NHỮNG SAI LẦM VỀ THỜI TIỀN KHAI ĐAO

--------------------------------------------------

1.- Vế hai cái bàn, ba chân và bàn 4 chân.

2.- Về bài thơ của Đức Ông Cao Quỳnh Tuân

Xây Bàn là gì? Xây Bàn là cầu các Chơn linh trong cõi giới vô hình giáng điển vào Bàn, làm cho cái Bàn lắc qua lắc lại, chưn Bàn gõ lên mặt gạch phát ra tiếng, rồi căn cứ vào tiếng gõ nầy mà qui định ra các chữ theo bảng mẫu tự: như Bàn gõ 1 tiếng là chữ A, gõ 2 tiếng là chữ Ă, gõ 3 tiếng là chữ Â, gõ 4 tiếng là chữ B, gõ 5 tiếng là chữ C, gõ 6 tiếng là chữ D, gõ 7 tiếng là chữ Đ, gõ 8 tiếng là chữ E, 9 tiếng là Ê, vv... , sau đó ráp các chữ lại thành một từ, rồi thành câu, đó là câu nói hay câu trả lời của Chơn linh giáng bàn.

a.- Bàn Ba chân :

Quí ông xúm nhau khiêng một cái bàn tròn ra đặt nơi hàng ba nhà của ông Sang. Chiếc bàn tròn nầy có một trụ giữa và [có ba chân],

[Phần chú của CQTL - không có bàn nào ba chân, cái bàn ba nhân hiện giờ để tại TXHC là cái bàn để chuông không liên quan gì đến Lịch sử Xây Bàn ...]

đường kính mặt tròn chừng hơn 5 tấc, cao khoảng 8 tấc, được chêm cái trụ giữa cao lên chừng vài phân để bàn có thể lắc qua lắc lại dễ dàng, gõ trên mặt nền gạch phát ra tiếng. Trên một cái bàn nhỏ đặt dựa vách kế bên có chưng bình hoa tươi tốt và có đốt nhang. Trên bàn tròn cũng đốt 3 cây nhang cắm vào cái lỗ nhỏ giữa mặt bàn.

Tất cả các ông bắt ghế ngồi vây quanh bàn tròn, đặt hai bàn tay úp lên mặt bàn cho hai ngón cái gác lên nhau, còn ngón út của người nầy thì gác lên ngón tay út của người kế bên. Quí ông ngồi lẳng lặng tịnh thần. Lát sau, [cái bàn bắt đầu nghiêng qua bên nây rồi nghiêng qua bên kia như có ai đẩy qua đẩy lại vậy]. Mấy ông hỏi kỹ với nhau thì không có ai xô đẩy gì cả, như vậy là có vong linh nhập vào bàn làm cho bàn nghiêng qua lại và gõ nhẹ lên mặt gạch.

Tiếp theo đó thì [bàn bắt đầu nhịp chân gõ chữ]. Bàn gõ 1 tiếng, các ông đọc A, gõ 2 tiếng đọc B, 3 tiếng đọc C, ... cứ như vậy đến khi bàn ngưng tại chữ nào thì lấy chữ đó và cứ như vậy ráp lại thành chữ, rồi thành câu có ý nghĩa.

 b.- Bàn 4 chân :

Tại đây, ông Cư dùng chiếc bàn mặt vuông [có 4 chân] chêm lên một chân để cho bàn lắc qua lắc lại dễ dàng, gõ nhẹ lên mặt gạch phát ra tiếng.

[Phần chú thích của CQTL, chêm lên một chân là sai, vì chêm 1 chân, bàn không chênh vênh, mà chêm 2 chân chéo nhau, bàn mới chênh vênh - các bạn làm đi sẽ thấy]

Đêm nay, ông Diêu bận việc nên vắng mặt, chỉ có 3 ông: Cư, Tắc, Sang ngồi xây bàn. Cô Quế nhập bàn chào mừng ba ông, đàm luận một hồi rồi ba ông xin kết làm anh em thi hữu với Cô. Cô gõ bàn bằng lòng và gọi:

Ông Cư là Trưởng ca,

Ông Tắc là Nhị ca,

Ông Sang là Tam ca,

Còn Cô xưng là Tứ muội.

Kết nghĩa anh em như vậy rồi, ba ông gạn hỏi tên thiệt của Tứ muội là chi, mấy anh em Qua muốn Tứ muội đừng giấu giếm. Nài nỉ mãi, cuối cùng Cô gõ bàn đề 3 chữ: V T L.

Ba ông phăng hỏi đến mồ mã của Cô ở đâu? Cô cũng chỉ rõ cho ba ông hết điều ngờ vực, hiện ngôi mộ của Cô ở khu vườn Bà Lớn. (Bà Lớn là Bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương)

 

2.- Về Bài Thơ của Đức Ông Cao Quỳnh Tuân

Nghe vậy, mấy ông dang tay ra nghỉ hết..

Bốn ông: Diêu, Cư, Tắc, Sang đều cảm thấy rất lạ lùng, hình như thế giới vô hình vừa hé ra cho mấy ông thấy một điều bí mật.

Nghỉ được nửa giờ, tất cả đều trở lại ngồi xây bàn như lúc nãy. Kỳ nầy, mấy ông có màu kiêng dè, không dám cười giỡn nữa. Tịnh tâm một chút thì bàn gõ. Ông Cư đọc vần: A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, G, H, I, K,... giống như lúc nãy, lần lượt tiếp đặng 3 chữ:CAO QUỲNH TUÂN.

Ấy là tên thân phụ của hai Ngài: Cao Quỳnh Diêu và Cao Quỳnh Cư. Hai ông Diêu và Cư đứng dậy chấp tay xá rồi ngồi trở xuống. Ông Cư nói:

- Vì buổi Thầy quá vãng, anh em con vẫn còn nhỏ dại, cho đến nỗi anh của con đã trộng mà còn không nhớ đặng hình ảnh của thầy, huống chi là con còn nhỏ quá, duy buổi lớn khôn, nghe người truyền ngôn lại cái hạnh đức của thầy mà thôi, nếu tiện, xin thầy dùng dịp nầy cho anh em con một bài thi tự thuật hầu để roi truyền ngày sau cho con cháu thờ làm kỷ niệm.(Ông Cư gọi thân phụ là thầy)

Ngài Cao Quỳnh Tuân bằng lòng, rồi gõ bàn cho bài thi:

Ly trần tuổi đã quá năm mươi,
Mi mới vừa lên ước đặng mười.
Tổng mến lời khuyên [bền] mộ chép
, [bên mộ chép là ngồi bên cái mã xây ma]
Tình thương câu dặn gắng tâm đời.
Bên màn đôi lúc trêu hồn phách,
Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh thơi.
Xót nỗi vợ hiền còn lụm cụm,
Gặp nhau nhắn nhủ một đôi lời.

CAO QUỲNH TUÂN

Khi viết đến câu chuyển thì cả thảy đều nao lòng rưng rưng nước mắt, chừng qua câu kết thì 3 ông Diêu, Cư, Tắc vùng khóc lớn lên, ông Sang cũng mủi lòng khóc theo.

Bàn gõ tiếp:Thầy xin kiếu.

Ông Cư vội nói: - Thưa thầy, ngày mai con nấu mâm cơm cúng thầy, kính thỉnh thầy về chứng lòng thảo của chúng con.[Ngài Cao Quỳnh Tuân (1844-1896) qui vị ngày 14-11-Bính Thân (dl 8-12-1896). Ngài là Xuất Bộ Tinh Quân giáng trần. Ngài mất sớm, hưởng đặng 53 tuổi.]

[Phần bài thơ, theo lời kể của anh Cao Quỳnh Đức, con trai duy nhứt của Ngài Cao Quỳnh Diêu. Trong các vị Tiền Khai Đại Đạo, chỉ có Đức Hộ Pháp cố tình tìm hiểu việc tiếp vong linh người chết. Việc nầy, các Ngài Cao Quỳnh Cư và các vị khác không tin, Nên ĐHP, thường rủ anh Cao Quỳnh Đức đi ra nghĩa địa, xây ma với ván hòm của thời đó. Nơi nào anh CQ.Đức đi, thì anh Thân (Nguyễn văn Thân) con riêng của người vợ thứ hai của Ngài Cao Quỳnh Diêu, chạy theo chơi. Trong nhiều ngày anh Đức theo ĐHP đi tới khuya mới về. Sáng ra, Ngài CQ.Diêu đều hỏi : Có gì không con - anh Đức trả lời không.

Đến một hôm, ĐHP và anh Đức, tiếp được 4 câu thơ đầu của Bài [Ly trần ...]. Sáng nay Ngài CQ.Diêu cũng hỏi : Có gì không con. Anh Đức chỉ cười cười chưa kịp trả lời, thì bên kia đường ĐHP đi qua. ĐHP kể chuyện đêm qua. Ngài CQ,Diêu kể lại cho Đức Thương Phẩm biết, hai anh em rủ nhau đêm nay ra chỗ [xây ma có kết quả] nghe ngóng. Đem sau, cơ về viết tiếp 4 câu sau, đủ 8 câu lưu truyền như ngày nay.

Điều tôi - CQTL - muốn nói là bài thơ diễn ra hai đêm, mà đêm đầu chỉ có ĐHP và anh CQ.Đức.

Nguồn - http://www.caodaism.org/8003/klxbcb.htm




Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả