CAO ĐÀI TÂN PHÁP
CHỮ HÒA TRONG THÁNH NGÔN HIỆP TUYỂN
LỜI TỰA
Cuối Hạ Ngươn nầy, nhơn loại phần nhiều dụng hết tinh thần xu hướng vào lối văn minh vật chất; món ăn sẵn đủ sơn trân hải vị; chỗ ở lại nguy nga đài các; y phục tiện dùng gấm nhiễu che thân, thậm chí ra một tấc đường vẫn có ngựa xe đỡ gót. Cái lạc thú hiện thời trên cõi tạm nầy làm cho con người mê mẩn; rồi đua chen nhau tranh giành phúc lộc; lăng xăng xạo xự trên chốn võ đài; mạnh đặng yếu thua; khôn còn dại mất. Phần đông bực thông minh, lại đem cả trí khôn làm món binh khí hại người; kẻ tước trọng thêm dùng hết thế quyền ép dân đen ra bạc trắng. Quanh năm cứ lo cho xác thân hưởng điều khoái lạc, vợ ấm, con no, được ngày nào vui ngày nấy; cho kiếp chết là kiếp mất; gọi Thiên đường, Ðịa ngục là câu chuyện hoang đàng. Bậu bạn lỗi câu tín nghĩa, vợ chồng quên đạo tào khương; mảng vụ chữ kim thời mà phong dời tục đổi. Than ôi! Lượn sóng văn minh tràn dập tới đâu thì nền luân lý ngửa nghiêng tới đó.
Nếu Ðạo Trời không sớm mở lần ba, nền phong hóa, mối cang thường sau nầy phải vì đó mà hư hoại.
Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðếvì đức háo sanh không nỡ ngồi xem nhơn sanh sa vào nơi tội lỗi; nên dụng huyền diệu tiên thiên giáng cơ giáo Ðạo; hơn một năm trường tỏ vẻ biết bao nhiêu lời châu tiếng ngọc. E dụng văn từ cao xa người thường không rõ lý, rồi ra dạy cũng như không, nên Ðấng Chí Tôn tiện dùng quốc âm cho dễ hiểu.
Chư Ðạo Hữu nhập môn trong thời kỳ ngưng cơ bút nầy, không đặng hữu hạnh mà nghe đến lời vàng tiếng ngọc của Ðức Ðại Từ Bi. Nay Hội Thánh nhơn công trích lục những THÁNH NGÔN nào giáng cơ dạy Ðạo, rồi in làm hai bổn, để truyền bá ra cho mọi người thông hiểu. Thiết tưởng, trong Ðạo Hữu, dầu xưa dầu mới, ai có đạo tâm mà tiếp được THÁNH NGÔN nầy lại không hết dạ hoan nghinh.
Vậy xin chư Ðạo Hữu, chư Thiện Nam Tín Nữ, khi thỉnh được THÁNH NGÔN rồi, khá hết lòng trân trọng vì là vật vô giá bửu, lại là lời châu ngọc của Phật Trời. Cơn nhàn rảnh nên lưu tâm đọc đến, trước là rõ thông mối Ðạo nhiệm mầu, sau để trau giồi đức hạnh cùng bố hóa cho gia thân mình.
Nhà nào có THÁNH NGÔN tức là nhà đó treo được một ngọn đèn thiêng liêng tỏ rạng. Khá biết cho.
Tòa Thánh Tây Ninh,
Hai mươi mốt tháng mười năm Ðinh Mão (dl. 15-11-1927)
HỘI THÁNH CẨN TỪ
ĐỨC CHÍ TÔN DẠY :
1.- Thầy khuyên các con nhớ hoài rằng: Thầy của các con là ông Thầy Trời; nên biết một ổng mà thôi, thì đủ,nghe à! TNHT.Q/1 – ngày 29-9-1926.
“thì đủ ”là không cần học với bất cứ một ai, không cần thực thi giáo pháp nào ngoài lời THẦY dạy, nhứt là các giáo pháp thuộc Nhị kỳ, bỡi các nền Tôn giáo đó đã thất kỳ truyền, không còn Bí Pháp, nên tu có công mà thành thì chẳng thành.
Là Môn đệ ngoan, phài biết tuân hành lời THẦY dạy.
Tuân hành là phải truyền bá THÁNH NGÔN của Thầy cho nhơn sanh am hiểu, vì ý Thầy là muốn tận độ cả chúng sanh con cái của Thầy, đang trầm luân nơi khổ hài. Thầy dặn :
2.- Nếu kẻ nào biết hiểu Thánh ngôn của Thầy nơi miệng các con mà tỉnh ngộ, thì số hằng sống nó vốn còn, còn chẳng thì thôi, để cho chúng nó theo Tà Quái. TNHT.Q/1 – ngày 27-8-1926
Tuyệt tin lời Thầy dạy, là Môn đệ trung thành, đệ tử mạo muội ghi lại điều Thầy thiết tha mong muốn là các Đệ tử THUẬN HÒA, vì Thuận Hòa là lễ hiến cho Thầy rất trân trong.
Kính mong chư Thiện Nam, Tín Nữ , Ná tánh thông cảm hiểu cho !
CHỮ HÒA TRONG THÁNH NGÔN HIỆP TUYỂN
1.- Thầy vui muốn cho các con thuận hòa cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Phải chung lo cho danh Ðạo Thầy. TNHT.Q/1 - ngày 20-2-1926
2.- Thầy cấm không cho dị nghị việc người, nhứt là đạo hữu của các con thì đừng phạm đến kẻo tội nghiệp; chi chi cũng phải nhớ quyết rằng có Thầy trong đó.
Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Ðạo tức cùng Cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn nhau cho đặng chữ hòa.
Thầy dặn các con một điều, nhứt nhứt đều đợi lịnh Thầy chẳng nên lấy tứ riêng mà phán đoán chi hết. Phận sự và trách nhiệm các con, Thầy đã định trước, song giờ ngày chưa đến; phải tuân theo lời Thầy nghe! TNHT.Q/1 – ngày 20-2-1926
3.- Con coi đó mà coi, Thầy thương con là bao nhiêu? Thầy giữ nữ phái lại cũng vì con. Thầy kêu nó không đến, Thầy dạy nó không nghe, muốn phạt cho đáng kiếp mà bụng cũng chẳng đành. Con là chị, Thầy đến lập Tam Kỳ Phổ Ðộ, chỉ vụ một chữ "HÒA", con liệu đứa nên, dùng đẹp lòng con kêu tên cho Thầy phán đoán. TNHT.Q/2 – ngày 13-2-1927
4.- Thầy đã nhiều phen để lời khuyên nhủ các môn đệ về việc dùng công tâm, hòa thuận, mà hành đạo cho vuông tròn phận sự, mà Thầy những buồn trông thấy các con chưa gì mà vội phân tay chia nẻo! TNHT.Q/2 – ngày 29-11-1927.
5.- Người hành đạo chẳng đủ quyền chế cải, kẻ tự cao muốn chiếm vị cầu danh, nghịch tư cách đối đãi với thế tình, gây ác cảm mà tạo thù oán. Hai con phải biết chỗ yếu nhược của Ðạo nơi đó mà kiếm phương, tìm chước, lấy cộng hòa, hiệp nhơn ý mà điều đình sửa cải cho chóng, làm sao cho mỗi đạo hữu các con đều ngó về Tòa Thánh mà xưng tụng ân huệ của mỗi con có trách nhiệm xứng đáng; và làm sao cho dứt mối hiềm thù riêng của mỗi đứa, hiệp đồng trí thức mà làm cho người ngoài dòm vào, nhìn nhận mối Ðạo quí hóa và thảy đều sùng bái cử chỉ cao thượng của các con. Chừng ấy các con dầu không mạnh cũng ra mạnh, không đông cũng nên đông, mà việc phổ độ nhơn sanh chẳng còn điều chi trắc trở.
Ðạo trễ một ngày thì hại cho chúng sanh một ngày, mà mỗi đứa đều gây ác cảm làm cho mối Ðạo thành ra bánh vẽ, thì chừng nào Ðạo trọn thành nơi đây? Chừng nào cho Ðạo truyền ra ngoại quốc?
Trong còn mơ màng như người say chưa tỉnh, thì ngoài thế nào được đầm ấm mà gieo lần ra, các con biết xưa những chi chi mà trái cả nhơn tâm thì khó bền khó vững; chánh sách cộng hòa yên tịnh là chánh sách của các con đặng dùng lập Ðạo mà thôi. TNHT.Q/2 – ngày 5-8-1928
5.- Thầy vì thương chúng sanh, tưởng công lao của mỗi đứa nên chẳng nỡ để cho mối Ðạo điêu tàn; nhưng nếu trong các con chẳng có đứa nào lãnh phần chế biến làm cho hòa thuậnchung vui, để cho đến đỗi hiềm thù oán ghét nhau mà để trò cười muôn thuở, uổng công dìu dắt của Thầy bấy lâu, thì biển khổ sông mê là nơi các con chịu đời đời kiếp kiếp đó TNHT.Q/2 – ngày 5-8-1928
Dựa vào tinh thần TNHT, Đức Hộ Pháp khai triển rõ ràng, thực tế hơn :
Máy tạo bởi chữ hòa mà có, thì thế giái càn khôn cũng phải hòamới vĩnh cửu. Địa cầu nầy cũng phải hòa mới toàn hảo, nhơn loại cũng phải hòa mới trường tồn, chẳng khác nào xác thịt phải hòa thuận cùng linh hồn mới mong đạt Đạo.
Lấy lớn mà định nhỏ, xem nhỏ mà tìm lớn, thi hài nầy nhờ hòa khí mà thành hình, thì linh hồn cũng phải tùng theo phép âm dương hòa hiệp mới qui hồi cựu bổn; linh hồn bởi chữ hòa khí mới có đến thì tức nhiên phải nương theo hòa khí mới có về.
Tuy pháp bửu của các Tôn Giáo đã đoạt đặng vẫn nhiều, chớ cơ mầu nhiệm chỉ có chữ hòa là đủ.
Nói rõ ra thì tinh là thân thể; khí là điễn lực nghĩa là trí lự; thần là linh hồn; ba cái báu của mình ngày nào tương đắc, nghĩa là hòa hiệp cùng nhau, thì người mới mong đắc Đạo.
Cơ Đạo của Chí Tôn đến lập buổi Hạ ngươn Tam Kỳ Phổ Độ nầy duy lấy một chữ hòa làm tôn chỉ.
Có hòa mới có hiệp, có hiệp mới có thương, mà sự thuơng yêu là chìa khóa mở cửa Tam Thập Lục Thiên, Cực Lạc Thế Giới và Bạch Ngọc Kinh y như lời Chí Tôn đã dạy, chỉ nghĩa là phải Từ Bi Bác Ái mới đắc đạo vô vi, phải hòa hiệp mới có qui nhứt.
Chí Tôn đã định khai đạo đặng thị chứng cho các Tôn Giáo biết nhìn nhau trong đường hành thiện, trừ tuyệt hại tranh đấu thù hiềm, làm cho Thế Giới đặng hòa bình, thoát cơ tận diệt.
Thể Đạo của Chí Tôn cũng phải nương theo chữ hòa mới toan thành lập
Chí Tôn đã đến thế, hạ mình đặng làm Thầy dạy dỗ chúng ta, hằng trông mong giờ nào chúng ta biết hòa hiệp nơi lòng bác ái từ tâm của Người, là hiệp làm một cùng Người, mới có đủ quyền hành độ tận chúng sanh qui hồi cựu vị; mà đã sáu năm chầy rồi, thân thể hỡi còn rời rã ngất ngơ, chơn thần hỡi còn dật dờ mê muội, thì thế nào các Đấng Thiêng Liêng hiệp một cùng đời cho đặng, hầu mong sửa cải Thiên Thơ, tụ hội các nguyên nhân đem vào cửa Đạo.
Vì năm Đạo phân chia làm cho nhơn tâm bất nhứt, nhân loại nghịch lẫn nhau, Chí Tôn đến đặng hiệp lại một nhà, ước cho con cái của Người biết thương yêu hòa thuận.
Thầy dùng; phép là lương tâm, quyền là tình ái, mà làm cho cả nhơn loại thấy rõ mặt Thầy, hầu nhìn lẫn nhau trong Thánh Đức của Thầy, mà cộng yêu hòa ái.
Cộng Hòa! Cộng Hòa! Ấy là hai lời châu ngọc của Thầy để vào lòng của mỗi người. Mình biết Cộng Hòa mới làm cho cả xã hội quốc dân đặng cộng hòa, rồi làm gương cho rực rỡ quang minh mà truyền bá cả tư tưởng cao thượng ấy ra khắp toàn cầu, cho cả nhơn loại đặng cộng hòa đại đồng thế giái.
(trích BÀI DIỄN VĂN CỦA HỘ PHÁP
Tòa Thánh Tây Ninh , November 28, 1938
Sau cùng chúng ta thấy bài có chữ HÒA của Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai giáng co ngày 17-3-Quý Dậu (1933) thật vô cùng ý nghĩa :
Ðạo quí là tạihòa.Các em nghĩ thử mà coi, tạo Thiên lập Ðịa cũng bởi âm dương hòa hiệp sanh hóa muôn loài, cũng bởi một chữ hòa, đến đỗi như thân của người có tạng có phủ. Tạng phủ ấy, nếu chẳng hòa thì con người chẳng hề sống bao giờ. Kịp đến tâm hồn bất hòa thì thất tình lục dục đều phát khởi tranh ngôi với thần lương tâm, nếu kém lực, thì con người ấy duy có sanh hoạt trong vòng vật dục chớ chẳng hề biết Thiên lý là gì?
Các em thử nghĩ cái phẩm giá của kẻ ấy cao hèn là thế nào, người chẳng có hòa là thế đó.
Còn gia đình chẳng hòa, thì cha con mích nhau, chồng vợ lìa tan, anh em ly tán.
Còn trong luân lý chẳng hòa, thì dân cư bất mục. Nước chẳng hòa thì sanh ly loạn.
Còn cả thế giới bất hòa, thì nhơn loại đấu tranh.
Vì vậy Thiếp khuyên các em dĩ hòa vi tiên.
Bài nhạc phổ Thi Văn Dạy Đạo, có chữ HÒA
https://www.youtube.com/watch?v=--2FwBMrRLs