Truyện ngắn tôn giáo Lưới Trời, được sáng tác khoảng năm 1940, được trình lên Đức Phạm Hộ Pháp xem qua và được phê như sau:
"Ấy là một tiểu thuyết đầy đủ đạo đức tinh thần, đáng để cho những người đạo tâm lưu ý. Một gương sáng suốt của một người chồng, trong buổi khổ não tinh thần vì tình ái yêu vợ, mà tìm nơi an ủi tâm hồn phải chỗ của ông Lê Thành Lung.
Một bà vợ bị hàm oan! Trót chịu đau khổ đã trên mười năm mà vẫn giữ tình chung thủy, cho tới lúc minh oan với chồng. Thật! Là một người hiền phụ đáng kính, đáng thương là bà Lê Thành Lung.
Một đứa con đã xa cha mẹ quê hương lúc lên sáu tuổi, theo người ngoại quốc về Pháp, mà còn giữ y thiên tánh chẳng đổi chẳng dời, trên hiếu với cha mẹ và trọn nghĩa với bạn, dầu người bạn ấy là người thù của mình là Lê Thành Song.
Người rất nên chú ý hơn hết là đứa phản phúc sát nhơn, tội tình quá lẽ mà biết tự giác sửa tánh ăn năn, theo đường chánh tìm lẽ phải, tự hối mà ở trọn hiếu với cha mẹ người bị hại nơi mình, mà đền tội là Nguyễn Văn Thai.
Tuy là bản tiểu thuyết vắn tắt nhưng đủ đạo đức tiết nghĩa. Tưởng, ai xem đến cũng phải cảm động! Quả nhiên! Nó đã hiển hiện ra rõ ràng, một tuồng đời hiện hữu.
Bần đạo rất khen, cho phép in ra và ấn tống.
HỘ PHÁP
ký tên và đóng dấu"
Lưới Trời
CHA CON ÔNG HỘI ĐỒNG LUNG MẤT TÍCH.
Tại hạt Tân An, có làng Bình Tâm ở giữa, hai bên là làng Bình Lập và làng Bình Quới. Liên lạc bởi một cái cầu sắt nằm giữa trung tâm của làng, chung quanh cầu có trên hai trăm nóc gia quanh năm chỉ nhờ có một nghề nông mà sinh sống. Xóm ấy toàn là hạng Tá Điền cùn đinh, chỉ có hai nhà được kể vào hạng khá giả là nhà của thầy Ban Biện Trần Trọng Mưu và nhà của thầy Hội Đồng Lê Thành Lung ở gần cầu hơn hết.
Một đêm chúa nhật vào cuối tháng 8 An Nam, ngoài trời tối đen như mực thêm sấm chớp rền tai, gió dông vùn vụt, báo rằng cơn mưa to sắp đến nhà nhà đều đóng cửa, ngoài đường chẳng ai đi. Làm cho cảnh đồng bái đã buồn lại càng thêm ảm đạm.
Vào tối canh ba, thình lình có tiếng la làng dữ dội làm cho cả xóm giựt mình thức dậy, lóng tai nghe rõ thì tiếng la ấy do nơi nhà của ông Hội Đồng Lung đưa đến, chẳng kể mưa gió kẻ cây người hèo đồng kéo nhau chạy đi tiếp cứu, khi đến nơi thấy có cả thầy Hương Quản và thầy Ban đều mang súng đến tiếp viện, vì ai nấy đều đinh ninh rằng: 'Nhà ông Hội Đồng bị cướp'. Nhưng cướp đâu chẳng thấy, chỉ thấy có mấy người trong nhà cầm đuốc đi kiếm vật chi? Mà tiếng của bà Hội Đồng vẫn la làng không dứt. Ai nấy đều bàn rằng: ''Chắc bọn cướp đã buồm rồi''! Vậy chúng ta đồng áp vào coi sao cho biết.
Tội nghiệp bà Hội Đồng Lung vừa thấy Thầy Ban cầm súng bước vào, bà liền kéo áo thầy mà khóc và kể lể om sòm, xin thầy mau cứu dùm chồng và con tôi đã bị bọn cướp giết hay bắt đi đâu mất rồi, tiền bạc vòng vàng của tôi chúng nó mở tủ sắt lấy hết không chừa một đồng. Thầy coi bộ ván ở nhà tôi nằm kia kìa. Thầy Ban nhìn lại thì thấy máu me lai láng từ trên ván chảy xuống còn tươi rói, thêm dấu chân chúng giẫm đầy những sình, thầy mới lật đật hỏi:''Vậy chúng nó vô hồi nào? ra làm sao? chúng có mấy đứa? Bà nói dùm cho mau, đặng tôi lo cấp cứu''.Bà Hội Đồng nói:''Nó vô hồi nào ra làm sao tôi chẳng thấy! chỉ giựt mình thức dậy do cánh cửa hông nhà đập vô vách một cái rầm. tôi thấy tối đen vì đèn chong đã tắt''.
Tôi mới mở cửa tìm được hộp quẹt, thắp được cây đèn bưng ra tới mới hay tự sự, la lên thì thằng Khuê với thằng Khai ở nhà dưới chạy lên. Tôi mới bảo chúng nó lấy đuốc đi kiếm còn tôi thì tri hô lên, trong khi ở ngoài giông và mưa không ngớt. Thầy Ban nghe tới đó, thầy liền kêu dân làng vô, phân làm bốn tốp, một tốp chạy lên Tân An, một tốp chạy xuống ngã Bình Quới, còn hai tốp kiếm xuồng chia nhau kẻ chèo ngược, người chèo xuôi theo dòng nước để tìm kiếm. Còn Hương Quản lên Tân An cấp báo cho nhà chức trách hay. Phần Thầy, hiệp cùng một số người còn lại thắp đuốc để lục xét chung quanh. Gần rạng sáng thầy Ban trở về với vẻ mặt bất mãn, kế bốn tốp kia tìm cũng không ra đành trở lại, người bàn vầy kẻ bàn khác.
Đương phân vân, kế có người chạy vào cho hay rằng: Có ông Cò và ông chủ Quận xuống tới, thầy Ban kêu hết cả mọi người trong nhà ra ngoài, đặng cho nhà chức trách dễ bề điều tra, rồi thầy ra tận cửa ngõ đặng tiếp rước quan chủ Quận và ông Cò. Khi mọi người vào đến nơi rồi quan chủ Quận hỏi thầy Ban. Vậy dấu tích có mất không? Thầy ban thưa rằng: 'Tôi đã lo từ khi mới tới! Tôi cấm tất cã người trong nhà không ai được lên nhà trên nầy'. Đoạn thầy Ban mới tường thuật lại, từ khi thầy nghe tiếng la cầu cứu, đến các lời khai của bà Hội Đồng với hai đứa ở trong nhà và việc sắp đặt đi tìm kiếm vô hiệu quả, cho nhà Chức Trách nghe. Nghe xong, quan Quận và ông Cò mới đi xem xét, nào là cánh cửa đã mở, bộ ván đẫm máu, dấu chân như có nhiều người mà không rõ, xem đến tủ sắt ông Cò có ý nghĩ ngợi nhiều, nhứt là tủ không bị phá, xem xét tỉ mỉ xong các nơi, ông Cò mời bà Hội Đồng lên hỏi lại cùng với hai tên Khuê và Khai.
Mấy người cũng khai như lời khai với thầy Ban hồi khuya. Quan quận hỏi gằn hai tên Khuê và Khai tại sao ăn cướp và giết chủ bây, nào là phá cửa, mở tủ, lớp thằng nhỏ khóc rùm lên như vậy mà bây không hay. Chắc tụi bây đồng lỏa với bọn cướp chớ gì, chớ ngũ gì như chết vậy! Khuê và Khai đồng lạy mà thưa rằng:''Thật! chúng con không hay chi hết, ngày mắc lo đi cày tối mệt ngủ mê, chừng nghe bà chủ tôi kêu mới thức dậy''. Ông Cò hỏi bà Hội Đồng:''vậy bà có nghi cho hai tên này không?''Bà lật đật thưa rằng: ''bà chẳng nghi ngờ chi hết, vì hai tên này thật thà làm ăn và ở đây giúp cho bà đã ba bốn năm rồi bà thương họ lắm''.
Quan chủ quận hỏi:Cháu nó năm nay được bao nhiêu tuổi? -Dạ thưa nó lên bảy. Vậy bà không nghe nó khóc la chi hết trước khi bà dậy hay sao? -Dạ thưa không. Khi dậy Bà có nghe trong mình mê mệt chi không? dạ không. Tôi thức dậy tĩnh mĩnh lắm! Tôi thắp được đèn là đi ra ngay. Chìa khóa tủ sắt ai giữ? -Dạ, thường ngày thì tôi giữ. Sớm mai hôm qua, chồng tôi ở Mỹ Tho về thì ông lại mở tủ rồi ông cất luôn đến tối xảy ra tai nạn, tôi đã có ý tìm kiếm mà không thấy.
Ngày hôm qua khi ông Hội Đồng về cho đến chiều tối, bà có thấy ý và tánh ông có thay đổi chi không? Vui hay buồn? -Dạ thưa, ông về cũng như thường ngày, cũng vui vẻ chuyện vãn, giỡn với thằng Song nhiều hơn hết chẳng có chi là khác. Mỗi khi bà Hội Đồng nói hay trả lời điều chi, thì ông Quận nói lại cho ông Cò nghe, vì không có thông ngôn đi theo.
Đến khi bà Hội Đồng trả lời câu chót, thì ông Cò nhìn ông Quận dường như để hỏi ý kiến ông Quận, suy nghĩ sao về vụ này? Quan Quận nói với ông Cò rằng:Vụ án mạng này tôi hết sức nghi ngờ. Nếu tôi chẳng phải là bạn của ông, với tư cách của ông thì tôi cho vụ này là giả dối. Ông Cò hỏi Ngài thấy về chỗ nào? Tôi xem cái cửa hông kỹ lưỡng là chỗ vô ra của bọn cướp, chẳng có dấu cạy phá chi hết, nếu nói rằng: Trước khi đóng cửa, quân gian có thể ẩn bóng vào trước, để làm tay trong tay ngoài. Nhưng bà Hội Đồng quả quyết rằng trước khi đi nghỉ, bà có rọi nhà thật kỹ theo thường lệ ở đồng. Nếu chắc theo lời bà thì làm gì bọn cướp ra vô một cách dễ dàng mà cửa khỏi phá hay cạy, đó là một lẽ đáng nghi! Còn cái tủ sắt? có lẽ, ông cũng thấy rõ đó là có người mở với chìa khóa đàng hoàng, tiếc rằng mình không thể lấy dấu tay đặng, vì thiếu đồ khoa học.
Nếu ước đoán rằng quân cướp vào kêu ông Hội Đồng dậy, rồi dùng súng mà buộc ông làm thinh và mở tủ. Nhưng! Đến khi chúng nó giết ông thì bằng cách nào? Bằng súng thì hẳn là không vì chẳng ai nghe! Nếu giết bằng dao, thì có lẽ ông cũng biết, ông Hội Đồng to người mạnh khoẻ như vậy, lại để cho quân cướp hạ sát mà chẳng chống cự, kêu la cầu cứu? Còn nói chúng nó vào giết liền cha con ông Hội Đồng trong giấc ngủ mê, chết liền không giẫy giụa được, rồi chúng nó lục lưng ông mà lấy chìa khoá ra mở tủ? Vậy, ông nghĩ coi làm gì chúng nó mở được, nếu không biết chữ, vì khi nảy bà Hội Đồng khai rằng: Khi rọi nhà bà có rọi cửa tủ sắt coi ông Hội Đồng có quên khoá chữ không, thì bà thấy chữ đã sái rồi thì làm sao tủ mở khỏi phá. Không lẽ chúng nó biết chữ tủ ấy? Ông Cò chỉ cười mà nói rằng : Tôi xin biểu đồng tình với ông về lý lẽ ấy! Nhưng cũng có khi quân gian nó dọ trước nên biết chữ sắp.
Đây tôi chỉ cho ông chỗ nầy. Quân cướp giết người cướp của là thường, chớ không bao giờ cướp luôn cã thây người, nhứt là thây ông Hội Đồng, chẳng phải cái gối gòn, còn thằng nhỏ bảy tuổi cũng trọng, nếu nói quân cướp bắt cóc cho chuộc, thì làm gì chỗ thằng nhỏ nằm, chung quanh cũng đẫm cã máu. Thật khó nghĩ, nếu chúng ta nghi rằng: ông Hội Đồng không bị giết, con không chết, thì làm gì có rất nhiều dấu chân kia và bao nhiêu là máu. Thôi phận sự chúng ta làm biên bản và đưa ý kiến cho Tòa rõ, còn manh mối là phận sự của các nhà trinh thám. Sau khi hỏi sơ sài vài điều nữa rồi ông Cò và ông Quận kiếu từ ra về, có kêu thầy Ban Biện Mưu mà dặn kín! Việc thầy Hội Đồng Lê Thành Lung bị cướp và mất tích cã cha lẫn con, làm cho dư luận toàn Tỉnh Tân An rất nên sôi nỗi. Đi đến đâu, đều nghe thiên hạ bàn tán việc ấy, với một sự bí ẩn vô cùng.
Em rễ của ông Hội Đồng Lung ở ông Văn bên Mỹ Tho là ông Cả Minh, người Minh Hương bệnh vừa mới nhẹ, nghe tin anh vợ bị nạn, vợ chồng lật đật về Tân An để thăm. Ông Cả Minh rất bực tức về việc ám sát ấy nên ông chẳng nệ tốn hao, muốn rõ nguyên nhân vì sao anh và cháu bị mất tích bí mật như vậy. Ông treo giải thưởng một ngàn đồng cho ai khám phá được việc ấy, và năm trăm đồng (500p) cho ai tìm đặng thây của anh và cháu ông. Giải thưởng vừa công bố, các nhà trinh thám ra công tìm kiếm, thêm các báo ở Sài Gòn, phái người đi xuống Tân An để điều tra cho minh bạch. Cách hai ngày sau vụ án mạng, thì tờ T.L ở Sài Gòn có đăng cái tin ấy nơi trang nhứt như vầy:
1. MỘT VỤ ÁM SÁT VÔ CÙNG BÍ MẬT.
''Cách Châu Thành tỉnh Tân An chừng ba cây số tại làng Bình Tâm có xảy ra án mạng ghê gớm! xưa nay chưa từng thấy. Muốn rõ nguyên do và lai lịch của nạn nhân vốn Báo có phái người xuống tận nơi để điều tra cho minh bạch, hầu cống hiến cho chư độc giả thân yêu khỏi phải phân vân bất nhứt. Nạn nhân là ông Hội Đồng địa hạt Lê Thành Lung, cã tỉnh Tân An ai ai cũng đều biết thầy.Trước khi làm Hội Đồng ông là một giáo viên dạy tại tỉnh, sau sáu năm giáo huấn ông xin nghĩ về nhà để vui thú điền viên.