Hội Thánh Cao Đài Chi Phái Tòa Thánh Tây Ninh

(trước kia là HĐCQ)

Đối nội:

Nhưng lạ gì cái tuồng đời, duy có những kẻ không làm nên gì hết thì không ai trích-điểm, vì có gì đâu mà có nên, có hư, trắng trợn như vậy thôi thì có gì mà trích-điểm chúng ta có làm gì thì lẽ cố nhiên chúng ta phải gặp việc nên hư, phải quấy, ấy là lẽ thường chúng ta có làm, nên chúng ta bị trích-điểm và ta biết cầu cho thiên-hạ trích-điểm.

1- Trên là Đầu sư. Nếu không lên quyền Giáo tông, trong khi đủ thời gian qui định có công đời cùng nghiệp đạo, sẽ bị thúc phược vào những yếu tố sau đây:

a/- Tự xét mình không đủ tài đủ đức.

b/- Biết mình không đủ năng lực làm anh cả để điều hành đạo sự tốt đời đẹp đạo.
Nếu như vậy sẽ có những bất lợi:

1- Tự mình dậm chân; đứng chựng làm tắt nghẽn cơ pháp luân thường chuyển của đạo, thế thì đạo trể. Hể “kẻ nào đương cầm quyền lãnh phận sự mà để thất phận buộc Đức chí tôn phải đến, những kẻ ấy phải chịu một hình phạt mà từ trước tới nay chưa có một đấng chơn hồn nào không ghê sợ”.

Bất kỳ những ai đương cầm quyền dẫn đạo hể đứng chựng là thoái bộ làm cho cơ đạo trễ phổ hóa chúng sanh, hơn nữa lại cố tình để cơ đạo “trễ một ngày thì hại nhơn sanh biết bao nhiêu”. Hể hại cho nhơn sanh tức hại mình, bởi ý dân là ý trời, hể thuận nhơn tâm ắt thuận trời, hãy cẩn thận cân nhắc cho kỷ phải lấy dân (người) làm gốc, đừng để “đến ngày giờ nhơn sanh thấy điều phải lẽ ấy buộc hiệp, bằng chẳng vậy tự họ đào thảy lấy họ”.

2- Dưới Đầu sư là Chánh phối sư và Phối sư có quyền tranh phẩm Đầu sư, trong khi hai phẩm nầy hội đủ điều kiện tấn phong, buộc phải mắc nghẹn thoi thớp nằm chờ con cờ Đầu sư “không hiểu cớ gì” chẳng dám mon men lên ngồi trên ngai quyền Giáo Tông còn trống chổ? Từ đó hai phẩm ấy sẽ sanh tâm buồn phiền; bất phục con cờ Đầu sư vẫn chàng ràng đứng trước chận đường tiến hóa của họ.

Coi chừng dục loạn từ trong ra ngoài khó phương cản ngăn là hai con cờ đang vướng cổ khó nói nên lời nầy, bởi khi đạo loạn Pháp chánh Cửu Trùng đài có định: Chánh phối sư có quyền thay mặt Đầu sư và thay mặt cả Giáo tông và Hộ pháp tương liên cùng chánh phủ đặng bình an thiên hạ.

Đối ngoại

Nếu không lên quyền Giáo Tông, tự mình gián tiếp thú nhận với nhơn sanh rằng:

1- Không đủ sức thu phục tâm lý của nhơn sanh vào khuôn đại đạo.

2- không đủ năng lực lấy chữ hòa làm tôn chỉ để dìu dẫn tinh thần của toàn thể môn đệ đi trên con đường đạo và đường đời cùng nhau thực thi Nhơn nghĩa tiến đến đại đồng.

3- Kém tài thiếu đức, xét thấy không xứng đáng làm anh cả nhơn sanh.

Như vậy sẽ sanh ra những bất lợi sau:

Đường đạo:

1- Trong loạn; ngoài bất phục, cả thảy môn đệ Cao Đài trên toàn thế giới vì sự sinh tồn đại nghiệp của đạo mà đứng lên đấu tranh phải thay cũ đổi mới “nên để hư bỏ; thiệt còn giả mất”, sao cho phù hợp với tinh thần tiến hóa của nhơn loại hiện nay, thì cái hại loạn ấy không phải nơi nhơn sanh cũng không do ĐL: 01-1979 mà gốc bởi ông anh Đầu Sư không nêu được cái gương sáng chơn truyền cho đoàn em tiếp bước. chúng ta tưởng tượng nó sẽ xảy ra lớn lao như thế nào? Còn chi danh thể Cao Đài ĐĐTKPĐ.

2- Từ khi Đức Hồ Bảo Đạo Quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Đài ban hành ĐL: 01-1979, nhất là những lực lượng mượn danh nghĩa Hội thánh em; Hiền tài ban Thế Đạo; Đại Diện khối nhơn sanh… họ không nhìn nhận và chống đối Hội Đồng Chưởng Quản ĐL:01, họ âm thầm liên kết từ trong lòng trung ương Tòa Thánh Tây Ninh nhằm theo dõi (minh tra); chỉ trích; xuyên tạc; bới lông tìm vết…làm rối loạn và chia rẻ nội bộ, xui dục anh em đào thảy, triệt hạ lẫn nhau. Những hạng nầy mới thật sự là Cao Đài vận, họ rù rì dục loạn tương  tranh từ trong ra ngoài rồi từ ngoài vào trong…cứ thế theo thời gian, họ ẩn nhẫn chờ cơ hội khi nào đối phương không còn đủ năng lực; cạn kiệt nguyên khí quốc phòng tức sái loạn chơn truyền chánh pháp; nội bộ chia rẻ tranh quyền soán vị. Đến lúc chín mùi, họ đồng loạt đứng lên phát động một cuộc cách mạng thay cũ đổi mới tư duy, đào thảy một cơ chế suy tàn của Tiểu Phong Thần “hưng Châu phạt Trụ” mà Đức Hộ pháp đã tiên đoán cho thời buổi hôm nay từ khi khai đạo:        

“Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,

Giữa biển ai từng gặp Lão Tô.

Mượn thế đặng toan phương giác thế,

Cũng như nương viết của chàng Hồ”.

 CHI PHÁI.

Đức Hộ Pháp: “Đền-Thờ nầy là Đền-Thờ chung của toàn con-cái Đức Chí-Tôn, không phải của riêng mấy em tuy hữu công đào-tạo, nhưng không phải mấy em làm chủ, toàn con-cái Đức Chí-Tôn làm chủ, người ta về đừng có bạc-đãi khi rẻ mích lòng Đức Chí-Tôn, trái ngược lại nam cũng vậy, nữ cũng vậy, lấy tình ái vô cực của Đức Chí-Tôn, lấy hình-ảnh đại-Từ-Bi an-ủi họ, nhường nơi ăn chỗ ở cho họ, đặng họ cứu-vãng chúng-sanh về phần hồn ấy là lời tâm-quyết. Qua cầu xin nơi mấy em đối với các Đảng-Phái Quốc-Sự. Đạo của mấy em như : cây cao mát-mẻ, như nước suối trong-veo tinh-khiết, họ cũng muốn trú ngụ cho mát-mẻ tâm-hồn, họ đến nương bóng nơi mấy em đặng lập thanh-danh của họ, mấy em nên từ-bi, bác-ái, nâng-đỡ họ, cả em út can-đảm hy-sinh mạng sống để bảo-vệ tài-lợi của họ không kể công, họ đến nương Đạo với sự che chở của mấy em, mấy em cho họ nương đặng cho họ lập thân danh họ sẽ giúp lại mấy em tạo thời cải thế, đừng có bạc-bẽo với họ, nương dựa một ngày một bửa hay bao lâu, uống nước phải biết nhơn biết nghĩa cho họ hiểu. Dầu Đế-Vương chi nghiệp không giữ nhơn-đạo thì không giá-trị gì hết, biểu họ coi gương mấy em đối với họ thế nào thì Tòa-Thánh đối với chúng-sanh giờ nầy cũng thế, giờ phút nầy họ hân-hạnh, tinh-thần nhân-đạo ngày kia sẽ mưu ích lợi cho thân-danh họ”.

Trong văn thư số 23 của Ðức Phạm Hộ-Pháp gởi cho Bắc Tông Ðạo (Hà Nội), lúc Ngài ở Kiêm-Biên (Nam Vang) đề ngày 12-3-Mậu Tuất (dl 29-4-1958).

Đức Hộ-Pháp, Ngài có viết:

“Khi mới mở Ðạo thì mấy Anh lớn đều do nơi trường quan lại của Pháp, trong hàng Phủ và Ðốc phủ mà họ đương cầm quyền Chủ Quận hay Phó Chủ Tỉnh. Vì cớ mà Pháp đã ra lịnh cho mấy Anh ấy phải từ khước, không đặng hiệp tác cùng Anh Lê Văn Trung, là tay nghịch hẳn cùng Pháp đã rõ ràng bằng cớ. Pháp lại hứa cùng mấy Anh lớn ấy rằng: Họ muốn tu theo Ðạo Cao Ðài thì họ tự lập Chi phái, rồi họ sẽ được sự bảo vệ đặc biệt của Pháp, còn theo Anh Lê Văn Trung thì họ sẽ bị khủng bố, không cho làm quan lại của Pháp nữa. Ðiều ấy mấy Anh lớn cũng không đủ sợ, vì công danh quyền lợi mình mà nhảy ra thành lập Chi phái, nhưng tới khi Pháp hăm rằng: sẽ khủng bố đến con cái của họ đương du học tại Pháp, tiền cấp học bổng bị thâu lại và không cho cha mẹ có phương thế gởi tiền sang cho nữa đặng tiếp tục việc học hành. Ðiều nầy làm cho họ kinh khủng hơn hết. Thật ra thì cả con cái mấy Anh đương du học tại Pháp và tương lai của chúng rất nên sáng lạng, sẽ bị bỏ dở vì cuộc trả thù của Pháp. Bởi cớ cho nên họ lén trở về hội đàm cùng Anh Quyền Giáo-Tông liệu phương gỡ rối. Buổi ấy có mặt Qua và chính mình Qua khuyên họ nên nghe lời Pháp, lập Chi phái dưới quyền bảo hộ của họ, miễn là Ðạo đặng truyền bá là đủ. Nguyên do lập Chi phái là như thế.” Một số các Chi phái hồi đó dùng cường quyền mà đoạt-vị. Nếu Chi phái ra đời trong cái lẽ “Tương kế tựu kế” như trên, nghĩa là uyển chuyển chiều theo thời thế thì đó chính là một điều quá khôn ngoan nằm trong đầu óc của người Việt-Nam vốn sẵn có.

Đến giai đoạn Chơn Đạo, đầu tiên phải thực hiện “tu thân phải tề gia” là thời điểm quan trọng nhất lượt trở về của toàn thể các Chi Phái và cả thảy môn đệ Cao Đài trên khắp hoàn cầu từ ngoài chuyển vào trong. 50 năm qua các vị tiền bối đã hy sinh ly khai đem thân ra làm tế vật cho cơ đạo tại Tổ đình Tòa Thánh Tây Ninh được an bình tác thành Thể Pháp.

“Thiên thời địa lợi đôi điều sẵn,

Chỉ có hòa nhân mới hiệp quần”.

Muốn Chơn Đạo thành hội Long Hoa khai mạc, phải thi hành Nhơn Nghĩa mới tiến đến đại đồng, lúc ấy toàn thể nhơn loại hưởng đặng cái hạnh phúc tinh thần thương yêu vui mừng không tỏa được gọi là Cực Lạc thế giới. Cửa Cực Lạc thinh thinh rộng mở có nghĩa nơi Tổ đình vùng Thánh địa Tây Ninh là nhà thờ vừa là đại nghiệp chung của cả thảy anh em chúng ta: không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, chi phái, đảng phái quốc sự nào…Đạo Cao Đài Tam Kỳ nầy không riêng gì của dân tộc Việt Nam mà của cả nhơn loại trên toàn thế giới. Chúng ta hãy mở rộng vòng tay nhân ái sẵn sàng chờ đón bạn đồng sanh của mình trở về nơi chôn nhau cắt rốn.

“Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa,

“Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.

“Chung hiệp ráng vun nền đạo đức,

“Bền lòng son sắt đến cùng Ta”.

Đặc biệt nhất là anh em chi Phái, các vị chức sắc Đại Thiên phong đã hoàn thành sứ mạng “chia để trị” đặng xoa dịu tình thế lúc bấy giờ, mà tùy phương trong và ngoài cùng nhau phổ truyền chấn hưng Đại Đạo:

1/- Trong khi quyền đời tìm đủ cách để tiêu diệt; chế ngự Đạo Cao Đài không cho phát triển. Đức Hộ pháp sở dụng phàm trần chia để trị theo như ý của người Pháp muốn, Đức Ngài thuận cho các vị chức sắc ly khai đi từ nhứt bổn tán vạn thù: lấy ngoài che trong; còn trong nhờ ngoài mà từ từ nhi tiến. Cái thủ thuật vươn đông kích tây; hay nhứt tự trường xà trận: một mũi tên bắn trúng đích 2…con nhạn (phân ra chi Phái) là vậy. Mượn thế đặng toan phương giác thế của thời buổi ấy cho đến nay Đạo Cao Đài vẫn tồn tại và có mặt trên toàn thế giới nhất là ở tại đất nước pháp, minh chứng Đức Hộ pháp đã thắng.

2/- Pháp dùng kế sách nội khảo, đem con ruột của những vị chức sắc Đại thiên phong đang du học tại Pháp, buộc những vị ấy phải ly khai khỏi Tổ đình Đền Thánh Tây Ninh nếu không họ sẽ cô lập… người Pháp muốn dùng kế sách chia để trị; phân mỏng lực lượng làm suy yếu tinh thần người Cao Đài đặng dễ bề diệt đạo. Nhưng Đức Hộ pháp mượn cái muốn của người Pháp mà làm cái thiệt của Ngài. Cuối cùng cuộc đấu trí giữa người Pháp và cả thảy môn đệ Cao Đài, ngày nay thắng bại đã rõ ràng trước mắt.

Vậy thử hỏi chi Phái có công hay là có tội? Nếu thời buổi ấy những bậc tiền khai Đại Đạo không đi đâu hết, một mực chi chi cũng ở tại Tây Ninh nầy mà thôi, sống vì đạo chết vì Thầy thì Thể pháp tạo hình của đạo lúc ấy sẽ ra thế nào? Những đấng Phi thường ấy dám hy sinh cái danh tiết tiểu thể vì đại nghiệp đạo. Nếu không có những con người dũng cảm đi ra từ cái không, bị miệng đời chỉ trích, anh em thì tránh xa, còn Thầy lại bảo rằng Bàn môn tả đạo. Họ vẫn âm thầm chịu oan tình đem thân ra làm tế vật để xoa dịu; che chắn Hội Thánh của Đức Chí Tôn hoàn thành đại nghiệp.

Nếu không có mặt trận trí thức tinh thần khổ nhục kế của Chi Phái “Nâng tay nhục thể xây hình Chí Tôn” thì hình trạng Bạch Ngọc Kinh tại thế không được oai linh ra thiệt tướng như ngày hôm nay. Quả thật, những đấng ấy là những Tướng soái tiền khai Đại Đạo của Đức chí tôn xứng là những công thần khai quốc trên mặt trận đấu trí trong thời buổi loạn đạo từ lúc ban sơ, để lại cho chúng ta thừa hưởng một đại nghiệp đạo vĩnh cửu trường tồn.

Đề thi NHƠN NGHĨA để ở trước mặt Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh đã 88 năm rồi, đã đến lúc anh em chúng ta phải dẹp bỏ phàm tâm nâng cao thánh chất, hiệp đồng chư môn đệ thương lún thương càn đi coi ngày kia có lầm chăng. Để chào đón anh em chi Phái … trở về ngôi nhà chung mà tổ phụ đã tạo nghiệp dành để lại cho chúng ta gìn giữ và truyền giáo khắp hoàn cầu. Trường thi của bà mẹ thiêng liêng nơi cung Diêu Trì là hình trạng Hiệp Thiên Đài tại thế Đức Hộ Pháp chủ về Pháp, anh em chúng ta nên cẩn trọng; cẩn ngôn:

“Trường thi Tiên Phật dượt kiếp khiên,

Tạo đời cải dữ ra hiền,

Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn”.

Đạo khai tà khởi, Đức Hộ Pháp muốn chơn đạo thành buộc lòng Đức Ngài phải hy sinh việc nhỏ nhặt trong nhà đặng làm bí pháp bình phong, mà ẩn thân hoàn thành đại nghiệp được chơn truyền của Đức Chí Tôn từ thời buổi Nhị kỳ nay phó thác cho Ngài. Rất nhiều điều không thể nói hết được, mà hể nói rõ chẳng hóa ra giả tướng hay sao? Dầu Đức Hộ pháp có nói chi thì nói “đúng nói cho sai; sai nói thành đúng”, đó là cơ khảo thí, cha mẹ nào bỏ con! Chỉ có anh em ganh tị; rồi đấu tranh sanh lòng thù hận tìm phương giết nhau cho nguôi cơn giận, cuối cùng ân hận thì đã muộn màng. Mong anh em bạn đồng sanh hãy thương nhau đi đừng ghét, thương là tánh đức của Trời thuộc Cực Lạc thế giới, còn ghét là bản chất của quỷ xác ma hồn hằng ở thế giới hỏa ngục; phong đô.

▪ Trích trong Tam Nhựt Đàn (Hà Tiên năm 1935)

“Các con nên hiểu:Thầy nói có mặt, có trái. Thầy nói bề mặt là Thầy gạt mà thử các con, đó là giả.Phải tìm Thầy nói bề trái mà hành theo, đó là cái thiệt của các con hành đạo”.
Vậy thì các con phải phân ra làm hai:

- Một bên là xác thịt, phải hành đạo theo hữu hình đặng độ nhân sanh mà lập công trả quả. (Thể Pháp Thế đạo).

- Còn một bên là tinh thần, phải hành luật vô vi. (Bí Pháp chơn truyền - Thế đạo).
Hành luật vô vi không phải là hành đạo vô vi đâu nhé! Hành đạo vô vi phải hành theo chân truyền bí pháp tham thiền nhập định”.

Hành đạo vô vi đúng theo chơn truyền bí pháp có nghĩa “giai đoạn này thuộc mặt trận trí thức tinh thần tại thế chung lộn giữa đạo lẫn đời để đào luyện và tấn hóa, nhưng vẫn mai danh ẩn tích trong màn bí mật tức mình biết người ta, không cho người ta biết mình, thế gian thường bảo rằng những con người Bí pháp là vô vi là nhóm đạo rù rì là vậy. Đến giai đoạn Chơn pháp họ mới xuất hiện với hình ảnh và tên tuổi của người tại mặt thế gian nầy, xác thân của họ cũng như muôn ngàn cái xác khác, có khác chăng là họ lãnh sứ mạng của hai đấng Thiên phụ Di lạc (Phật) và Thiên Mẫu Quan Âm (Pháp) xuống thế làm tế vật bắt cầu cho các tông đường quy hiệp Cực Lạc Quốc Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh.

Trường thi Nhơn đạo duy chỉ có một chữ thương. Thương người mến vật, vật là đàn em hạ đẳng hơn ta cần được sự bảo vệ và yên ủi, vì thế chúng ta không nở giết chết em mình ăn thịt cho nên mới ăn chay là vậy. Cùng là bạn đồng sanh của chúng ta, mình biết trọng mình thì phải biết tôn trọng người như trời với phật, thương yêu cả hết chúng sanh thành. Đức Phật Thích Ca Thế Tôn dạy “Nhứt thiết chúng sanh tổng giai thành Phật đạo”, có nghĩa toàn thể Nhơn loại trên hoàn cầu nầy thi hành nhơn nghĩa; từ bi bác ái cho được hoàn toàn làm y như Đức Phật vậy, thì ngày giờ ấy thế giới Thần Tiên cũng là đây. Vì người tu thành Phật, Phật tu thành Trời. Tánh đức của Trời là ái truất quần sanh, muốn phụng sự và làm tôi tớ cho toàn nhơn loại, được nhơn sanh tôn tặng bằng cái danh thể cao trọng vô đối ấy gọi là Trời. Vậy cái phẩm vị trời tại thế là thương hết cả chúng sanh thì người đó làm trời.

- Các vị Giáo Chủ Nhị Kỳ Phổ Độ là những ông Trời tại thế như: Đức Phật Thích Ca, Chúa cứu thế Jêsus Chrits, Đức Thái Thượng Lão Tổ; Ngươn Thủy Thiên Tôn; Đức Thông Thiên giáo chủ; Đức Khổng Phu Tử; Ngài Khương Thượng; Giáo chủ linh hoạt Muhammad Hồi giáo đến Tam Kỳ là Đức Hộ Pháp.

- Chuyển sang Tam Kỳ Phổ Độ khi nào khai Đại Hội Long Hoa, thì các Đấng: Giáo chủ Đức Hộ Pháp; Đức Hiến Pháp; Đức Di Lạc chủ tông đường thứ nhứt; Đức Quan Âm chủ tông đường thứ hai; Ngài Địa Tạng chủ tông đường thứ ba….sẽ kế nghiệp Nhị Kỳ Phổ Độ để phụng sự vạn linh đặng làm trời của vạn linh.

Ngày chi Phái trở về cũng là ngày nhơn sanh phải đón nhận một cách thương yêu và công bằng rằng: chi Phái anh em của chúng ta đã có công đời cùng nghiệp đạo, làm rạng danh một tinh thần anh dũng; bất khuất kiên cường tự giải thoát mình, thống nhất đất nước, khẳn định với thế giới quyền dân tộc tự quyết con Hồng cháu Lạc, Việt Nam 4000 năm Văn hiến. Từ nhứt bổn tán vạn thù trên 50 năm phổ độ, chi Phái đã tỏa sáng tạo thành một lực lượng Cao Đài ĐĐTKPĐ đủ chiến thắng để trở mặt ra với tinh thần cường liệt của Đức chí tôn, tới đây đủ sức làm cơ quan cứu thế toàn nhơn loại.

Mừng ngày chi Phái phản hồi nguyên bổn trở về ngôi vị cũ đã để sẵn nơi Bạch Ngọc Kinh thiêng liêng “Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam” Cửu Trùng Đài tại thế; lo nhất là phẩm vị hiện nay giữa Hội Thánh Cao Đài chi Phái và Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh chênh lệch nhau rất xa: giữa Pháp và Tăng là HTĐ và CTĐ:

▪ Hội Thánh Hiệp Thiên Đài:

- Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh: từ năm 1981 đến nay 2013, Hội Thánh HTĐ giải thể chỉ còn bộ pháp chánh tiểu cấp Hiệp Thiên Đài Thể Pháp, là hàng chức sắc Cải Trạng trở xuống Sĩ Tải dăm ba người trực tiếp, số ít còn lại tự tách riêng đứng bên ngoài từ trường, đối kháng gián tiếp vừa trực tiếp với Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh.

 - Cao Đài chi Phái: có đủ Hộ pháp; Thượng Phẩm; Thượng Sanh chưởng quản ba chi: Pháp; Đạo; Thế và Thập Nhị Thời quân, cả bộ Pháp chánh minh tra.

▪ Hội Thánh Cửu Trùng Đài:

- Cao Đài trung ương, trấn giữ tại Bạch Ngọc Kinh Tây Ninh cấp cao nhất của Hội Thánh anh CTĐ hiện nay duy chỉ có một phẩm Đầu Sư phái Thượng. Còn lại từ Chánh Phối sư trở xuống Giáo hữu đều thiếu chức sắc điều hành cơ đạo. Hội Thánh em cũng như Hội Thánh anh… không đủ tài đức phẩm hạnh giáo hóa phổ độ chúng sanh. Nhờ hưởng của phụ ấm nên tự cao tự mãn; mượn quyền cậy thế; thất học vô năng, con cưng thì con hư thường tình là vậy.

- Ban sơ, những vị chức sắc Đại Thiên Phong nhận sứ mạng ly khai ra đi tự tạo tiểu thiên cung gọi là chi Phái, một mình trơ trọi; thế thân Tổng Khậu với chiếc thuyền nan chèo giữa chợ đời khốn khổ. Đi buôn không vốn buộc phải đặng lời; biết phận nghèo ráng học, không để thế gian nhìn trò phải đoán Thầy xấu mặt, mong sẽ có một ngày nhập vào đại nghiệp bái tổ vinh quy. Cho nên Hội Thánh Cửu Trùng Đài chi Phái có đủ: Giáo Tông; Chưởng Pháp; Đầu sư; Chánh Phối sư; Phối sư; Giáo sư; Giáo hữu. Chi phái đã học theo sách của Thầy mượn giả tạo chơn mới còn tồn tại đến ngày nay.

Phải có giải pháp, để hai bên thống nhất ngan hàng phẩm giá trong ngoài công bằng đạo đời tương đắc ? Đây là một bài toàn khó mà gần nửa thế kỷ vì sao chi Phái vẫn chưa chịu trở về tổ đình của mình. Thật vậy, trách nhiệm thuộc về ai? Bổn phận của người giữ ngôi nhà chung phải có giải pháp hòa hiệp thương yêu công bằng. Tu thân phải tề gia, nếu mình cứu mình không được thì đừng đại ngôn cứu thế toàn nhơn loại, thành ra đạo Cao Đài do chính Đức chí tôn sáng lập chỉ là cái thuyết ảo mộng; không tưởng hay sao?

▪ Chỉ có “Pháp Chánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam”, chẳng những mở rộng cửa cho Chi phái; các tôn giáo; các đảng phái đang cầm quyền trị thế; những tổ chức đoàn thể trong nước và trên toàn thế giới… về hiệp một ngôi nhà chung nhập trường thi “Bảo Sanh Nhơn Nghĩa đại đồng” đoạt phẩm vị thiêng liêng lên bảng Phong Thánh kỳ ba tại Đền Thánh Tây Ninh trong khuôn pháp Thương yêu và quyền Công chánh nầy mà thôi..

Đường Đời

1/- Đạo không đời không sức; đời không đạo không quyền. Cái trách vụ của đạo là phải giúp đời, điểm lại từ ngày thống nhất đất nước (30-4-1975) đến khi Đạo lịnh giải thể 01-1979 cho đến nay, sứ mạng của Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh có làm tròn bổn phận giáo hóa nhơn sanh giúp tay cho đời đem lại sự hòa ái và chia khổ với đời để cùng nhau gánh vác an dân, song hành trên con đường xây dựng và bảo vệ lãnh thổ đất nước hết sức của mình chưa? Hay là việc ai nấy lo, đạo phế đời; chớ đời không khi nào bỏ đạo. Hiển nhiên trước mắt, trên 35 năm nay thế giới đều nghe và thấy người Đạo Cao Đài từ trong ra ngoài nước, mãi rên rỉ cầu xin đời cứu giúp, quả thật cái ơn trọng của đời nói riêng đạo Cao Đài phải tôn thờ đời thế nào cho phải lẽ? Vậy mà còn vong ân bội nghĩa, kết oán cho đời, thật hổ thẹn biết bao.

Hể mang danh Hội Thánh phải tự biết mà sửa mình, tự giải thoát cho mình chớ, động một chút đi thưa kiện; kết bè lập phái; hù dọa đánh đập vịnh gốc sức đời, bởi quyền đạo họ đã chê bỏ; họ đánh mất cả rồi! Không còn gì danh thể cao trọng một tôn giáo thuần túy, thử hỏi thế nào là một tôn giáo thuần túy? Tôn giáo thuần túy là lấy bổn thiện làm căn bản, thương yêu là ông chúa là nền móng vững chắc cũng là cái gốc của tôn giáo; duy chỉ có một chữ thương (duy tâm) mà tác thành tôn giáo. Toàn thể các tôn giáo trên mặt địa cầu nầy nếu không thật hành cho trọn vẹn hai chữ thương yêu ra thiệt tướng thì nền tôn giáo ấy là tà giáo chớ không phải chánh giáo.

▪ TU là sửa: phải tự phê bình và phê bình!

Nhưng lạ gì cái tuồng đời, duy có những kẻ không làm nên gì hết thì không ai trích-điểm, vì có gì đâu mà có nên, có hư, trắng trợn như vậy thôi thì có gì mà trích-điểm chúng ta có làm gì thì lẽ cố nhiên chúng ta phải gặp việc nên hư, phải quấy, ấy là lẽ thường chúng ta có làm, nên chúng ta bị trích-điểm và ta biết cầu cho thiên-hạ trích-điểm.

 “Phận sự của người giữ đạo là giữ sự đồng sống trong khuôn khổ xã hội, tức nhiên tìm mối đồng sanh của cơ Tạo đoan ấy. Thân danh ta đối với xã hội nhơn quần, ta thấy xã hội đối với ta như thế nào và ta phải đối lại như thế nào? Thật sự là tìm phương thế đặng tôn sùng sự sống chung của nhau mà thôi.

Tạo đoan đã ban cho chúng ta mạng sống, cho ta nhứt điểm linh quang, mới biết phân biệt hiền với ác, chánh với tà, để làm biểu hiệu cho con người thức giấc mê, tìm hiểu chơn lý của sự sống như thế nào, đặng trở lộn lại sống theo tinh thần của Thánh hiền hay sống theo tánh hung bạo tàn ác của con vật. Cốt yếu đem cái sống thánh hiền ấy là cái sống của Chí tôn ban cho, là vật báo để trong mình, vật ấy quí hóa không phải hèn hạ”.

Cương vị là nhà tôn giáo phải làm gương cho đời, bằng nêu gương không được thì phải học theo đời từ nghị quyết 4 trung ương của đảng CSVN đại biểu quốc hội khóa XIII: Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh phải phát động thông tri “tự phê bình và phê bình” đi. Đừng chờ nhơn sanh và quyền đời buộc thì còn gì con người đạo đức.

Từ lúc ban sơ khai đạo, Đức Hộ Pháp đã dạy rồi:

“Nên trò đạo đức dễ gì đâu,

Vui chẳng dám vui sầu chẳng dám sầu.

Cái khổ của đời mình ước vọng,

Cái chê của chúng lại nài cầu”.

 Được vậy, mới xứng đáng là những phần tử trong thánh thể của Đức chí tôn đặng tạo thời chuyển thế. Sau khi khai đạo, Đức chí tôn  có báo trước: “Nếu mấy người làm tôi tớ cho con cái của tôi; làm vừa sức của tôi muốn, vừa ý của tôi định thì tôi sẽ trả mắc lại cho mấy người ngôi vị Thần; Thánh; Tiên; Phật tại thế gian nầy”. Tuy vậy Đức Ngài cũng cân nhắc: “Ngôi vị Thầy đã dành sẵn cho mỗi đứa trừ khi chê bỏ, Thầy mới dành cho kẻ khác”.

Coi chừng họ đi trước mà về sau; còn người ta đi sau mà về trước. Tới đây, cũng có những điều trái hẳn với thế tình: kẻ ở trong thất phận lại mang bầu quảy gậy ra ngoài; đổi chỗ cho “người chơn thật” ở ngoài chuyển vào trong đó là những bậc Chơn Nhơn chánh vị. Chủ nghĩa của đạo Cao Đài là thương yêu, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, Chi phái, đảng phái (đời)…trên toàn thế giới, bởi Đền Thánh Tây Ninh là gia nghiệp chung, ai cũng được hưởng phần hương quả.

“Hiền tài nhân sĩ ưu thời thế,

Sớm hiệp cùng nhau tạo Niết Bàn”.

♦ Cao Đài mười hai chi phái là một thuật ngữ thường dùng trong các tín đồ đạo Cao Đài, được dùng để chỉ toàn thể đạo Cao Đài không phân biệt tông phái.

Con số 12 là con số linh thiêng trong đạo Cao Đài, vì vậy nói 12 phái Cao Đài là một hình thức ước lệ để chỉ toàn bộ tôn giáo Cao Đài, dù trên thực tế số chi phái Cao Đài có thể ít hơn hoặc nhiều hơn 12. Hoài Nhân, trong “40 năm lịch sử Ðạo Cao Ðài 1926-1966” trang 109, đã liệt kê ra được 35 Chi phái. Tính đến hết năm 2010, nhà nước Việt Nam đã công nhận 38 tổ chức, giáo hội Cao Đài như những pháp nhân độc lập.

♦ KHỔ NHỤC KẾ:  BUỘC PHẢI LẬP CHI PHÁI

    Trong văn thư số 23 của Ðức Phạm Hộ-Pháp gởi cho Bắc Tông Ðạo (Hà Nội), lúc Ngài ở Kiêm-Biên (Nam Vang) đề ngày 12-3-Mậu Tuất (dl 29-4-1958).

Đức Hộ-Pháp, Ngài có viết:

    “Khi mới mở Ðạo thì mấy Anh lớn đều do nơi trường quan lại của Pháp, trong hàng Phủ và Ðốc phủ mà họ đương cầm quyền Chủ Quận hay Phó Chủ Tỉnh. Vì cớ mà Pháp đã ra lịnh cho mấy Anh ấy phải từ khước, không đặng hiệp tác cùng Anh Lê Văn Trung, là tay nghịch hẳn cùng Pháp đã rõ ràng bằng cớ. Pháp lại hứa cùng mấy Anh lớn ấy rằng: Họ muốn tu theo Ðạo Cao Ðài thì họ tự lập Chi phái, rồi họ sẽ được bảo vệ đặc biệt của Pháp, còn theo Anh Lê Văn Trung thì họ sẽ bị khủng bố, không cho làm quan của Pháp nữa.

    Ðiều ấy mấy Anh lớn cũng không đủ sợ, vì công danh quyền lợi mình mà nhảy ra thành lập Chi phái, nhưng tới khi Pháp hăm rằng: sẽ khủng bố đến con cái của họ đương du học tại Pháp, tiền cấp học bổng bị thâu lại và không cho cha mẹ có phương thế gởi tiền sang cho nữa đặng tiếp tục việc học hành, điều nầy làm cho họ kinh khủng hơn hết. Thật ra thì cả con cái mấy Anh đương du học tại Pháp và tương lai của chúng rất nên sáng lạng, sẽ bị bỏ dở vì cuộc trả thù của Pháp.

    Bởi cớ cho nên họ lén trở về hội đàm cùng Anh Quyền Giáo-Tông liệu phương gỡ rối. Buổi ấy có mặt Qua và chính mình Qua khuyên họ nên nghe lời Pháp, lập Chi phái dưới quyền bảo hộ của họ, miễn là Ðạo đặng truyền bá là đủ.

    Nguyên do lập Chi phái của Ðạo là như thế.”

4- Một số các Chi phái hồi đó dùng cường quyền mà đoạt-vị

Chi phái ra đời trong cái lẽ “Tương kế tựu kế” như trên, nghĩa là uyển chuyển chiều theo thời thế thì đó chính là một điều quá khôn ngoan nằm trong đầu óc của người Việt-Nam vốn sẵn có. Nhưng tiếc thay! Cái duyên cớ “Gà cùng một mẹ cứ hoài đá nhau” mà rốt lại bị mắc bẫy của người không tránh khỏi vì thiếu sự Thương yêu.

Đức Hộ-Pháp nói:

“Nó nên hình bởi sự Thương-yêu, trưởng thành trong sự Thương-yêu, bởi hình chất của Thương-yêu. Hể càng ngày càng lớn lên, càng tráng kiện, nó sẽ làm Chúa cả thù hận và quyền năng thù hận không hề xâm lấn nó được.

Nói quả quyết Bần-Ðạo đã đánh tan thù hận ra, khi các phe đảng dùng quyền lực chiếm ngôi vị của Chí-Tôn để tại mặt thế nầy, Bần-Ðạo đã can đảm dùng quyền của Bần-Ðạo đánh ngã ra hết, đặng bảo trọng hình tướng thiêng liêng của Ðạo. Bần-Ðạo lỗ vốn cũng nhiều. Bần Ðạo gánh lấy cả thù hận ấy đặng bảo tồn hình thể của Chí-Tôn cho trọn Thương-yêu. Bần-Ðạo dùng can đảm gánh lấy cả thù hận của thiên hạ mà bảo tồn khối Thương yêu của Chí-Tôn vô đối, không cho hoen ố, nhơ bợn.

Các Chi phái buổi nọ dùng cường quyền mà đoạt vị, không lẽ Bần-Ðạo là Hộ-Pháp nắm giữ chơn truyền trong tay đây, mà để cho nó đoạt ngôi soán vị như các đời vua chúa từ trước, để lưu lại cho nền Chơn-giáo của Chí Tôn sao? May thay, quyền ấy chưa xung đột được Chánh giáo của Chí-Tôn. Nó đã bại trận, bởi Thánh-Thể của Ngài có người cầm luật pháp oai nghiêm, tức là cầm cây HUỆ-KIẾM trong tay đặng gìn giữ nền Tôn-giáo nên hình được, nó nên được tức tạo cho thiên hạ được, nó đã tạo oai quyền của nó thành tướng đặng, thì tạo quyền cho nhơn sanh nơi mặt địa cầu nầy về tương lai đặng.

 (Tại Ðền Thánh, thời Tý đêm rằm tháng chạp năm Mậu Tý (1949)

=Kết luận: Theo tinh thần lời khuyên của Đức Hộ-Pháp và hiện trạng của sự việc xảy ra, cho ra ba kết luận, bởi vì sợ:

- Thứ nhứt là sợ mất quyền lợi của mỗi cá nhân.

- Thứ hai là sợ mất cái lợi thế là con cái của các Ngài không hưởng được.

- Thứ ba là cương vị của Đức Hộ-Pháp bấy giờ chỉ còn phải nói câu này thôi, tức nhiên nói rằng: “chính mình Qua khuyên họ nên nghe lời Pháp” nhưng mỗi người phải tự ý thức hai lẽ trọng khinh giữa việc công và việc tư, giữa Đạo và Đời chứ! Vậy ba vị: Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm và Đức Quyền Giáo-Tông là ai mà cũng dám bỏ cả danh, lợi, quyền mà nghe theo tiếng gọi thiêng liêng, hết mình lo cho Đạo nghiệp. Nếu các Ngài cũng sợ và sợ thì nền Đại Đạo này sẽ đi về đâu?

Tóm tắt lại phần nầy, xin lấy bài Thánh giáo sau đây của Ðức Phạm Hộ-Pháp giáng cơ ngày 1-4-Kỷ Dậu (dl 16-5-1969) in trong Thánh Giáo Sưu Tập của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Ðài Giáo Việt-Nam trang 161:

“Công quả khai Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ có thể nói là Bần đạo đã đóng góp được hai phần ba công quả ấy, nhưng buồn vì nước nhà chủ quyền không được bảo đảm kể từ thuở khai Đạo, các đàn Anh cũng vì lẽ ấy bị chi phối rất nhiều.

Từ chỗ vị kỷ, vị danh, vị lợi, cũng như tự ái, tự đại, tự tôn, nên đã gây ra cảnh chia ly phân tán, đã để lại một gánh nặng cho đoàn hướng đạo ở hậu sanh. Ðó là điều đáng buồn và cũng là kinh nghiệm quí giá cho đàn em trong mai hậu.

Nếu mình mỗi người biết đặt đạo lý Chí Tôn, quyền pháp và nhân sinh lên trên hết và tự trọng tự ái vì danh dự của quốc gia dân tộc và đạo pháp thì không có kẻ hở nào để bạo quyền chuyên chế, ngoại nhập khuynh đảo để rẽ chia.

Vết xe trước đã sụp đổ, đoàn xe sau nên tránh. Kể ra đàn Anh chịu phần trách nhiệm rất lớn trong sứ mạng.

Chính vì thế mà trong hàng tiền bối, người nào không làm đúng Thiên ý thì sẽ bị triệu hồi để đảm nhận phần vụ khác. Tuy về non Tiên, Phật cảnh, nhưng chưa được hưởng ngôi vị của mình, phải còn có nhiệm vụ đến khi nào mục đích của Chí Tôn khai Đạo được hoàn thành, các hàng tiền bối ấy sẽ tùy công đức mà định vị”.

♦  Ðạo Cao Ðài do Ðức Chí Tôn Thượng Ðế lập ra tại nước Việt-Nam do Thiên thơ tiền định thì nhứt định không có một thế lực nào có thể tiêu diệt đặng. Tuy nhiên, Ðạo khai thì Tà khởi. Ðức Chí Tôn đã ban cho Quỉ Vương cái quyền thử thách người tu, làm giám khảo tuyển lựa người xứng đáng.

Kỳ Ba nầy, Ðức Chí Tôn đến cùng nhơn loại với Ðệ Tam Thiên Nhơn Hòa Ước mà nội dung là bốn chữ: Bác-Ái Công-Bình. Ai đủ Bác-Ái Công-Bình và thực thi Nhơn-Nghĩa thì Ðức Chí-Tôn rước về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, nên Quỉ Vương lấy đề tài nầy mà thử thách và tuyển lựa, để lọc phàm phân Thánh:

“Bác ái là đề thi tiến hoá,

“Nghĩa nhân ấy định phép duy tân.”

Tuy nhiên, sự thử thách nầy xảy ra quá khắc nghiệt, khiến cho nhiều thí sinh bị đánh rớt một cách thê thảm, làm tổn hại danh thể của Ðạo. Ðức Chí-Tôn có báo trước là rớt 80 %, chỉ đậu có 20 % thôi.

Nhiều vị chưa bị thử thách thì chê bai kẻ đi trước, nhưng khi chính mình vào cuộc thì cũng bị lục dục thất tình xui khiến đi vào vết chân của người trước mà sa vào Nghiệt cảnh.
Tuy nhiên ta hãy đặt trọn đức tin nơi Hộ-Pháp rằng:

“Từ Tín Đồ đến Hội Thánh chẳng hề khi nào tiêu diệt nó được, kẻ nào muốn tiêu diệt Đạo Cao Đài tốt hơn đừng sanh ra bởi chẳng hề khi nào muốn tiêu diệt Đạo đặng, khuôn luật vẫn vậy.

Hôm nay Qua giảng một điều thiết yếu cho mấy Em nghe quyền siêu thoát. Mấy em xét coi nơi mình mấy Em từ chân, tay trong xác thân cho tới cả tinh thần đầu óc mấy Em nó đều có linh cảm cả.

Tiếc thay! Con người không biết thương nhau mà lại ghét lẫn nhau, mà hể ghét lẫn nhau tức nhiên ghét Thánh-Thể Đức Chí-Tôn, nếu ghét Thánh Thể Đức Chí Tôn rồi, thì ngày Qua về cảnh Thiêng Liêng đứng trước Cực Lạc Thế Giới, mấy em chẳng hề khi nào chối tội đặng. Nếu mấy em thương nhau không được thì không được phép ghét nhau.”

Đền Thánh, đêm 29 tháng 10 năm Quí Tỵ

- Đồ Phi -



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả