại. Thế gian này chưa có công lý thực sự. Mạnh, giàu, vinh hiển thì công lý họ khác; còn đối với người nghèo khổ thì công lý của họ lại khác! Nếu Cân Công Chánh ấy thiệt tướng của nó thì thiên hạ không có tàn sát nhau. Con người chưa có đoạt công chánh thật sự vì chưa có mặt luật công bình bác ái dưới thế gian này.

Bởi cớ cho nên Đức Chí Tôn buộc cả con cái của Ngài nhứt là Thánh thể của Ngài thi hành cho được thiệt tướng. Ngài nói : “Ngày giờ nào các con dòm thấy một lẽ bất công nào nơi mặt thế gian này thì ngày giờ ấy chưa thành Đạo. ”

47.Đạo Cao Đài có thể đem hạnh phúc cho nhơn loại, tạo hoà bình,
làm cho đại đồng thiên hạ chăng ?

Đức Chí Tôn đến, tạo nền Tôn giáo, cốt yếu là đến ký tờ hoà ước với nhơn sanh, tạo hạnh phúc cho nhơn sanh và làm cho thiên hạ hưởng đặng thái bình nơi mặt địa cầu 68 này. Chúng ta dám quả quyết và để đức tin chắc chắn rằng thế nào cũng thành tựu vì:

“Đức tin một khối tượng nên hình
Đã hiệp Vạn linh với Chí Linh ”

Đạo Cao Đài đã thành nhưng từ từ đi lên cho đến cái địa cảnh vô đối của nó. Hoà ước dưới thế gian, Đức Chí Tôn buộc có hai khoản :

- LUẬT THƯƠNG YÊU
- QUYỀN CÔNG CHÁNH

Hoà ước thật đơn sơ mà oai quyền làm sao! Chúng ta hiểu và tin rằng thế nào nó cũng thành nhưng thời gian ta không biết định đoạt lúc nào. Ta chỉ lấy trí tri để hiểu chơn tướng của Đạo Cao Đài, làm thế nào đem hạnh phúc cho nhơn loại hưởng được và tạo hoà bình cho thiên hạ cả Đại Đồng Thế Giới.

Chúng ta tìm hiểu cái quyền năng của luật Thương Yêu như thế nào? Nếu không có sức mạnh mẽ vô biên của luật Thương Yêu ấy thì Đức Phật Thích Ca chưa có lập giáo thành tướng được. Chỉ cần một người thương hoặc nửa người thương mà các vị Giáo chủ đã lập thành Tôn giáo nơi mặt thế này. Đạo Cao Đài nên hình, có nét đẹp thiên nhiên là nhờ vẽ với cây viết Thương yêu mà viết nét Thiêng liêng ấy cho Thánh thể của Ngài theo nét thương yêu ấy đặng tạo nên hình trạng một khối thương yêu. Ta không có mơ vọng và không có lường gạt tâm lý nhơn sanh. Trước mặt mọi người đều thấy, hỏi do quyền năng nào tạo thành quyền lực ngày nay. Quyền Đạo ngày nay do luật Thương Yêu mà thành tướng. Nếu do luật Thương Yêu thành tướng thì không có quyền năng nào tàn phá đặng. Nó có sợ chăng là sợ sự thù hận, may thay cả lực lượng thù hận cũng không xung đột được, bởi có bàn tay Thiêng liêng gạt thù hận ra khỏi rồi. Thánh thể của Ngài có người cầm luật pháp oai nghiêm, tức cầm cây Huệ kiếm trong tay đặng gìn giữ nền Chơn Giáo nên hình được. Nó nên hình được tức nó tạo cho thiên hạ được. Nó tạo oai quyền của nó thành tướng được thì tạo quyền cho nhơn sanh tại mặt địa cầu này về tương lai được.

48.Văn minh có đem lại hạnh phúc không ?

Văn: lời lẽ hoặc là văn hoá, văn chương; những lời lẽ mà chúng ta đã đoạt được của người khác, hay của mình tự đặt ra.

Minh: minh bạch, rõ ràng, sáng suốt.

Văn minh là lời lẽ minh bạch rõ ràng giúp cho chúng ta đoạt đặng những phương pháp để mà định quyết tương lai hay là giữ tồn tại sự tấn triển trong kiếp sống của mình; hoặc là chúng ta dùng phương pháp về văn tự để lưu truyền ngôn ngữ của chúng ta đặng định một sự tấn triển của phương sống, hay phương sống của xã hội.

Vậy, văn minh (civilization) có thể hiểu ba nghĩa :

- Là tổng số của sự tiến triển về tâm lý tức nhiên về chính lý, về khuôn khổ, về hình thức của sự sinh đoạt con người đã đoạt đặng.

- Tổng hợp các sự tấn triển của xã hội, của một quốc gia mà họ đã đoạt đặng.

- Phương pháp của tinh thần quyết thắng vật chất. Với trí óc ta vẫn biết thiêng liêng do thiên tánh, đặng người xứng đáng làm Người, không hạ mình xuống tánh chất con thú.

Với ba ý nghĩa ấy, ta thấy nghĩa sau chót hết là chánh đáng. Tại sao? Con người bây giờ nhờ chế máy bay, có thể bay giữa không trung như chim, nhờ máy móc có thể lặn xuống biển được, có thể ở trên mây được v.v.. nhưng đó chưa phải là hạnh phúc thực sự. Đó chỉ là theo cái văn minh mà thiên hạ tưởng tượng. Hạnh phúc thiệt không phải là phần xác, hạnh phúc thiệt là ở nơi phần hồn.Chúng ta ngó thấy biết bao nhiêu vị Vương Đế đã tạo giang san sự nghiệp, dám chắc nếu chúng ta dở lịch sử ra coi thì chúng ta để dấu hỏi mơ hồ họ chưa có thể hạnh phúc được. Trái lại, “hễ càng cao danh vọng lại càng dày gian nan ”. Dù sang trọng cách nào mà không thoả mãn tâm hồn thì không phải là hạnh phúc thật. Ấy vậy, văn minh tạo hạnh phúc cho loài người về phần xác thân là đời, chẳng khác nào như ngọn cỏ đầu sương.

Cái thuyết của văn minh là cái phương pháp giúp cho con người biết duy chủ con kỵ vật của mình mà điều độ sự sống còn tồn tại nơi mặt thế này. Sống tạm ở mặt thế này, để làm cho họ thoả mãn đặng điều độ mảnh thi hài thể chất này, duy có tinh thần đạo đức mới đặng. Giải thật nghĩa hai chữ văn minh một lần nữa: Văn là quyền hạn, Minh là sáng sủa đạo đức. Văn minh thiệt tướng được là thực hiện một nền Tôn giáo cao siêu tại thế gian này mới thiệt hạnh phúc; về phương pháp đạo đức mới thiệt hạnh phúc.

49.Cảnh tượng nơi Ngọc Hư Cung như thế nào ?

Nếu chúng ta ngó thấy cây Phướn Diêu Trì Cung trước mặt, muốn tìm Cung Ngọc Hư thì chúng ta xoay qua bên mặt. Cảnh giới khác thường huyền bí lạ lùng. Vạn Pháp thành hình không có điều gì chúng ta tưởng đến mà không có trước mặt. Tỷ như con đường dục tấn ấy, nếu chúng ta muốn đến cho mau thì chúng ta đến một cách chớp nhoáng; muốn gì được nấy, tưởng thì nó hiện hình liền. Ấy là một cảnh giới vô tận vô biên không khi nào lấy trí khôn con người mà tưởng tượng được.

Nơi cảnh ấy chưa có buổi nào huyên náo hay có tiếng nào buồn. Chúng ta đi miết tới, vui mà đi. Trước mặt chúng ta là một lâu đài. Lâu đài ấy chúng ta ngó thấy một màu với nhau vì chỉ có một vật tạo thành mà thôi. Vật đó dường như pha-lê, màu thì trong, hào quang chiếu diệu - không thể gì tả ra đặng, vì nó do tinh thần của chúng ta biến tượng.Chúng ta đến nơi ấy thấy mình biến tướng y như hình ảnh của khuôn khổ trong địa giới, hình chúng ta biến một màu sắc. Hễ nó biến theo được thì mới nhập cảnh ấy được, nếu biến theo không được thì chúng ta bị đuổi ra. Ấy là Pháp thân của chúng ta nó phải nhập cảnh giới ấy.

Câu kinh “Rấp nhập cảnh Thiêng liêng Hằng sống là vậy đó ”

Khi vô đặng rồi, tưởng đâu thiên hạ trùng trùng điệp điệp. Không có đâu, chỉ thấy Tông đường Thiêng Liêng của chúng ta đang tiếp đón mừng rỡ. Ôi! nơi hội hiệp các thân nhân của chúng ta, từ buổi chúng ta đoạt đặng địa vị Tiểu Hồi, lên tới phẩm Đại Hồi. Từ trong địa vị Thần Thánh, Tiên, Phật, cả ngàn muôn triệu kiếp sanh.

Các bạn ở Tông đường, các Gia tộc chúng ta muôn muôn, trùng trùng, điệp điệp không định số được. Khi họ đến mừng, họ dẫn chúng ta đến một Cung rồi dặn rằng: nơi đây không được nói tiếng, chỉ tưởng mà thôi, hễ tưởng là như nói vậy. Tỷ như tôi tưởng đến anh tôi thì anh ấy sẽ hiện ra trước mặt liền. Ở Cung ấy, duy có tưởng mà thế cho ngôn ngữ.


50.Nơi Cung Ngọc Hư,
tưởng đến Thần Thánh Tiên Phật được không ?

Cung Ngọc Hư là nơi cầm quyền chánh trị Càn khôn Vũ trụ.

Đấng đang ngự tại Huỳnh Kim Khuyết là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế hay Đại Thiên Tôn.

Ở Cung Ngọc Hư, người ta dặn đừng tưởng Thần, Thánh, Tiên, Phật bởi các danh từ ấy dùng nơi Trái địa cầu 68 này, do con người đặt ra.

Đẳng vị thiêng liêng của các chơn hồn không có phẩm trật. Nhơn loại nơi mặt địa cầu này, tinh thần mỗi cá nhân đều khác. Có 2.700 triệu chơn linh nơi mặt địa cầu thì 2.700 triệu người không đồng tánh chất, không đồng chơn thần, cho nên không định giá ngôi vị thiêng liêng được .Mỗi người đều có một phẩm vị đặc biệt của mình. Mỗi kiếp sanh đều tiến bộ thì khi tấn tới có một số định địa vị của mình. Giai cấp không phải giống nhau như ở thế gian này. Bởi địa vị không giống nhau, phẩm vị chỗ nào thì đứng ở chỗ ấy, không ai xô đuổi, không ai giành giựt được, từ chối gì cũng không được.

Đức Chí Tôn mới nói: “Đại nghiệp của mỗi đứa Thầy có sắm sẳn cho nó .”

51.Con người là ai, xuống cõi trần để làm chi?

Con người có ba thể:(*)

- Thể thứ nhất hay đệ nhất xác thân: thể này do cha mẹ ở thế gian sanh ra, còn có tên là phàm thân,nhục thể. Thể này do khí huyết cha mẹ tạo thành nên chịu ảnh hưởng của vật chất và phong thổ. Thể này vì thế thường được ví như con thú.

-Thể thứ hai hay đệ nhị xác thân: thể này do Đức Phật Mẫu là người Mẹ thiêng liêng ban cho. Thể này tạo bởi khí chất vô hình, mắt thường không nhìn thấy được. Thể này còn có tên Chơn thần, Pháp thân, thể vía.

- Thể thứ ba hay đệ tam xác thân: thể này do Đức Thượng Đế là người Cha Thiêng liêng ban cho. Chính điểm Linh quang của Ngài chiết ra đã làm cho con người hiểu biết và khôn ngoan hơn con vật. Thể này còn được gọi là Chơn Linh, Linh hồn, Lương tâm.

Ba thể ấy hiệp lại làm một mới thành con người và con người ấy mới có thể hiểu được Thiên cơ và đạt Đạo. Đạo giáo đã tỉ con người giống như một vị Thiên Thần cỡi con vật vậy.

52.Ai sẽ định tội phước của chúng ta ?

Chúng ta được dắt đến một Cung có một quyển sách Thiên Thơ để trước mặt ta. Dở ra xem thấy tên mình và kiếp sanh của mình đã làm gì thì nó hiện ra hết. Chúng ta tự xử chúng ta. Mình làm toà để xử mình hoặc mình phải đầu kiếp hay là đoạt đến địa vị nào, đứng ở mức nào thì cũng do mình định đoạt lấy.

Vị Chưởng Quản nơi Cung ấy theo tiếng phàm của chúng ta đặt tên là Nam Tào, Bắc Đẩu. Chính ta trị ta, không có ai định kiếp cho ta. Mạng căn kiếp số ta ta định , không có một hình luật nào buộc được chúng ta. Chúng ta có quyền tự do, quyền sở hữu định mạng căn cho ta vậy. Thành thử Ngọc Hư Cung là nơi an ủi các Chơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ, nơi ấy cầm quyền để dìu dắt bênh vực chứ không phải để trị.

Chúng ta nên tự tỉnh để sửa mình, tự sửa mình trước đặng ngày kia khỏi phải buộc tội mình nữa.

53.Cả mấy tỷ linh hồn làm sao các Đấng kiểm soát hết?
Chúng ta có thể chối tội được chăng ?

Chúng ta thuộc về quả địa cầu 68 với hơn 2.700 triệu nhơn sanh. Vậy tưởng tượng xem có bao nhiêu nhơn loại ở trên mặt Càn Khôn Vũ trụ vĩ đại này ?

Nếu tưởng tượng nền Chính trị Càn Khôn Vũ trụ này, kể sanh mạng mỗi người không sót, chẳng phải dễ. Lấy quyền năng nào mà cầm quyền chính trị vĩ đại ấy đặng? Huyền vi bí mật ấy ở đâu? Cơ quan trị thế phải thế nào? Phải sửa chữa nó lại cho phù hợp với cơ quan chính trị của Càn khôn Vũ trụ, chừng ấy thiên hạ mới được thái bình.

Tinh thần thế nào, hình thể cũng vậy không chi lạ. Nhơn loại chưa đoạt Pháp, chưa cầm được huyền vi bí mật nên nhơn loại còn loạn lạc. Tội, án đã có nơi Pháp thân của loài người, tức nhiên do chơn thần chúng ta ghi lại. Chúng ta muốn chối tội thì chối sao đặng, chính Chơn thần ta định cho ta. Các tội tình đều đưa ra trước mặt, từ Tiểu Hồi sanh tử biết bao nhiêu kiếp mới đoạt đến Đại Hồi!

Cả cái sinh hoạt, liên quan cả cái căn bản, cái quả kiếp v.v.. đều có ghi chép trong quyển Vô Tự Kinh. Chính ta định cho ta mà chối sao được, dầu muốn chối cũng không đặng vì chính Chơn thần ta định án cho ta, sợ hay chăng là ở chỗ đó. Ở thế gian, Ông Tòa trước khi định án còn có Trạng sư bào chữa.

Nơi này, người ta để mình làm tòa tự xử lấy mình thì có ai binh mình? Không thể gì chối tội, cãi án đặng, nếu cãi đặng là qua chơn thần sao. Cái bí mật vô đối cầm quyền của Càn khôn Vũ trụ là như vậy.

54.Mình làm tội mình chịu,
có ảnh hưởng gì tới người thân không?

Một linh hồn chịu quả kiếp nơi cảnh trần lúc trở về Ngọc Hư Cung thì cả thảy Tông đường đều có mặt, mừng rỡ đón tiếp. Ôi! nơi hội hiệp thân nhân của chúng ta, từ buổi chúng ta đoạt đặng Tiểu hồi, lên tới phẩm Đại hồi. Từ trong địa vị Đại hồi ấy mà chuyển kiếp đoạt đến địa vị Thần, Thánh, Tiên, Phật cả ngàn, muôn, triệu kiếp sanh .

Họ quan sát coi con đường mình đã đi qua, quả kiếp đã đi qua có điều chi sửa đổi hay chăng? có làm chi tội tình nữa hay chăng? Thay vì quả kiếp mình đi trong con đường Chí Thiện, đoạt được Bí Pháp Chí Linh; có những chơn linh đi ngược lộn lại thú hình gây thêm tội ác!

Vì mình mà cả Tông đường đều chịu tội nên đau đớn vô cùng.

55.Tông đường, gia tộc nào lớn?

Thế giới chúng ta có 5 quả địa cầu có nhơn loại ở. Gia tộc của các Đấng tại thế gian này có tên của những người đã đoạt Đạo là KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Ngoài ra còn có đại gia đình của Đức Phật Thích Ca, của Đức Lão Tử, của Đức Khổng Tử, của Đức Jesus Christ, của Mahomet... Đại gia đình vinh hiển hơn hết là của Đức Quan Âm Bồ Tát, tức nhiên là Từ Hàng Bồ Tát.

56.Có mấy hạng chơn hồn xuống thế gian này ?

Chia làm 2 hạng :

1. Hạng vì quả kiếp, xuống thế gian để trả tội cho mình. Chúng ta nên đặt tên cho các đẳng linh hồn ấy là kẻ tội nhân đến để trả tội.

2. Hạng du học, đến để lập vị cho mình. Hạng này biết giữ Đạo lắm, cao sang lắm. Chẳng hề khi nào họ hạ mình để làm điều nhơ nhớp.

57.Cảnh Địa ngục, Thập Điện Diêm Vương ra sao ?

Bần đạo chưa được phép xuống Diêm Cung nhưng nếu chúng ta làm điều gì trọng hệ tỷ như oán giận giết người thì kẻ đó đứng trước mặt chúng ta với vẻ sầu thảm. Không phải họ giết lại mình, mà nét buồn thảm của họ làm cho ta đau đớn. Vừa ngó thấy kẻ đó, linh hồn chúng ta tự đi lần xuống Diêm Cung rồi tự mình kết án mình.

Thảm thay những kẻ thiếu tình thương với người khác, họ không được chơn hồn nào an ủi, xung quanh chỉ nghe tiếng thảm trách, không biết thời gian nào định tội cho mình, không biết chừng nào án ấy hết, khổ não chẳng là điều ấy.

58.Án trục xuất của Hội Thánh ảnh hưởng gì và dành cho ai?

Hội Thánh là Thánh thể của Đức Chí Tôn, là quyền quản trị cả luật yêu ái của Đức Chí Tôn làm một khối. Khối ấy dành để trong tâm não của Ngài. Mỗi phần tử luân hồi là mỗi phần tử được Đức Chí Tôn gieo hình luật thương yêu ấy trong tâm não tinh thần của mỗi người. Ngài nói: “Các con đã hưởng được cái quyền yêu ái vô tận, các con nên lấy tình yêu ái truyền cho các em con từ thế kỷ này qua thế kỷ khác ”.

Trục xuất là gì? Là đuổi ra khỏi cái đại gia đình, Đại Tông Đường của Đức Chí Tôn đào tạo cho chúng ta. Bị đuổi ở dưới này thì ở trên kia cũng vậy; đuổi phần xác thì phần hồn cũng bị đuổi vậy.

Mình bị nhục và Tông Đường của mình cũng bị nhục nữa mới đáng sợ. Hình phạt ấy vĩ đại lắm nên các chơn hồn đều sợ sệt hơn hết.

59.Cung Phục Linh có gì đặc biệt ?

Đứng ngoài nhìn ta thấy đài các nguy nga, chói loà như hột ngọc giữa không trung, vào trong thấy chiếu diệu hào quang. Nơi Cung Phục Linh có muôn trùng thiên hạ, vạn điệp chơn linh. Ngôn ngữ nơi cảnh ấy duy có tưởng mà đặng thông công cùng nhau. Tỷ như Bần Đạo muốn đi đến chỗ đó, người ta đều hiểu rằng Bần Đạo muốn đi đến chỗ đó. Các chơn linh khác cũng nói chuyện bằng tư tưởng.

Chúng ta gặp biết bao nhiêu chơn linh quen thuộc, thân mến, yêu ái với chúng ta. Nơi cửa ấy chẳng gặp kẻ ghét hay kẻ không có thâm tình với ta. Khi chưa vô cửa thì anh em trong Tông Đường ta có dặn trước khi vô cửa đừng sợ sệt gì hết; phải bình tĩnh. Đã dặn trước vậy mà khi vô dường như mất thần mất trí hết thảy đều mê muội. Không biết gì. Tỉnh dậy thấy một vị Phật cầm cây Kiêm Câu đứng trước mặt chúng ta và thấy Hộ Pháp đương bắt ấn giữ linh hồn chúng ta lại. Vị Phật đó chính là Phục Linh Tánh Phật.

Ngài cầm Kiêm Câu quơ một cái thì chúng ta tỉnh lại một kiếp sanh. Mỗi lần Ngài quơ là chúng ta thấy mỗi kiếp sanh lụn lại, từ mức Đại Hồi cho đến Tiểu Hồi, qua cho tới vật loại, bởi chúng ta cả thảy đều là hoá nhân. Tới chừng nhập vô Ngươn linh chúng ta, dường như Ngươn linh của chúng ta sống cảnh vật loại vậy. Tới chừng chúng ta Phục Linh được rồi, chúng ta thấy cả Càn khôn Vũ trụ là bạn. Các chơn linh rầm rầm rộ rộ trước mặt chúng ta nhưng không có ai lạ hết; bởi vì nó có một đức, một căn bản, bí mật là vậy đó.

Kiếp sống bị một lần mê muội, tới chừng chết chúng ta cũng bị mê muội một lần nữa. Mê muội rồi mới sống lại, huyền vi bí mật là ở chổ đó. Nếu không mê thì chúng ta biết được kiếp trước của chúng ta hết. Ngày giờ nào chúng ta phục tánh chúng ta lại được, chúng ta thấy Đấng Tạo-đoan tạo Càn khôn Vũ trụ là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, tức Đại Thiên Tôn đương ngự nơi Ngọc Hư Cung, Chơn linh chúng ta phải qua chỗ đó để hiệp mặt cùng Đấng ấy.

+ CÒN ...



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả