Trích: LỜI TIÊN TRI CỦA ĐỨC HỘ PHÁP VỀ THỜI CUỘC CỦA VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

(viết tại Nam Vang năm Bính Thân 1956)

………….

“Ai là người đáng tượng trưng cái tổ quốc thật sự ấy?

Ai là người đang ôm cái chủ nghĩa quốc gia với một tấm lòng thanh bạch, với những hy sinh cao quí? Ai là người không phản bội với quyền lợi của tổ quốc, và không đi ngược lại nguyện vọng của nòi giống? Ai có đủ những điều kiện ấy, toàn dân sẽ quí phục, thì sự thành công của Việt Nam cũng tùy thuộc nơi đó. Trải qua mấy thời kỳ lập quốc, các bậc anh hùng đều xuất thân trong hàng dân dã, áo vải, quần bô, ăn không cần no, ngủ không cần yên, nằm gai nếm mật, khắc cốt ghi xương chánh nghĩa của dân tộc để thực hiện cho kỳ được mới thôi. Những tướng lãnh của các nước văn minh, tiên tiến phải chăng là bậc hiền triết tài năng, luôn luôn đem chí cả phụng sự cho nước nhà, mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân và cho đồng loại?

Tượng trưng cho một quốc gia có văn hiến dân tộc, đâu phải là hạng phàm phu tục tử, chỉ biết vui say vật chất, sớm mận, tối đào, nước mất mặc nước, dân khổ mặc dân. Lẽ Trời đã định cho giống Lạc Hồng thâu hồi quyền tự chủ của mình để nở mặt cùng năm châu bốn biển. Một vị Thần Long mách bảo:

Mách cho đó Tây không còn ở,

Giùm làm công một thuở rồi đi.

Rồi đây sẽ có một anh hùng áo vải mà quốc dân đang mong chờ, đứng ra cứu dân, cứu nước. Mặc dầu đi gió về mưa, nhưng nước Việt Nam chưa chắc chắn được toại nguyện. Nhơn vật sẽ bị hao bớt rất nhiều, vì theo luật thiên điều, kẻ làm lành sẽ được sống sót, còn kẻ dữ phải đền tội lỗi. Chánh nghĩa sẽ cứu vãn dân tộc Việt Nam, và sẽ bảo đảm cho dân tộc nầy một tương lai sáng lạng, một địa vị có một không hai trên quả địa cầu nầy.

Cơ tận diệt

Trận đại thế chiến kỳ ba không sao tránh khỏi………..

Trước cảnh sụp đổ tang tóc đau thương ấy, Thần Thánh cũng phải chau mày ứa lệ. Nhưng cơ Trời đã định, con người vì quá độc ác, chủ trương mưu sâu kế độc, giết hại lẫn nhau để tranh đoạt bã vinh hoa, mồi phú quý. Luật sửa phạt không thiên vị một ai, khó mà tránh đặng. Cuộc giết chóc sẽ lan tràn từ Á sang Mỹ với trận bom nguyên tử và khinh khí tích trữ, Nga và Mỹ sẽ hủy diệt các thành phố lớn, các trung tâm kỷ nghệ của đối phương biến đổi trong chốc lát, những nơi thị tứ phồn thịnh ra bãi tha ma hoang vắng. Các nước nhỏ bị ảnh hưởng lôi cuốn trong chiến tranh cũng dẫy đầy tai nạn.

Hòa bình vĩnh viễn

Tạo hóa đã sắp bày, vì muốn lập lại đời Thánh đức cho muôn dân hưởng cảnh thái bình, an cư lạc nghiệp, cho nên mới có cơ thưởng phạt. Thử hỏi: Sau trận thư hùng quyết liệt ấy, Nga và Mỹ sẽ đem lại những gì bổ ích cho chính mình, chớ không nói chi cho nhơn loại? Bại trận như kẻ chết, còn thắng trận cũng như kẻ ngất ngư. Người Nga và Mỹ là hai giống dân tiến bộ nhứt trong nhơn loại sao chẳng xét suy, để cho nhơn loại trên thế giới và cho mình tránh được cơ tận diệt ghê gớm ấy? Vì không thấu triệt cái lý nhiệm mầu của hóa công cho nên thiên hạ mới tự đắc, tự hào với khoa học tối cao của mình, chỉ biết có quyền lợi, chỉ nuôi những tham vọng ích kỷ, xấu xa mà không kể đến cái ác quả sẽ gánh lấy về sau. Cụ Trạng Trình đã có lời tiên tri:

“Mười phần chết bảy còn ba,

Chết hai còn một mới ra thái bình”.

Chiến tranh kỳ ba dứt, còn gì là Nga với Mỹ, còn đâu các nhà lãnh đạo khôn lanh, hăng hái, tranh hơn thua nhau từ lời nói, từ ảnh hưởng nhỏ đến ảnh hưởng to, để rốt cuộc đưa người vào chỗ chết. Hai khối Nga - Mỹ sẽ mạt vận, nhưng trước cảnh rùng rợn của thời hậu chiến, còn ai dám tự xưng “Chỉ có ta đây !”? Còn ai dám đứng ra kết phe lập đảng để tranh hùng tranh bá nữa? Nhứt định không, không có ai cả ! Chỉ còn lại những người sống sót, tỉnh cơn ác mộng, im lìm lo đắp đổi qua ngày, họ sanh nơi đâu ở đó, sống một đời sống thanh đạm giản dị. Thấy rõ chiến tranh là tai hại chừng nào, nên không còn ai điên cuồng gì lại gây ra chiến tranh nữa? Bài học qua rất đắt giá, nhưng nó thức tỉnh được lòng người ít nữa cũng hàng trăm thế kỷ.

Ai sẽ lãnh sứ mạng tiến dẫn năm châu?

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc thấm nhuần đạo đức từ ngàn xưa. Nhờ ảnh hưởng giáo lý của Đức Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca, Chúa Jésus, người Việt có một nền tảng luân lý rất vững chắc, luôn luôn biết thờ Trời kỉnh Phật, sùng bái Thánh, Thần. Người Việt còn biết thương yêu đồng loại như anh em một nhà, như con một cha, mà cha cả là Đức Thượng đế. Mặc dầu có một vài lầm lỗi, nhưng đã biết ăn năn tự hối. Người Việt lo lập công bồi đức, công đức ấy đến hồi đơm bông kết quả, để thưởng công mấy ngàn năm lập quốc, mà không lúc nào được trọn quyền tự chủ. Đức Thượng đế sẽ ban cho giống Lạc Hồng thâu hồi nguyên vẹn quyền tự chủ của mình.

Ai sẽ vạch đường mở lối cho dân tộc Việt Nam? Ai sẽ dìu dắt dân tộc nầy ra khỏi bế tắc?

Nhờ nhà lãnh đạo, dân tộc Việt Nam sẽ mở lối ra cho mình, sẽ tự vạch con đường sống cho mình, thật là một sứ mạng vô cùng khó khăn, một việc làm không tiền khoán hậu. Vì sự thành công oanh liệt đó, mà nước Việt Nam được các nước trên thế giới yêu mến kính phục.

Sau những cuộc thử thách liên tiếp, Thượng đế nhận thấy chí nhẫn nại, lòng đạo đức không dời đổi và óc thông minh khôn khéo của giống Lạc Hồng, nên ban ơn cho giống dân nầy lãnh đạo nhơn loại còn sống sót ở năm châu hầu lập lại một xã hội mới, lấy đạo đức nhơn nghĩa làm căn bản, loài người sẽ hưởng một đời sống yên vui, dưới sự hướng dẫn của nước Việt Nam thuần nhứt, nước ViệtNam muôn đời…

Vì sao Việt Nam được ân huệ lãnh đạo thế giới

Trên 4000 năm lập quốc, nước Việt Nam chưa lúc nào được hoàn toàn tự chủ. Ở gần bên nước Trung Hoa hùng mạnh, mặc dù đã nhiều lần đánh đuổi được kẻ thù, nhưng sau đó muốn yên nhà lợi nước, hàng năm phải đem cống hiến lễ vật. Nhờ đức tính kiên nhẫn và tinh thần bất khuất của giống nòi, người Việt Nam đã viết nên những trang sử oanh liệt, làm chấn động cả thế giới. Vận dụng thế nào để đem lại sự thành công cho dân tộc, ấy là một nhiệm vụ rất gay go, nhưng đó là bí quyết của nhà lãnh đạo. Nhờ thắng được các sự thử thách, người Việt tỏ ra mình có đủ khả năng để giải quyết mọi trở lực. Đức Thượng đế mới giao phó cho sứ mạng dìu dắt thế giới sau nầy.

Thành công với lập trường dân chủ tự quyết

Việt Nam sẽ giúp cho các sắc dân trên mặt đất ứng dụng lập trường ấy cho xứ sở mình, hầu xóa tan những nổi bất công, buộc ràng áp bức, họ được hưởng một đời sống tự do đầy đủ, vui tươi. Các sắc dân sẽ cảm mến dân tộc Việt Nam, xem người Việt Nam như người anh cả (về mặt tinh thần đạo đức nhơn nghĩa). Nhờ đức tính chính đáng mà Việt Nam cảm hóa được thiên hạ.

Sau trận đại thế chiến kỳ ba, hai nước Nga và Mỹ sẽ bị tàn phá tan tành, không còn địa vị nữa. Trung Quốc bị các nhà lãnh đạo Quốc dân đảng dắt đi lầm đường lạc lối, phải một thời gian rất lâu mới gây dựng lại sự nghiệp xưa. Còn Nhựt Bổn là căn cứ của Mỹ ở Thái Bình Dương, hoàn toàn bị sụp đổ dưới lửa bom mưa đạn.

Chỉ có Việt Nam về mặt NHƠN ĐẠO thực hiện được chánh nghĩa. Về THIÊN ĐẠO nêu cao được nhơn nghĩa, bác ái, đại đồng, thuận thiên lý, hợp nhơn tâm, nên nắm giềng mối cho chúng sanh trên mặt địa cầu nầy đời đời, kiếp kiếp…

HỘ PHÁP

(ký tên)

Phạm Công Tắc”

Đức Hộ Pháp tiên tri, thế chiến thứ ba bùng nổ có 2 ý:

1- Phàm chiến: hòa bình bằng bạo lực vũ khí chiến lược, thì kết cuộc của các nước cường quốc sẽ nhận lãnh một hậu quả mất mát đau thương, như lời đã cảnh báo trước.

2- Thánh chiến: xử dụng giải pháp hòa bình bằng thương nghị, đạo đức nhơn nghĩa của dân tộc Việt Nam, vừa trị quốc an dân, giúp cho thế giới được thái bình, thoát khỏi trận dữ đệ tam thế chiến bằng khoa học võ khí hiện đại. Được tiếng là ân nhân của toàn nhơn loại mà thôi:

“Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc,

Ngày sau làm chủ mới lạ kỳ”.

“Thế chiến thứ ba phải nổ, nổ để phục nguyên thánh thể trở lại chớ”. Đó là lời khẳng định của Đức Phật Chuẩn Đề giáo chủ Tây phương Cực lạc (Tây ninh) nhằm cảnh báo các môn đồ tại Viện Đại Học Đạo Tâm năm 1985, thuộc Bí pháp Phạm môn cung Hạo Nhiên Pháp Thiên của Tôn giáo Cao Đài ĐĐTKPĐ, Tòa Thánh Tây Ninh là tổ đình. Phải nổ đặng các nhà lãnh đạo của nước Việt Nam và đại diện của các tôn giáo có cơ hội tiên phong ra phá trận kỳ ba, dụng đức nhơn nghĩa đặng cứu quốc, an dân, bình thiên hạ. Dám hy sinh mình để đánh đổi hạnh phúc cho hàng triệu người, xứng là một bậc Thánh hiền cứu thế, độ nhơn, hành chánh pháp, đáng được nhơn sanh kính phục và tôn tặng. Đúng như lời của Đức Phật Chuẩn Đề cảnh giác “không phải tự xưng hay vạn linh tôn, mà thiêng liêng cho xuất hiện do sở hành, hữu hình nhìn nhận”, phải “tận nhơn lực mới tri thiên mạng” là vậy. Các đấng Thánh trên toàn thế giới, được “Đức Lý vâng lịnh Ngọc Hư (Đức Chí Tôn) nay xuống thế, Tam kỳ độ rổi ức nguyên nhân”: lần lượt cho xuất hiện hành tàng lấy tâm ưu ái trừ thù hận, lấy lòng quãng đại xóa bỏ tâm lý hẹp hòi, ngăn chận và tưới tắt ngọn lửa Đệ Tam Thế Chiến trên mặt địa cầu nầy. Lập lại một trật tự thế giới mới, thi hành nhơn nghĩa tiến đến thái bình, tự trị, thiên hạ đại đồng.

Thay vì Đệ Tam Thế Chiến bùng nổ, các nước liệt cường cũng mượn màu hòa bình nhơn nghĩa, họ xử dụng vũ khí chiến lược để đổi lấy xương máu của nhơn sanh mà lập đài vinh dự, cho thỏa mãn dục vọng điên cuồng, thú tính của đời cũng như đệ nhứt và đệ nhị thế chiến vừa qua. Trái lại, Đệ Tam Thế Chiến là cái bẩy rập bí pháp thế đạo của Đức Lý, đã gài sẵn tại vùng biển Đông Việt Nam để giúp cho đời thành đạo. Chờ chừng nào nhơn loại đứng bên bờ vực thẳm thế chiến kỳ ba, cũng là lúc THẾ CHIẾN làm phương tiện cho THÁNH CHIẾN xuất hiện. Đã đến ngày giờ Đức Lý phân định: 365 chư Thánh lần lượt xuất hiện để cứu thế, độ nhơn, hành chánh pháp trong tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, ngăn chặn ngọn lửa bạo lực chiến tranh sát hại con người bằng vũ khí khoa học hiện đại. Những đấng Thánh ấy, hy sinh mình để đánh đổi đem lại hạnh phúc cho hàng triệu người… cũng như những bậc hiền triết dám hủy mình vì lý tưởng ấy mà lưu danh ư hậu thế. Mới gọi thiêng liêng cho xuất hiện do nơi sở hành, có nhơn sanh nhìn nhận cái công đức phụng sự cho nhơn quần xã hội, gọi là đắc thế, tam bửu hiệp nhứt rồi đó vậy.

Trên mặt trận trí binh “đạo đức nhơn nghĩa”, chư Thánh muốn hóa giải Đệ Tam Thế Chiến buộc phải nhất quán: tinh, khí, thần hiệp nhứt. Thánh chiến (đạo) gọi Tam bửu hiệp nhứt là đạt đạo, ngũ khí trở về chơn nhứt khí. Đồng luyện vớiThế chiến (đời) gọi tam quyền thống nhất.

Bỉnh quyền thống nhứt: Tổng Bí Thư + Chủ Tịch nước + Thủ Tướng Chính phủ.

Trước cửa đại hội đảng 12.Ai là một bậc anh hào tuấn kiệt để xứng đáng BỈNH QUYỀN THỐNG NHỨT cầm vận mạng tổ quốc Việt Nam? Có nghĩa một người nắm cả 3 quyền lực: Tổng Bí Thư + Chủ Tịch nước + Thủ tướng Chính phủ, mà từ hàng trăm năm nay trên toàn thế giới rất hiếm có một hiến pháp của nước nào định như thế. Dầu cho một vị Đế vương thay trời hành đạo của thời phong kiến cách đây trên 2000 năm, như Tần Thủy Hoàng…và các vì vua Trung Hoa và Việt Nam cũng chưa đủ năng lực bỉnh quyền cao trọng ấy.

Khương Thượng bỉnh quyền thời Tiểu Phong Thần, Trung Hoa.

Duy chỉ có Khương Thượng đời nhà Châu thời Phong Thần Trung Hoa, được Vua ban bỉnh quyền ấy. Quyền Vualàm thầy toàn dân trong nước, hiện nay là Chủ Tịch nước. Dưới Vua, trên hàng vạn người là Quân Sư đối với Tổng Bí Thư (có Khương Thượng được Châu Văn Vương nhận làm Quân sư). Điều binh khiển Tướng khi ra trận có Tướng soái được Vua ban cầm ấn soái nguyên nhung. Đến đời con của Văn Vương là Võ Vương, Khương Thượng được phong làm Quân Sư vừa thống lãnh đại binh quyền Tướng soái cầm binh ra trận, thu phục 800 trấn chư hầu, hưng Châu phạt Trụ, trên thế giới hiện nay là Thủ Tướng Chính phủ lo về đối nội và đối ngoại.

Sau khi phạt Trụ, đất nước thái bình.Châu Võ Vương,ânphong cho đẹp lòng các tôi có công trận. Trong 27 nước lớn của thời nhà Châu Trung Hoa, Khương Thượng được phong Hầu nước Tề. Nguyên thuở trước, Ông là cháu vua Thần nông tự Bách, gọi là Tứ Nhạc, vốn họ Lữ. Vì phong làm Lữ Hầu nên lấy nước làm họ. Lại có công trị thủy nên cho theo họ Khương. Bởi vậy nên có hai họ, Khương Thượng tên tộc là Vọng, nên gọi là Lữ Vọng. Nay được phong Tề Hầu, lại được chức Thái Công nên đời sau gọi là Thái Công Vọng, nước Tề thuộc tỉnh Sơn đông, Huyễn huyện, lớn hơn các nước chư hầu khác. Được Võ Vương ban cho cung nữ, ngọc ngà châu báu, búa Việt cờ Mao, được quyền chinh phạt về nước Tề cai trị, làm Vua một cõi (Chủ Tịch nước), hưởng phúc thái bình.

Đại Phong Thần còn gọi là Đệ Tam Thế Chiến

Tiểu phong thần (chỉ riêng một nước Trung hoa) trước kia, lo tu thân, rồi tề gia, dùng đẳng cấp Thần để hóa độ người (lấy đạo đức nhơn nghĩa dạy bạn > đối phẩm đạo Cao Đài là Lễ sanh=Thiên Thần). Nay tái diễn, gọi là đại phong thần (lo cho các nước trên toàn thế giới) tức phong Thánh kỳ ba, phải lấy Thánh thu phục Thần, trị quốc, an dân, bình thiên hạ (thi hành nhơn nghĩa thay thầy làm thầy thiên hạ để dạy bạn>đối phẩm Cao Đài là giáo sư = nhơn Thánh, hoặc giáo hữu= địa Thánh). Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, cũng từ con người biết: ưu nhơn, ái vật, cải thiện dân sinh, làm cho đại đồng thiên hạ mà đoạt phẩm vị đạo đức nhơn nghĩa tại mặt thế gian nầy. Cho nên, đứng trước ngòi nổ Đệ Tam Thế Chiến tại vùng biển Đông Việt Nam, rồi đây sẽ lan rộng khắp hoàn cầu. Trễ một ngày, hại cho nhơn sanh đang đứng bên bờ hố lửa chiến tranh, cho nên Ngọc Hư Cung (ý toàn dân là ý trời) buộc Khương Thượng, là chơn khí của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thiêng liêng cho xuất hiện do sở hành bỉnh quyền nhứt thống, tái diễn lại như thời tiểu Phong Thần Trung Hoa: 1- Quân Sư = Tổng Bí Thư. 2- quyền Vua = Chủ Tịch nước. 3- Tướng soái = Thủ Tướng Chính Phủ. Phải hội đủ 3 quyền hiệp nhứt mới thu phục tâm lý của 18 nước chư hầu, lấy chánh nghĩa là linh hồn của dân tộc Việt tại diễn đàn Tòa Án Công Lý Quốc Tế. Cùng nhau hóa giải, ngăn chặn ngòi nổ Đệ Tam Thế Chiến tại vùng biển Đông Nam Châu Á Thái Bình Dương. Đem lại yên bình, hạnh phúc cho toàn nhơn loại.

Bỉnh quyền: tam bửu hiệp nhứt, trong đạo Cao Đài

Trong đạo Cao Đài có 2 vị Giáo chủ: Đức Hộ Pháp và Đức Hiến Pháp, chưởng quản nhị hữu hình đài: Hiệp Thiên Đài(đạo) và Cửu Trùng Đài (đời). Hiến pháp của đạo vừa có can và nhu, bởi nhu trong can và can trong nhu. Trong tinh thần của Hiệp Thiên đài, Đức Hộ Pháp và Đức Hiến Pháp sở dụng thiêng liêng (đạo) và sở dụng phàm trần (đời), để giáo hóa nhơn sanh thi hành NHƠN NGHĨA. Dụng pháp Thái Cực, phân Lưỡng Nghi, tỏa ra Tứ Tượng, định hình Bát Quái của đạo Nho mà chuyển thế. Lấy tinh thần thương yêu để chấn hưng phật đạo Tam kỳ. Khôn ngoan sáng suốt Tiên giáo là kho chí bửu của một tướng soái, ra trận thắng với danh nhơn nghĩa.

Duy chỉ có 2 đấng Thiên tài, như Đức Hộ pháp cầm quyền thống nhứt và Đức Hiến Pháp cầm quyền nhứt thống, khi chưa có phẩm Đầu Sư chánh vị tại Cửu Trùng Đài.

Cửu Trùng Đài có 3 phẩm vị tối cao thuộc hàng thượng thừa là: GIÁO TÔNG (thiên tiên) – CHƯỞNG PHÁP (nhơn tiên) – ĐẦU SƯ (địa tiên). Trong khi, pháp chánh đã định: “Chưởng Pháp cũng là Giáo Tông, mà còn trọng hệ hơn vì người thay mặt cho Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Đài”. Hơn nữa “Chưởng Pháp là người của Hiệp Thiên Đài mà phẩm vị ở bên Cửu Trùng Đài”.

Nhị vị, thể thiên hành hóa, thay trời hành đạo bỉnh quyền vô đối:

1- THẦN: thuộc Phật, thay Trời (Chí Tôn gọi cha) hành đạo: nắm Bát Hồn thuộc chủ quyền tinh thần đạo đức của toàn nhơn loại là Bát quái đài. Chủ chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại thế.

●Với đời gọi là quyền Tổng Bí Thư lãnh đạo đảng.

2- KHÍ: thuộc Pháp, thể Thiên (Phật mẫu gọi mẹ)hành hóa: chủ về Pháp, nắm chính trị và luật lệ, bảo thủ chơn truyền chánh pháp, Chưởng quản Chánh vị Hội Thánh Hiệp Thiên Đài.

● Đối với quyền của đời là Chủ Tịch nước.

3- TINH: thuộc Tăng tức Hội Thánh Cửu Trùng Đài ra thiệt tướng (Nguyên nhân còn gọi tín đồ là con), cơ quan hành chánh trị đạo, vừa đối nội và đối ngoại có Hội Thánh Ngoại giáo.

● Tương liên với quyền đời là Thủ Tướng Chính Phủ của một nước.

Từ nhứt kỳ và nhị kỳ, các vì giáo chủ của các tôn giáo cũng chưa đủ năng lực bỉnh quyền thống nhứt, sau khi các vì giáo chủ thoát xác không có chơn truyền bí pháp, nên thất pháp. Cũng như chúa Jésus Christ, than với các Thánh tông đồ về bí pháp chơn truyền: “Có nhiều lý lẽ cao siêu ta chưa có thể nói với các người đặng, dầu ta có nói các người cũng chưa hiểu”.

Vì cớ, bí pháp chơn truyền của Công giáo không có, không có thể có. Bởi bí pháp, theo lời Đức Chúa Jésus Christ  thì  buổi nọ bí pháp Chơn  truyền của Ngài chưa có thể gì nói cho thiên hạ nghe đặng. Cho nên, các môn đồ không được chân truyền thì làm sao xuất hiện cơ quan cứu thế, để hóa giải trận dữ ra tay cứu khổ toàn thiên hạ. Cuối cùng đệ nhứt và đệ nhị thế chiến xảy ra là vậy. Đến Tam kỳ Đại đạo, các vì giáo chủ bỉnh quyền thống nhứt mới đủ năng lực nắm “Cung Chưởng Pháp xây quyền Tạo hóa”. Cầm Bí pháp chơn truyền là cơ quan cứu thế đặng hóa giải Đệ Tam Thế Chiến, cho ra thiệt tướng thế giới cực lạc, thiên đàng tại mặt thế gian nầy.

Nếu không thành, để đệ tam thế chiến xảy ra, xem như sứ mạng tôn giáo Cao Đài, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: lấy Phật giáo chấn hưng, Nho tông chuyển thế, Tiên thi hành chánh pháp, trong buổi hạ ngươn mạt kiếp này cũng thất pháp. Có nghĩa không hoàn thành sứ mạng như nhứt kỳ và nhị kỳ trước kia. Bởi vì, không ngăn chặn được tai họa đệ tam thế chiến xảy ra sát hại vô số sinh mạng con người vô tội, trước sức tàn phá thảm khóc còn tồi tệ hơn đệ nhứt và đệ nhị thế chiến vừa qua.

Bỉnh quyền thống nhứt, tại Đại Hội Đảng 12. Nhiệm kỳ 2016-2020

Đại Hội Đảng 12, số 12 là con số của Thầy tức quyền của Ngọc Hư Cung định luật, là Cung nắm chính trị càn khôn thế giới. Có nghĩa với bí pháp chân truyền, Thượng đế cho quyền vạn linh đối thủ cùng Ngài ở trong giai đoạn thể pháp từ lúc ban sơ khai đạo. Nhưng đến chơn đạo, từ năm 2012 đến sau này… “Đức Lý vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế”, cho quyền toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu nầy đối thủ cùng quyền của Ngài tại thế, tức ý dân là ý trời, thiên thượng thiên hạ trời người đồng trị.

Để quyết định vận mạng vinh hay nhục của tổ quốc Việt Nam, bị gài vào ngòi nổ của bạo lực chiến tranh Đệ Tam Thế Chiến, tại vùng biển Đông Nam Châu Á Thái Bình Dương. Vậy ai mới là người xứng đáng lãnh sứ mạng cứu quốc, an dân, bình thiên hạ, trước Đệ Tam Thế Chiến, mà ngòi nổ là 2 quần đảo Hoàng sa - Trường sa của dân tộc Việt và toàn nhơn loại, đã tin tưởng giao tận tay vị ấy? Bằng trí tài mưu lược trên tinh thần đạo đức NHƠN NGHĨA, hóa giải thắng bảng phong Thánh kỳ ba, làm cơ quan cứu thế, tự cứu mình được mới cứu toàn nhơn loại được, để lập lại đời Thánh đức? Vị ấy, chính là Tướng soái nhà Nam Nguyễn Tấn Dũng đó vậy.

Chơn khí (sở hành) của Ngài là Khương Thượng đệ tử Ngọc Hư Cung, được thầy là Ngươn Thủy cho phục sinh xuống thế thi hành thiên mạng, thay thầy đặng làm anh cả thiên hạ “quyền huynh thế phụ”. Nắm chủ quyền đạo là Giáo Tông, đối với đời là Tổng Bí Thư. Lãnh đạo về mặt tinh thần đạo đức nhơn nghĩa. Trước khi ra trận được thầy giao cho 3 bửu bối yếu trọng:

1- Cờ Hạnh Huỳnh Kỳ: Bảo sanh Nhơn Nghĩa đại đồng: ưu nhân, ái vật, cải thiện dân sinh, làm cho đại đồng thiên hạ.

2- Roi đã thần Tiên: để trừng trị những kẻ lấp lửng mơ hồ, sái loạn chơn truyền chánh pháp, ỷ công khi lịnh, phải quân pháp bất vị thân, kể cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cũng phải cuối đầu được quyền tiền trảm hậu tấu, để mưu cầu thắng lợi khi cầm binh ra trận (với đạo là quyền Chưởng Pháp; còn đời là Chủ Tịch nước).

3- Lập bảng phong Thánh kỳ ba: quyền đạo là Đầu Sư; đời là Thủ Tướng. Đủ 366 vị xuất hiện hành tàng trên toàn thế giới, có công hóa giải Đệ Tam Thế Chiến trên mặt trận trí binh “đem nhơn nghĩa thắng bạo tàn. Lấy chí nhân thay cường bạo” giúp cho nhơn loại hưởng cảnh thái bình, hạnh phúc.

Hỏi thật, ai dám ký hứa trước Đảng và toàn thể quốc dân Việt Nam rằng tôi đủ khả năng mở ngòi nổ biển Đông, tức lấy lại 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa cho quốc dân Việt Nam? vừa hóa giải Đệ Tam Thế Chiến bằng vũ khí hiện đại, giúp cho nhơn loại trên thế giới thoát khỏi khổ nạn chiến tranh tương tàn, hưởng cảnh an bình? Cuối cùng hát khúc khải hoàn ca, tức quyết định chương trình Long Hoa Đại Hội tại Bạch Ngọc Kinh Tòa Thánh Tây Ninh, trong 4 năm (2016-2020) phải thành sự thật? Nếu chư hiền xét thấy quá sức, vì đại nghiệp chung ai cũng được hưởng phần hương quả tốt. Thôi thì đồng công cử, cũng có thể nói khẻ với nhau rằng: buộc Tướng soái nhà Nam Nguyễn Tấn Dũng mà Ngọc Hư Cung (ý dân là ý trời) đã định sẵn, gọi là thiên mạng, đứng ra gánh vác trách nhiệm với toàn nhơn loại (thiên hạ) hóa giải thế chiến kỳ ba.

Quả thật, ông có muốn lãnh một nhiệm vụ vô cùng khó khăn như vậy đâu? Cho nên Đức Ngươn Thủy mới nói: “có những kẻ muốn thì lại khác (không được), còn không muốn (bị buộc) thì lại khác là vậy”. Đầu xuân năm 1985 tại cung Phật Hạo Nhiên Pháp Thiên, Đức Chuẩn đề Bồ tát giáo chủ Tây Phương Cực Lạc, cảnh báo các môn đồ: “không phải tự xưng hay vạn linh tôn, mà thiêng liêng cho xuất hiện do sở hành, hữu hình nhìn nhận”, Ông khẳng định: “hể muốn phải làm cho được, còn không được thì mang tội. Coi chừng ông Thánh thiệt đánh bể đầu”.

……………………………………

“Cơ chuyển thế khó khăn lắm nỗi,

Mượn Thánhân xây đổi cơ Đời.

Thuận nhơn tâm ắt thuận Trời,

Câu kinh VôTự độ người thiện duyên.

Nguyện Ơn Trên cho yên trí não,

Nguyện Phật, Tiên dạy bảo chơn linh.

Mang danh HộiThánh đã đành,

Nâng tay nhục thể xây hình ChíTôn”.

Vậy mong rằng các vị anh hào nhân sĩ, đứng trước cửa đại hội ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 nhiệm kỳ 2016-2020 tới đây. Tự xét mình cho kỷ, đứng trước vận mạng của tổ quốc Việt Nam có liên quan đến chiến tranh hay hòa bình đối với sự sống còn của dân tộc Việt và nhơn loại trên toàn thế giới. Đang chờ chực bên bờ hố lửa Đệ Tam Thế Chiến, mà ngòi nổ là 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong hải phận Việt Nam. Hãy lấy tinh thần đại nghĩa văn hiến 4000 năm của giống dân Lạc Hồng làm gốc. Tự thân: dựng nước và giữ nước.

“Văn hiến bốn ngàn năm có sẵn,

Chi cần dị chủng đến dâng công”.

Tam quyền, phân lập

1- TỔNG BÍ THƯ:Thay thế tinh thần đại nghĩa của toàn thể giống dân Lạc Hồng văn hiến 4000 năm.

2- CHỦ TỊCH NƯỚC:“Không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào để chống lại một quốc gia khác”. Tự thân cầm binh ra trận mở cái bẩy rập biển Đông đang dậy sóng, mà ngòi nổ là 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của dân tộc Việt Nam trong hải phận Việt Nam, hiện đàn anh Trung Quốc ỷ mạnh hiếp yếu đang mưu đồ chiếm đoạt. Phải lấy lại cho bằng được, không thể cái phước mình hưởng còn cái họa vong quốc ô nhục để cho đời sau gánh chịu. Quả thật nhu nhược, bất công.

3- THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ:Ai mới có tinh thần đại nghĩa ấy, thay dân cứu nước mở bẩy rập biển Đông, gỡ ngòi nổ của thế chiến thứ ba, có nghĩa lấy lại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho dân tộc Việt Nam từ tay ông anh Trung Quốc tham lam, khó tính? Kết cuộc rồi Việt Nam - Trung Quốc và cả thảy các sắc dân trên toàn thế giới, cũng đều là anh em thiêng liêng ruột thịt trong tình yêu thương, hòa bình, nhân nghĩa, đại đồng. Mới là chân lý sống, vĩnh cửu trường tồn.

Vị đó là ai? Tướng soái hòa bình thương nghị của kỷ nguyên 21, đương quyền (2015) là Thủ Tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đó vậy. Chơn khí của Ông là Khương Thượng đệ tử của Ngọc Hư Cung, Ông được Đức Ngươn Thủy giao xuống núi, đến Tây Kỳ lập bảng Phong Thần “Hưng Châu phạt Trụ”. Được đại đa số nhân dân Việt Nam từ trong ra ngoài nước tin tưởng và ủng hộ. Có cả bạn bè trên thế giới ca ngợi và tôn tặng một nhà ngoại giao tài ba thao lược, từ hòa, vững tâm, bền chí, vượt mọi khó khăn để tiến đến thành công.

Nếu được vậy, Tướng soái nhà Nam Nguyễn Tấn Dũng phải lãnh một sứ mạng mà dân tộc Việt Nam và bạn đồng sanh khắp năm Châu tin tưởng giao phó. Ngày giờ ấy, Ông cầm chắc chiếc chìa khóa mở bẩy rập biển Đông, tại diễn đàn Tòa Án Công Lý Quốc Tế, xứng là anh cả đại diện linh hồn đại nghĩa của dân tộc Việt, đứng đầu 365 chư Thần (giống dân Thần thông nhơn, có nghĩa làm đúng ý Trời tức Thần bằng đạo đức nhơn nghĩa). Phục sinh trên tinh thần HỘI THÁNH QUỐC ĐẠO NAM PHONG VIỆT NAM để tự cứu mình.

Được sự tiến dẫn của chị cả Long Nữ, con gái út cưng của vua Long vương vùng biển Đông Nam Châu Á Thái Bình Dương, là đệ tử của Phật Quan Âm đến mở cửa Tòa Án Công Lý Quốc Tế. Rồi giao tận tay cho Ông anh cả Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, chiếc chìa khóa nhơn nghĩa cho ra thiệt tướng HỘI THÁNH ĐẠI ĐẠO HÒA BÌNH THẾ GIỚI, là cơ quan cứu thế toàn nhơn loại. Hóa giải, ngăn chặn vừa tưới tắt bạo lực Đệ Tam Thế Chiến đem lại hòa bình thế giới.

HỘI THÁNH QUỐC ĐẠO NAM PHONG VIỆT NAM

Cả thảy 365 chư Thần, là những người dân Việt Nam ưu tú, có tinh thần đại nghĩa, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, đảng phái… .Gương mẫu trong 90 triệu dân, tương đối vẹn giữ: Trung với nước, hiếu với linh hồn dân tộc, nghĩa với bạn đồng sanh. Được sự thương yêu và tuyển chọn công bằng, của ông anh cả đạt phẩm vị Thánh đầu tiên trên thế giới, là tướng soái nhà Nam Nguyễn Tấn Dũng. Đứng đầu HỘI THÁNH QUỐC ĐẠO NAM PHONG VIỆT NAM, để tạo thành một nội lực đủ chiến thắng phất cờ nhơn nghĩa khi ra trận.

Trước tiên, nhằm mục đích:

1- bào chửa và làm minh chứng đối với quốc tế rằng: nước Việt Nam chúng tôi có: tự do tôn giáo và nhân quyền. Từ ngày 15 tháng 11năm 2004, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực thi hành sau khi được quốc hội thông qua.

2- đất nước Việt Nam và 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của dân tộc Việt Nam nói riêng. Dầu cho chủ nghĩa tư bản hay cộng sản có cùng với danh từ Nhà nước là giai cấp thống trị, chỉ có bổn phận đại diện thay mặt toàn dân để bảo vệ và gìn giữ gia sản cho dân mà thôi.

- Việt Nam Cộng Hòa

Với trách nhiệm yếu trọng đó, nếu để mất nước thì Nhà nước sẽ mang tội với dân tộc Việt Nam. Ví như, Việt Nam Cộng Hòa đã để mất hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa vào tay Trung Quốc năm 1974. Đến ngày 30-4-1975 VNCH lại bất lực, chạy thoát thân bỏ lại miền nam cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa miền bắc quản lý.

- Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Biển Đông Việt Nam dậy sóng từ năm 2012 đến nay, là ngòi nổ để quyết định vận mệnh của cả một chủ nghĩa tinh thần dân tộc tự quyết, tổ quốc Việt Nam còn hay mất, tự do hay nô lệ vào tay Trung Quốc trong đệ tam thế chiến lần này. Quốc loạn thức tôi trung, tướng soái cầm binh ra trận hễ thắng thì có công, kẻ bại trận phải tự thú tội mình trước tổ quốc và dân tộc Việt. Còn phải bị xóa tên trên bản đồ thế giới nữa kìa.

Theo bài viết "Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam" đăng trên báo Đại Đoàn Kết.Toàn văn công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai như sau:

“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Ngày 22 tháng 9 năm 1958, công hàm trên của thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được đăng trên báo Nhân Dân. Vào năm 1977, Phạm Văn Đồng cho biết lý do vì sao ký công hàm này: “Đó là thời chiến phải làm như vậy”. Đúng như cán bộ ngoại giao CSVN Lưu Văn Lợi và cựu Bộ trưởng ngoại giao CSVN Nguyễn Mạnh Cầm giải thích rằng khi đó, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) đã coi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc của họ mà là thuộc lãnh thổ của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam) vì nước ta chia đôi ở vĩ tuyến 17 qua Hiệp định Genève năm 1954.

● Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của toàn thể dân tộc Việt Nam, chớ không phải của riêng ông Phạm Văn Đồng qua công hàm 1958. Ông chỉ có trách nhiệm gìn giữ sinh mạng và tài sản cho dân, nếu thấy bất lực thì từ chức, giao cho người khác đảm trách. Nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó. Hơn nữa năm 1958, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh hải của dân miền Nam Việt Nam, giao cho chính phủ VNCH gìn giữ, chớ không giao cho ông VNDCCH. Lúc ấy ông muốn mượn gậy của ông là Trung Quốc để đập vào lưng của anh em ông ở miền Nam VNCH để hưởng lợi riêng. Nào ngờ ngày giờ nầy, VNDCCH đã thống nhất đất nước, cũng chính cây gậy bành trướng phương Bắc ấy, đập ngược vào đầu đàn em VNDCCH của ông tại vùng biển Đông. Quả thật, cái phước đời trước hưởng, để đời sau gánh chịu cái tội nhu nhược, bất lực, lưu vào một trang sử ô nhục trước dân tộc Việt Nam và thế giới.

Đâu là giải pháp cho hòa bình Biển Đông? “DOC có gì khác biệt với COC?

Nhằm giúp kiểm soát khả năng bùng nổ xung đột vũ trang ở Biển Đông, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) gần đây đã ráo riết thuyết phục Trung Quốc tiến tới ký kết một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) nhằm thay thế cho Tuyên bố về cách ứng xử (DOC) của các bên ở Biển Đông được ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002.

Các cuộc đàm phán về COC từ lâu đã bị trì hoãn bởi Trung Quốc không muốn bị một bộ Quy tắc ứng xử như vậy trói buộc và hạn chế hành động trên Biển Đông. Tuy nhiên, trong thời gian qua, dường như Trung Quốc có dấu hiệu xuống nước và các cuộc đàm phán đã đạt được những tiến bộ khả quan hơn. COC tiếp tục sẽ là chủ đề quan trọng trong chương trình nghị sự của hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Bali tuần này. Trước đó, hãng tin Kyodo dẫn dự thảo thông cáo chung của hội nghị cho biết ASEAN và Trung Quốc dự kiến ​​sẽ hoàn tất dự thảo COC trước hội nghị thượng đỉnh ASEAN vào tháng 11 năm nay nhằm đánh dấu kỷ niệm 20 năm quan hệ đối thoại ASEAN-Trung Quốc. Lý do quan trọng khiến ASEAN kiên trì theo đuổi COC về Biển Đông với Trung Quốc là bởi COC lâu nay vẫn được cho là có giá trị ràng buộc pháp lý cao hơn so với DOC, vốn chỉ là một tuyên bố thể hiện ý chí chính trị hơn là cam kết pháp lý của các bên tham gia. ASEAN hy vọng rằng một Bộ quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc pháp lý cao hơn sẽ khuyến khích Trung Quốc không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Giá trị pháp lý của COC

Tuy nhiên, trong khi thuyết phục Trung Quốc chịu đàm phán và ký kết COC là một nhiệm vụ khó nhọc cho ASEAN, thì bản thân COC có thể sẽ không tạo nên khác biệt lớn trên thực tế trong việc giúp các nước ASEAN đối phó thành công với người láng giềng khổng lồ của mình trên Biển Đông. Lập luận cho rằng COC có giá trị pháp lý ràng buộc cao hơn so với DOC cũng không thực sự vững chắc.

Thứ nhất, khái niệm COC chủ yếu áp dụng đối với tổ chức, chẳng hạn như các cơ quan chính phủ hoặc các tập đoàn đa quốc gia, mặc dù một số lập luận cho rằng COC cho các cá nhân và tổ chức cũng có thể được áp dụng đối với cộng đồng quốc tế thông qua hình thức COC giữa các quốc gia với nhau. Điều này về cơ bản biến các COC trở thành một trong những nguồn của công pháp quốc tế. Trên thực tế, một số COC giữa các quốc gia đã được hình thành, chẳng hạn như Bộ quy tắc ứng xử về đánh cá có trách nhiệm của FAO năm 1995 hay Bộ quy tắc ứng xử La Haye về chống phổ biến tên lửa đạn đạo năm 2002. Tuy nhiên, các COC này vẫn chỉ được coi là "luật mềm", hay các văn bản quy phạm không mang tính ràng buộc.

Thứ hai, hiện tại các văn kiện pháp lý về điều ước quốc tế, đặc biệt là Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969, không đề cập đến giá trị pháp lý của COC. Tương tự, pháp luật quốc gia cũng bỏ ngỏ vấn đề này. Ví dụ, Luật Ký kết, Gia nhập và Thực hiện Điều ước quốc tế năm 2005 của Việt Nam thậm chí không đề cập đến COC, chứ chưa nói đến giá trị pháp lý của chúng. Luật pháp quốc gia của Trung Quốc và các nước ASEAN khác cũng không xem COC như là một nguồn nghĩa vụ pháp lý quốc tế của họ.

Thứ ba, do có giá trị pháp lý không rõ ràng, việc thực hiện COC cũng có thể gặp phải các thách thức về mặt kỹ thuật. Ngay cả khi Trung Quốc chịu ký kết COC về Biển Đông nước này vẫn có thể biện minh cho việc vi phạm COC sau này bằng cách tuyên bố rằng luật pháp quốc gia của Trung Quốc không công nhận COC như là một nguồn nghĩa vụ pháp lý quốc tế của quốc gia này.

COC: Giải pháp cho hòa bình Biển Đông?

Trong bối cảnh đó, một câu hỏi cần đặt ra là: Tại sao ASEAN phải đầu tư công sức cho một COC có thể không mang lại nhiều hiệu quả hơn là bao so với DOC trong việc kiềm chế tham vọng của Trung Quốc và đảm bảo nước này tôn trọng cam kết giải quyết hòa bình các tranh chấp? Có thể thấy, ASEAN có một số lý do chính như sau trong việc theo đuổi COC:

Thứ nhất, ngay cả khi COC không có giá trị ràng buộc pháp lý cao thì việc cho ra đời COC vẫn có những giá trị tích cực, nhất là đối với các nước tranh chấp thuộc ASEAN. Như một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra, COC sẽ giúp tiếp tục xây dựng lòng tin, thúc đẩy hòa bình, ổn định, khuyến khích hợp tác khai thác và quản lý Biển Đông một cách hòa bình, tối ưu, phù hợp với các quy định luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển 1982. Ngoài ra, trên nền tảng kế thừa DOC, COC có thể bổ sung các quy định giúp xác định rõ những hành vi không được phép ở Biển Đông, cũng như những điều kiện và cơ chế thích hợp cho phép ngăn ngừa vũ lực, giảm thiểu căng thẳng khi nảy sinh đụng độ như trong vụ Bình Minh 02 ngày 26/5/2011 vừa qua.

Thứ hai, việc thuyết phục được Trung Quốc ký kết COC sẽ là một thắng lợi chính trị đối với các nước ASEAN, bởi lẽ văn kiện này do chính ASEAN khởi xướng. Điều này giúp ASEAN thể hiện vai trò chủ động của mình trong giải quyết tranh chấp Biển Đông cũng như đảm bảo hòa bình, an ninh và ổn định của khu vực.

Thứ ba, việc thông qua được COC sẽ là một chỉ dấu cho thấy cách tiếp cận đa phương là một giải pháp khả thi nhằm quản lý xung đột Biển Đông. Điều này giúp các nước tranh chấp thuộc ASEAN có lý do để bác bỏ cách tiếp cận song phương mà Trung Quốc đang một mực theo đuổi.

Hiệp ước Biển Đông?

Tuy nhiên, bất chấp những thực tế trên, xét một cách tổng thể, việc thông qua COC sẽ không thực sự có ý nghĩa nếu như Trung Quốc tiếp tục không tôn trọng COC như đã từng làm đối với DOC. Chính vì vậy, để ràng buộc Trung Quốc vào luật chơi chung mang tính hòa bình, ASEAN cần hướng tới một văn kiện có tính ràng buộc pháp lý cao hơn so với COC. Giải pháp đơn giản nhất chính là thay vì dựa vào COC nhằm hóa giải mối đe dọa từ Trung Quốc, ASEAN cần hướng tới một Hiệp ước về ứng xử của các bên ở Biển Đông. Một hiệp ước quốc tế rõ ràng có giá trị ràng buộc pháp lý cao hơn hẳn so với COC hay DOC, đồng thời sẽ gây nên ít vấn đề kỹ thuật hơn trong quá trình thực hiện.

Một hiệp ước như vậy có thể sử dụng Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ở Đông Nam Á năm 1976, về bản chất cũng là một hiệp ước điều chỉnh hành vi giữa các quốc gia Đông Nam Á với nhau, như là một mô hình tham khảo. Hiệp ước này theo đó có thể được đặt tên là "Hiệp ước về Hòa bình và Thịnh vượng ở Biển Đông”. Sẽ có lập luận cho rằng thúc đẩy một hiệp ước như vậy trong bối cảnh hiện nay là không thực tế, vì Trung Quốc thậm chí còn không hào hứng với một COC vốn có tính ràng buộc thấp hơn. Trong trường hợp đó, COC có thể đóng vai trò như một bước đệm. ASEAN cần đưa Hiệp ước về ứng xử của các bên ở Biển Đông vào tầm nhìn dài hạn của mình và thiết lập một lộ trình hướng tới mục tiêu này. Ngay cả khi Trung Quốc chống lại một hiệp ước như vậy thì các nước thành viên ASEAN vẫn có thể đàm phán và ký kết hiệp ước này với nhau, sau đó mở cho các bên quan tâm khác tham gia.

Một khi các nước khác trong khu vực, chẳng hạn như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Australia và Ấn Độ, đã tham gia hiệp ước, Trung Quốc sẽ chịu áp lực rất lớn nếu đứng ngoài. Rốt cuộc, một hiệp ước về ứng xử của các bên ở Biển Đông mặc dù có thể gặp nhiều khó khăn và phức tạp hơn trong quá trình đàm phán, nhưng sẽ mang lại giá trị vững chắc và lâu dài hơn so với COC trong việc đảm bảo hòa bình ở Biển Đông trước mối đe dọa ngày càng lớn từ Trung Quốc.

Vấn đề bây giờ chủ yếu thuộc về các nước thành viên ASEAN vốn vẫn đang tỏ ra bị chia rẽ trong việc cần phải đối phó như thế nào với người hàng xóm khổng lồ phương Bắc của mình”.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Lê Hồng Hiệp, hiện đang là Giảng viên Khoa Quan hệ quốc tế, ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia TPHCM, và hiện là Nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành Khoa học chính trị tại Đại học New South Wales, Australia.

Ai mở ngòi nổ của bẩy rập biển Đông đang dậy sóng?

Đứng trước cái bẩy rập biển Đông, 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nammỗi ngày bị gài vào thế bí vũ lực chiến tranh bùng nổ không xa. Trích một số minh chứng nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước ủng hộ, được đăng trên mạng internet, năm 2015 như sau:

- “trong thực tế, ông Nguyễn Tấn Dũng đang dương cao ngọn cờ BẢO VỆ TOÀN VẸN LÃNH THỔ TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ ÔNG ĐANG ĐƯỢC NHÂN DÂN VIỆT NAM ỦNG HỘ thì hoàn toàn đúng. Vậy chúng ta hãy ủng hộ ông.

- Hãy tin tưởng tín nhiệm ủng hộ Ông DŨNG .Vì dân chúng tôi không có quyền bỏ phiếu cho ông DŨNG . Nếu như dân BẦU CHẮC CHẮN Ông DŨNG Phiếu phải đạt 99.99 /0

- Các phân tích gần đây của ông Lê Hồng Hiệp và giáo sư Carl Thayer (Úc) đều có một đánh giá chung cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đang ở thế thượng phong so với các đối thủ chính trị khác và hy vọng cho ông Nguyễn Tấn Dũng ở cái ghế tổng bí thư đảng CSVN.

- Việc lựa chọn một đồng chí có kinh nghiệm điều hành quản lý sẽ nắm chức vụ Tổng Bí thư Đảng sau Đại hội 12 là yêu cầu hết sức cần thiết và phù hợp với tình hình trong giai đoạn mới. Tuy vậy, để đảm bảo tính chuyển tiếp và kế thừa thì cũng cần thiết một phương án phù hợp, đặc biệt là quan hệ đối ngoại”.

Trong trận trí binh nầy, là một tướng soái điều binh khiển tướng khi ra trận, yếu trọng nhứtlà phải cầm chắc bỉnh quyền: Tổng Bí Thư + Chủ Tịch nước + Thủ Tướng, để tự định phận và định vị tổ quốc của mình phải có phần trách nhiệm, đến chiến tranh hay hòa bình với các nước trên toàn thế giới. Thơ nắm trong tay phải đợi thời, khôn ngoan sáng suốt là kho chí bửu còn ngoài ra là của bỏ là đồ vô giá, trí hóa phải phi thường, lấy vận mạng tổ quốc đặt lên hàng đầu, hể nước mất nhà tan; nước còn nhà còn. Phải chí công vô tư, quân pháp bất vị thân, kể cả tiền trảm hậu tấu để mưu cầu thắng lợi. Trên mặt trận Đệ Tam Thế Chiến chỉ có hai cửa: cửa ăn và cửa thua, nếu thắng vị ấy xứng là một bậc Thánh sống hòa bình cứu thế, ân nhân của toàn nhơn loại; còn thua thì chiến tranh xảy ra tàn khóc, trở thành tội nhân thiên cổ với dân tộc Việt Nam và toàn nhơn loại trên mặt địa cầu nầy.

“ Trên trời dưới thế mấy ai?

Hơn nhau vì chỗtrí tài sĩ mưu ”

Từ năm 2012 đến 2015 vừa qua, cho chúng ta vui mừng mà thấy rằng toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu này đã tự chủ quyết đoán, tựđịnh phận mình để tiến đến tựđịnh vận mạng đất nước của mình. Chiến tranh hay hòa bình, hạnh phúc hay khổ não, còn hay mất là do nơi chúng ta, chính chúng ta định quyết sự