IV.VỢ CHỒNG GẶP NHAU MỘT CÁCH BẤT NGỜ.
Trong khi hành lễ, có một người đạo phái nữ, cứ chăm chỉ ngó qua chỗ bàn ở giữa, nơi mấy ông có chức sắc đương quỳ, ngó đến nỗi quên cả việc hành lễ, người ấy muốn nhìn cho rõ, xin đổi ra đứng bên ngoài, người ấy chẳng ai đâu lạ, ấy là bà Hội Đồng Lung. Bà nhìn rồi bà tự nghĩ rằng thật là giống hết sức, chỉ khác có râu và để tóc mà thôi. Bà để ý và nhứt định sẽ theo bén gót mới nghe. Bà nửa mừng nửa lo, năm nghi mười ngờ bà trông cho mau xong cuộc lễ, nên khi cuộc lễ vừa chấm dứt mọi người tứ tán ra về, bà Hội Đồng mới theo chưn một ông Giáo Sư không rời nửa bước.
Nói qua ông Giáo Sư Cung khi hành lễ xong rồi, tỏ vẻ một cách mệt nhọc, ông chậm rải mà trở về thảo xá. Về đến nhà, ông lật đật cởi đồ sắc phục, lấy quạt ra ngồi trước ván vấn thuốc hút, vẻ mặt dường như lo nghĩ một việc chi hết sức hệ trọng, ông quên cã đêm đã hầu tàn, ông quên cã mệt nhọc, vì phận sự cứ ngồi ngó ra ngoài. Bên ngoài, bà Hội Đồng lấp ló đứng núp cánh cửa mà nhìn vào, bà nghi bà sợ nhìn lầm, bà cũng quên sự lạnh lẻo, vì hạt sương mai bắt đầu thấm ướt cã áo của bà. Bà trông và ước sao cho ông lên tiếng, coi có phải tiếng của chồng bà không. Trông hoài không được, bà mới tự nghĩ, dại gì mà chờ ông nói, thì cứ việc vào, nếu không phải thì mình nói đi lạc, nhìn lầm vậy thôi. Nghĩ như vậy rồi, bà mạnh dạn bước vào.
Đương mãi mê suy nghĩ! Ông Giáo Sư Cung giật mình, lớn tiếng hỏi:Bà là ai, giờ nầy lại đến đây để làm gì ?Bà không sợ phạm pháp sao ?Ông vừa dứt lời, bà Hội Đồng chạy lại vùng níu lấy ông mà kể lễ khóc lóc đủ điều:Quả là ông rồi, đã mười năm tìm kiếm, không dè ông trốn tôi mà lên ở trên nầy, ông tệ chi lắm vậy ông ! ?Ông Giáo Sư xô bà ra và nói một cách nghiêm chỉnh rằng:Bộ bà này điên hay sao, giờ nầy dám đến đây làm ầm ỷ, lại nói những gì tôi chẳng hiểu, bà mau ra khỏi chỗ nầy. Nếu không tôi cho gọi Bảo Thể đem bà đi.Bà nói:Ông cứ kêu đi, tôi chẳng sợ đâu, ông không kêu tôi cũng la lên bây giờ. Ông phải nói cho tôi biết, tại làm sao ông bỏ nhà ra đi, con tôi đâu ông phải trả lại cho tôi.
Bà nói càng lúc càng lớn. Ông Giáo Sư hết sức bực tức mới hỏi: Bà nói tôi là ai, chắc bà điên rồi bà nhìn lầm rồi!Bà nói:Làm gì tôi lại lầm ông là Lê Thành Lung chớ ai! Bộ ông nói ông để râu để tóc rồi tôi nhìn không ra à ?Ông nói một cách châm bẩm rằng:Bà lầm rồi, tôi là Giáo Sư Cung. Chẳng phải Lung nào đừng nói bậy nữa. Bà mau ra khỏi chỗ này tôi không chấp nhứt.Bà nói:Tôi không ra, ông cho tôi lầm! Vậy để tôi la lên cho thiên hạ hay chạy đến và sẽ đem vụ này ra ánh sáng, nếu ông không phải là Lê Thành Lung thì bất quá tôi vì thương chồng, thương con mà làm vậy thôi, bị quở bị trách là cùng! Còn nếu ông là ông Hội Đồng Lung thì ông sẽ bị ba tội nặng:
-Thứ nhứt, ông bỏ nhà ra đi, với mưu kế quỷ quyệt, làm cho nhà chức trách phí công hao của để tìm ông mấy năm.
-Thứ nhì, của chồng công vợ con tôi mang nặng đẻ đau, ông lấy hết tiền bạc vòng vàng lại bắt con tôi đi theo, bây giờ nó sống chết ra sao ông phải chỉ.
-Thứ ba, việc đời ông làm không tròn ông lại cải danh, diệt tánh để vào cửa đạo ông dối cã thế, dối cã đạo.
Nếu phải họ sẽ trục xuất ông ra khỏi đây. Vậy ông cứ chối, tôi cứ la coi ai phải ai quấy cho biết.
Ông thấy bà nói quá cương quyết, ông mới dịu giọng mà nói rằng:Bà chẳng cần la lối om sòm, nếu bà muốn biết tôi cũng nên nói ra một lần cho rồi. Bà tỏ ý mừng và nói:À ! té ra ông chịu rồi, nhìn nhận rằng tôi không lầm!Ông không trả lời! Mà bước ra mở rộng cánh cửa, rồi chỉ ghế biểu bà ngồi, ông trở lại ván, ông mới vấn thuốc hút rồi chậm rãi ông nói:Đây! Bà muốn rõ tại sao tôi bỏ nhà ra đi, tôi xin bà một điều thôi, là bà cứ ngồi nghe tôi nói, không đặng bức ngang câu chuyện của tôi chừng nào tôi nói xong, tôi cho bà phản đối chỗ nào tôi nói sai nói quấy. Nếu bà chận ngang tôi xin bà đi về tính sao bà tính.
Bà Hội Đồng nói:Được!Ông cứ nói tôi nóng nghe lắm, trên mười năm nhẩn nại đau khổ đã nhiều, tới ngày giờ này tôi hết sức tức, chẳng biết vì đâu mà ông đành nhẫn tâm với tôi như vậy.Ông phà một hơi khói, làm như thở ra để bớt sự chứa đựng, trong lòng ông từ bấy lâu nay. Ông mới nói:cách đây hai năm bà có về viếng Tòa Thánh đây một lần, tôi thấy và cố tránh đi, rồi cách đây ba ngày, tôi cũng gặp và tìm cách để lánh mặt. Nay vì lo phận sự tôi không thể tránh bà, chớ tôi muốn như tôi đã chết rồi cho bà yên lòng. Rủi cho tôi hôm nay bị bà nhìn được. Thì thôi! dấu làm chi nữa, bà muốn coi tôi có biết việc gì của bà không, thì tôi sẽ vui lòng tường thuật một lần cho bà biết!
Cách đây trên mười năm có lẽ bà còn nhớ, khi Dượng Cả nó gởi cái thơ nói bệnh, kế tiếp được dây thép nói bệnh nặng, tôi mới giao phó công việc nhà cho bà, để qua trông coi công việc cho Dượng. Cách đó một tháng có đặng một cái thơ trong ấy nói rằng: Vì vắng mặt tôi, bà đã tư tình với thằng Ban Biện Mưu.Ông mới nói tới đó làm cho bà đứng phắt dậy một cách gọn gàng mà cải lại rằng:Vậy rồi ông tin ông không hỏi đi hỏi lại, ông bỏ tôi bỏ nhà bỏ cửa ông đi. Vậy học để làm gì? Ông làm Hội Đồng làm chi không biết phán đoán, không biết suy xét sự thực hư, đặng thơ rồi cứ tin, cho đến tán gia bại sản. Thật! tôi chê ông chỗ đó nhiều lắm,bà nói một hơi làm cho ông ngồi làm thinh bà nói đã rồi bà tức.
Sau bà nói:Sao Ông chẳng nói nữa đi?Bà giục ông đôi ba phen, nhưng ông cứ ngồi trơ trơ như hình gỗ.
Bà nhớ lại tự biết rằng mình thất hứa, nên bà xuống nước năn nỉ ông và hứa rằng: Bà không dám chận lời ông nữa. Chừng đó, ông mới chịu tiếp mà nói: Nếu bà còn tiếp một lần nữa, thì tôi bặt luôn không nói cho bà biết.Đoạn ông tiếp rằng:Trong thơ có căn dặn tôi, nếu như không tin, cứ tối lối bảy tám giờ thì bắt đặng, ký tên là giáo Tỵ. Sau khi xem xong bức thơ tôi liền xé vụn mà liệng đi. Vì tôi đoán rằng: Có lẽ quân nào nó thấy tôi được may mắn làm ăn phát đạt, nó muốn phá gia đình tôi hư chơi, hay là vì bà tánh hay nói thẳng, họ ghét, họ phao vu cho bỏ ghét! Nghĩ như vậy, nên tôi chẳng để ý chi về cái thơ rơi ấy.
Cách ít ngày sau, tôi về, tôi nhớ rằng: Tôi đang nằm trên võng ở nhà dưới, chơi với thằng Song, tôi thấy bà kêu thằng Khai nói nhỏ gì với nó, rồi nó bỏ chạy lại nhà Ba Biện Mưu, một lát nó trở về lại nói chi với bà ở dưới nhà bếp, rồi bà tỏ sắc buồn và có pha sắc giận. Tôi nói thật với bà, tôi không bao giờ tin lá thơ rơi, tôi không bao giờ nghi cho bà, vì tôi biết bà nhiều, ở với nhau trên 10 năm, có con kia mà. Nhưng mà cái cử chỉ của bà ban chiều, nó buộc tôi phải ngờ, nên chi tối lại tôi chờ khi vắng mặt bà, tôi mới hỏi thằng Khai. Vậy hồi chiều bà mầy sai đi đâu đó? Nó mới nói rằng: Bà biểu nó đi kêu ban cày, tôi nghĩ: Ban cày đâu đằng nhà Ban Biện Mưu?! Thấy rõ sự gian dối của thằng Khai, lại buộc tôi đâm ra nghi ngờ hơn nữa. Nhưng, với thành tích và tánh nết của bà, trí tôi nó xua đuỗi được con ma ghen nó đương ám ảnh trong tôi!
Sáng bửa sau, tôi trở về Mỹ Tho, tính quên việc chẳng đáng nhớ ấy. Nhưng chẳng hiểu tại sao càng xua đuổi nó bao nhiêu, thì nó lại buộc tôi nghi quyết bấy nhiêu, tôi không thể làm việc được nữa, vì nó lẩn quẩn bên tôi hoài, thật là một vị thuốc độc đáng sợ, thuốc độc ấy là cái ghen. Cách ít ngày sau tôi không đáng về, vì công việc bận rộn, nhưng dường như ai khiến cho tôi phải về. Nên chi tôi bỏ cã công việc gấp rút, về chuyến xe chót năm giờ, tôi ghé chợ Tân An ăn cơm xong, rồi mới kêu xe về dưới còn cách nhà chừng 500 thước thì tôi cho xe trở lại.
Về đến nhà trời đã tối, tôi đi vòng lên nhà trên thấy vắng bà, tôi mới đi vòng xuống nhà dưới, chỉ thấy thằng Khuê đương nói chuyện với con tư Khá tôi mới đi thẳng lại nhà Ban Biện Mưu vừa tới cửa ngõ, thì nghe tiếng thầm thì và hai cái bóng đen ở trong nhà đi ra, tôi mới nép mình ẩn núp sau cánh cửa nhỏ, đến chừng hai cái bóng đen đi gần đến thì chẳng ai đâu xa lạ, ấy là bà với Ban Biện Mưu. Kế tôi nghe rõ ràng như vầy nè: Thầy Ban, tôi vì thương thầy mà thầy chẳng biết thương tôi, thầy tính sao tính gấp đi, nếu ổng hay được trước thì chắc ổng đánh tôi chết, rồi Ban Biện Mưu lại trả lời rằng: Tôi biết lắm, thế nào tôi cũng lo cho được, bà bị ổng đánh tôi lại yên sao, bà cứ yên lòng!
Khi sắp từ giả, bà còn nói rằng: Ráng nghe! để ổng về thình lình hay được chắc tôi phải chết. Đó! những lời nói ấy nó ghi sâu vào tâm não của tôi, không bao giờ quên đặng. Sống để bụng thác đem theo, tôi bây giờ là người tu hành chẳng dám nói thêm cho bà và bất luận với ai. Lúc nghe xong những lời đối đáp của bà tôi bất tỉnh nhân sự, ngồi cứng đơ ngay đó chẳng biết đến bao giờ. Lương tâm và ác tâm tôi nó xâu xé lấy nhau. Ác tâm tôi nó xúi tôi một hai phải giết bà với thằng Mưu cho đả nư giận. Còn lương tâm tôi căn dặn tôi rằng: Làm như vậy tôi sẽ mang tù mang tội, gia nghiệp tôi sẽ tiêu tan, con tôi không người nuôi dưỡng. Tôi nghĩ: Thôi! bỏ đi, phải thì ăn đời ở kiếp với nhau, chẳng phải thì ai đi đường nấy. Lương tâm tôi thắng, nên chi tôi trở lên Tân An trong đêm tối chờ sáng ngày, tôi trở về Mỹ Tho. Vừa về đến, tôi gặp thầy tư Tứ cho hay rằng: Ông Đốc Học Solère sắp về Pháp muốn gặp tôi lần chót để thăm và từ giả nhau, tôi lật đật đi luôn lên Sàigon, mặc dầu trí não tôi đang tan nát.
Đến nơi gặp nhau mừng rỡ, ông mới hỏi thăm thằng Song. Tôi nhớ lại việc nhà, rồi dường như ai khiến tôi buộc tôi phải nói với ông Solère rằng: Hiện nó đương vừa nhập học, nhưng tôi lên trước thăm ông bà, sau tôi xin nhờ ông bà giúp tôi, cho tôi gởi thằng Song cho ông bà đem nó về Pháp, tôi xin gởi theo cho ông bà năm ngàn đồng làm học phí cho nó, nếu thiếu tôi sẽ gởi thêm. Sau này nó lớn khôn được thành danh là công ơn rất lớn của ông và bà. Còn sự sống chết mất còn là do mạng nó! Không sao. Xin ông bà thương cháu! Vợ chồng đã không con, thêm có năm ngàn bạc phụ thêm, vợ chồng ông Solère vui lòng nhận lãnh, biểu tôi làm giấy tờ, thứ hai sau đem nó lên, đặng thứ ba ông xuống tàu.
Tôi trở về Mỹ Tho sắp đặt mọi việc, tôi lấy theo ít tiền vì sợ Dượng nó nghi, rồi bửa chúa nhật tôi về. Muốn cho bà đừng nghi ngờ chi hết nên tôi phải giả dạng vui cười như thường đến chiếu gần bảy giờ, tôi dẩn con chó cò đi ra cầu Bình Tâm, xem trên dưới không ai tôi lẹ tay cắt họng con chó, thật! Nó vì ai mà thác oan, xác liệng xuống sông, tôi lấy hai lon sữa bò máu chó có pha nước, đem về để ngoài hàng ba. Khi cơm nước xong rồi kế trời chuyển mưa, tôi mới lo đi đóng cửa, thằng Song dường như có tánh linh nên nó cứ theo bận bịu quấn quít lấy tôi.
Đến mười giờ tôi nghe tiếng ngáy của bà, tôi liền chụp lấy thuốc mê cho thằng Song đương ngủ, mở tủ lấy hết vàng bạc để lại làm gì?! Tôi mới mở cửa hông, lấy máu chó tưới lên ván, rồi tôi đi ra vô nhiều lần cho có sình lẫn dấu chân không rõ. Tôi dùng kế mọn như vậy! Mặc dầu, sau này ai tưởng sao thì tưởng. Tôi bồng con ra đi, đi cho mau, đi cho khỏi cái gia đình khốn nạn ấy, cha xa con, vợ lìa chồng, con lìa mẹ cũng tại nơi bà mà ra. Khi lên đến ngã tư nghe rõ tiếng la vang dậy. Tôi biết việc đã bị bể rồi tôi đi riết qua đầu cầu xe lửa, thời may có chiếc xe đò dưới Mỹ Tho chạy lên sớm. Tôi liền quá giang mà lên Sài Gòn thì đúng năm giờ sáng.
Tôi lật đật đem thằng Song đang mê man vào nhà và kêu cửa ông Solère. Vợ chồng ông hỏi, làm gì lên sớm vậy, tôi mới nói dối rằng vì cha có một con, tôi không đành lìa con tôi khi nó thức. Nên chi tôi chụp thuốc mê cho nó, đem lên sớm, rồi tôi xin từ giã ông bà mà đi về. Khi nó thức dậy ông bà dỗ nó bằng bánh và đồ chơi thì nó sẽ quen đi. Nói rồi tôi đi liền, sau khi giao tiền cho ông, tôi đi chuyến xe nhứt để lên đây, cải danh diệt tánh ẩn thân tu hành từ bấy năm nay. Còn thằng Song, năm nay được mười tám tuổi, thi đậu tú tài nhị cấp. Nó có gởi hình về và nói bà Solère đã mất rồi. Đó! đầu đuôi bà nghe rõ chớ, có chỗ nào tôi nói gian cho bà đâu. Thôi! Tôi xin bà để yên thân tôi trong cảnh tu hành và tôi hứa với bà sau này tôi không cho thằng Song biết chi hết, đặng bà khỏi hổ cùng nó. Vậy tôi xin mời bà về nghĩ, trời gần sáng rồi, tôi không hờn không giận bà đâu, và hôm nay tôi đã là người xả thân cầu đạo thì còn chi mà phải đeo mang vào trí nữa.
Tội nghiệp bà Hội Đồng, ngồi nghe ông nói mà bà khóc nghẹt mũi, nghẹt tai, tức tưởi đến khi ông dứt lời, bà sụp xuống lạy ông, mà nói rằng:Lời ông nói nảy giờ là đúng không sai một mảy nào. Nhưng ông lại ngắt lời, đã đúng thì còn nhưng gì nữa, còn lạy lục mà làm gì, tôi nói tôi không giận bà kia mà và chỉ xin bà để cho tôi được yên tỉnh là hơn.Bà nói:khi nảy ông có hứa, sau khi ông nói tôi được phép phản đối, nếu lời ông chẳng phải.Ông nói: Mà bà đã cho lời kia là đúng, thì còn phản đối nỗi gì.Bà nói:đúng bề mặt ông ơi, còn bề trái, sái nát hết ông à. Bà và nói và khóc:Thiệt! Ngày hôm nay tôi mới thấy công quả của tôi, và kết quả hôm nay. Tôi rất đội ơn Đấng Chí Tôn, nếu tôi không nhập đạo, thì làm sao tôi gặp được ông, mà nếu tôi không gặp ông thì tôi gặp cảnh oan tình, ông cứ tưởng tôi là con dâm phụ. Không có Đấng Chí Tôn đem đường chỉ lối cho tôi gặp chồng gặp con thì lấy ai minh oan cho tôi.Bà vừa nói và ngắm ngay Thiên Bàn, bà lạy như tế sao, rồi bà đứng dậy lại gần ông. Bà nói:Oan cho tôi lắm ông ơi, mà lỗi ấy vừa ở tôi, bởi lời tôi nói không minh, không cẩn ngôn!Ông cười một cách gay gắt mà hỏi bà:Oan lắm sao? Đâu oan chỗ nào bà cứ bào chữa, mặc dầu tôi chẳng muốn nghe, bà nói đi.
Bà nói:Khi ông qua bên Mỹ Tho chừng được mười ngày, thì có trát của quan Phủ Tỉnh cho hay rằng: Làng Bình Tâm và làng Bình Qưới phải chuẩn bị sổ sách, để quan Quận đến xét ngày mai. Trát lại xuống trễ, nên làng hay đặng trước có một ngày. Rủi cho làng mình bị thầy Ban mới mượn bữa trước 560p.00 (piatre= đồng) đặng chồng bạc ruộng. Việc cấp bách là thúc hối Thầy, vợ chồng hết thế mới chạy đến tôi, yêu cầu ông cho mượn đỡ để vào tủ khi nào quan xét xong rồi thì thầy lấy mà trả lại, tôi nói tôi không dám tự chuyên về tiền bạc phải có ông mới được. Hai vợ chồng năn nỉ hết sức, bà Ban khóc nói: Nếu tôi không thương mà giúp dùm, khi việc đổ bể ra thì thầy có tội, thấy vậy chịu không nỗi! Tôi buộc gắt, hễ quan xét rồi phải trả liền và hai vợ chồng phải làm giấy hứa với tôi như vậy. Hai ông bà bằng lòng liền làm giấy tôi mới cho mượn. Rủi cho thầy Ban, sau khi xem xét sổ sách rồi, làng quở, sao làng nhỏ mà để chi tiền nhiều chẳng chịu đăng kho. Dạy làng nội ngày mai phải đem đi nạp liền, nên chi làng không thể cho Thầy mượn lại số tiền ấy.
Chiều lại hai vợ chồng có đến năn nỉ tôi, tôi một hai gì ngày mai Thầy cũng trả, vì Thầy sẽ thế ruộng ấy cho Chà, ngặt Chà nó lại chê ruộng phèn nó không thế, rồi chạy cùng mượn ai cũng không được? Phần tôi sợ ông về ông hay, nên chi ngày mắc lo cày cấy, tối rãnh tôi mới đi đòi. Phần vì tình anh em và chức phận của Thầy nên tôi chẳng nỡ rầy rà, tôi mới nói to nói nhỏ với thầy. Bởi thấy vậy! Nên quân khốn nạn nào đó nó mới viết thơ mà gởi cho ông. Còn ông nói bửa tôi sai thằng Khai. Thật y như vậy, vì thấy ông về, tôi sợ ông hỏi về tiền bạc, nên tôi biểu nó chạy lại cho thầy hay, biểu Thầy phải đưa liền, tôi nói dối rằng: Ông sắp tính tiền bạc. Nhưng nó đi không về rồi, mà nói rằng: Vợ chồng thầy mắc đi xuống chợ Kỳ Sơn không có ở nhà! May sao ngày đó ông không có nói chi về việc tiền bạc hết.
Còn nói về cái ngày của ông về, thì vào lúc nào tôi không nhớ, nhưng tôi nhớ kỹ vì sợ mặc dầu đã quá mười năm rồi có bữa tối, tôi quyết lại làm dữ với hai vợ chồng, thì lại may cho Thầy là có mấy làng đương nạp nguyệt để, tôi chẳng nở lớn tiếng. Nhưng Thầy biết tôi giận dữ, mới bước ra ngoài, tôi hiểu ý ra theo, Thầy mới năn nỉ xin nán ít ngày nữa vì Thầy còn đang lo chạy tiền, và nói và đi, thầy đưa tôi ra tới cửa ngõ. Những mấy lời tôi nói đó, vì đã hết giận với lời thiết tha, thề thốt của Thầy, nên tôi chỉ nói: Nè! Thầy ban, tôi vì thương thầy, mà Thầy chẳng biết thương tôi, thầy tính sao, tính gấp đi, nếu ổng hay được chắc ổng đánh tôi chết! Phải chi tôi nói trắng ra rằng: Tôi vì thương Thầy sợ Thầy mất chức mới cho Thầy mượn số bạc ấy, mà Thầy chẳng biết thương sự phải của tôi mà lo trả lại, Thầy phải tính gắp nếu ổng hay được số bạc tự tôi cho Thầy mượn thì ổng đánh tôi chết. Bởi ông không rõ mà lầm, bởi tôi là một người đàn bà bất cẩn ngôn, tự chuyên chẳng cho ông hay, thật là trăm chuyện quấy đều do nơi tôi hết. Rất may cho tôi hết sức, tôi biết rằng: Những điều tôi nói đây chắc là ông không tin đâu, nhưng bằng cớ còn nhiều, là vì số bạc ấy, thầy chỉ trả được có 300 đồng mà thôi, vì Thầy nghèo quá bởi thất liên tiếp bốn mùa trả sao nỗi, và Thầy xin nghĩ việc luôn cách bốn năm nay. Cái giấy cái đã hứa, hôm nay vẫn còn trong tủ tôi. Việc ấy có cã thằng Khuê và thằng Khai biết rõ.
Vậy tôi xin ông, sau cuộc lễ này rồi, ông nên trở về dưới. Ông ở ẩn trong nhà, tôi cho kêu Thầy Ban và vợ Thầy đến chừng đó mới biết tôi ngay gian. Đây chìa khóa tủ đây, ông cất đi rồi tôi cùng về một lượt với ông cho ông tin.Nghe bà nói tới đó, ông lắc đầu, mà thở ra một cái ào, dường như tuông bỏ những sự bực tức từ bấy lâu nay ông ôm lấy trong lòng.Ông biết ông lầm rồi, nhưng ông vẫn nói một cách nghiêm trang rằng: Được để rồi tôi sẽ về, cho biết sự oan ưng của bà. Vậy hôm nay bà cứ vẫn như thường, tôi yêu cầu bà, không nên cho ai biết gì về việc này.
(còn tiếp)◙