ĐÀN NAM GIAO
Huế đã thực sự mịt mờ trong tôi, vì tôi lìa xa Huế khi còn... bé tí ti. Trong ký ức, chỉ còn lại một kỷ niệm duy nhất, ấy là ngày giỗ... "mệ nội tui"! Hôm ấy, tôi được ba mạ dẫn đến nhà bác tôi gần đàn Nam Giao ăn giỗ. Trong lúc những người lớn lo những việc cúng kiếng thì bác tôi cho tôi và ông anh út con của bác mỗi đứa hai viên kẹo hột sen gói giấy kiếng có những tua ở hai đầu rất đẹp rồi bảo ra vườn chơi để rộng chỗ cho người làm việc... Ông anh tí hon nhưng cao lêu khêu của tôi nhặt được cành mo cau, bảo tôi ngồi lên, hai tay ôm chặt cành mo, còn anh cầm phía ngọn kéo tôi chạy quanh theo những đường mòn và miệng anh... "Bí bo, xình xịch..." Lúc trời vần vũ sắp mưa, anh kéo mo cau càng lúc càng nhanh, miệng vẫn không ngừng giả tiếng tàu lửa: "Huýt... bí bo xình xịch". Có lẽ vì tôi nhẹ tưng nên qua một ụ đất, tôi bị bắn tung ra khỏi mo cau mà anh tôi vẫn không biết. Tôi lồm cồm bò dậy, tiếng "bí bo xình xịch" xa dần. Tôi chỉ biết mếu máo khóc thay cho tiếng cười ròn rã lúc ban đầu...
Khi vô tới nhà, tôi vẫn còn ức, vừa khóc vừa kể; anh tôi bị bác tôi cú lên đầu, anh tức tối nhìn tôi le lưỡi nhái, hai tay xòe ra, cụp vào hai màng tang để chọc tức... Tôi lại òa lên khóc, đưa tay chỉ anh và nức nở thật thảm thiết: "Bác!!! Ngó tề!". Lúc ấy anh tôi sợ quá mới lỉnh ra sau hè... Có lẽ đó là kỷ niệm vì quá sợ hãi nên mãi tới ngày nay mà tôi vẫn còn nhớ...
Hôm nay, trên đất khách quê người, tôi đã trưởng thành và đang được Ban Tổ Chức Ngày Nhớ Huế trao cho nhiệm vụ lo tờ báo, anh Trần Ngọc Phụng đã tặng tôi quyển sách về Cố Đô Huế khi anh nghe tôi "lèng èng" chẳng biết chi về Huế thì làm răng mà viết; anh hy vọng tôi lấy tài liệu để ghi lại... một cái gì đó thật Huế để độc giả "nhâm nhi" sau ngày 9/9/2000 của Huế tại Orlando kết thúc! (Xin thay mặt độc giả cám ơn anh Phụng nhé!). Bây giờ, đọc xong rồi, tôi xin lựa "Đàn Nam Giao", địa danh mà tôi đã có một kỷ niệm rất là con nít vừa kể trên để ai đó muốn biết về đàn Nam Giao, nhớ về Huế thì hãy đọc, và tôi cũng xin thưa trước tôi chỉ tóm lược thôi nhé. Xin lượng thứ vì tờ báo chỉ giới hạn và nhất là "để giành đất" cho các bài có giá trị khác nữa. "Dài dòng quá cái o ni!" (Hình như tôi đang nghe tiếng ai đang "la" tôi đó?)... Thôi, tôi xin vào đề nhé!
Đàn Nam Giao là một nơi để cúng tế Trời đất thời quân chủ, đã được thiết lập trước kia ở kinh đô Thăng Long. Thời hậu Lê (1427-1788), quy cách kiến trúc đàn tế Trời cũng như nghi lễ được chỉnh đốn rất nghiêm túc. Tại Huế, có 4 vị trí xây đàn Nam Giao khác nhau để vua chúa đến tế Trời mỗi năm hoặc 3 năm một lần.
Thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), đàn tế Trời được thiết lập tại một khoảng đất làng Kim Long. Sang triều Tây Sơn (1788-1801), đàn tế trời diễn ra ở một ngọn đồi gần phía Tây núi Ngự Bình, gọi là hòn Thiên hay núi Ba Tầng. Khuôn viên đàn Nam Giao hình chữ nhật dài 390 mét, rộng 265 mét, bao quanh là một vòng thành xây bằng đá. Trong khuôn viên trồng rất nhiều cây thông, tượng trưng cho người quân tử; khi xây xong, một cụm thông được trồng biệt lập, tượng trưng cho vua Gia Long. Mỗi hoàng thân và quan lớn trong triều phải trồng một cây thông để treo tấm thẻ bài bằng đá hay đồng có khắc tên họ người trồng kèm theo ngày và kích thước cây thông. Các quan có nhiệm vụ chăm sóc, nếu cây chết phải trồng cây khác. Năm 1834, vua Minh Mạng tự tay trồng 10 cây thông tại Trai Cung (nơi nhà vua đến vài hôm để chay tịnh). Nhờ sáng kiến trồng cây nên lúc ấy đàn Nam Giao có được một rừng thông thẳng tắp, xanh rì. Đàn Nam Giao được kiến trúc gồm 3 tầng chồng lên nhau, bên cạnh là một số nhà cửa phụ thuộc cố định như Trai Cung, Thần Khố và tạm thời như Thanh Ốc, Hoàng Ốc, nhà Quan Cư, Khoản Tiếp bằng gỗ hoặc tranh hay tre để xong lễ lại tháo đi cho dễ dàng.
Đàn Nam Giao vào triều Nguyễn là một đàn tế lộ thiên, mô thức kiến trúc mang ý nghĩa vừa chính trị vừa tôn giáo của nền quân chủ Đông phương, trong đó vương quyền kết hợp chặt chẽ với thần quyền và được gắn liền với thuyết Thiên Mệnh của đạo Nho. Đàn Nam Giao thể hiện vũ trụ quan hạn chế của thời xưa khi khoa học chưa phát triển: Trời tròn đất vuông. Cho nên đàn Nam Giao được kiến trúc 3 tầng dưới lớn, trên nhỏ theo thuyết Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân. Tầng trên hết hình tròn, đường kính 40,5 mét, (tượng trưng cho Trời) gọi là Viên Đàn; tầng giữa hình vuông, màu vàng (tượng trưng cho Đất) gọi là Phương Đàn và tầng dưới cùng màu đỏ (tượng trưng cho Người) gọi là Xích Tử. Cả 3 tầng cao 4,65 mét.
Những đàn tế trời các thời Lý, Lê, Trần, Tây Sơn ngày nay không còn nữa. Đàn Nam Giao triều Nguyễn là đàn tế Trời duy nhất còn lại tương đối nguyên vẹn tại Huế. Đàn Nam Giao đã trở thành một di tích lịch sử và văn hóa hiếm hoi của Việt Nam và cả của miền Viễn Đông. Nó lại nằm ngay vị trí trung tâm trên bản đồ di tích và thắng cảnh Huế nên rất dễ tìm và thuận lợi để thăm viếng.
"Đàn Nam Giao!", ai có nao lòng khi nhắc đến? Riêng tôi, tôi tưởng như mình đang dang rộng vòng tay giữa rừng thông lộng gió để thì thầm: "Đàn Nam Giao ơi! Ta đã trở về. Những ngày xa Huế ta nhớ và mong ngày về vô vàn. Ta hứa ta sẽ làm một điều gì đó để đền bù cho Huế vì ta đã bỏ Huế ra đi khi thơ dại... Huế ơi! Huế ơi! Huế ơi!!!"