LỤC NGÔN THỂ


=================
LỤC NGÔN THỂ

Hàn Sĩ Nguyên

-Biên Khảo-

=================


I-BÀI TOÁN KẾT HỢP THƠ LỤC BÁT & THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT :


Thơ Lục Bát (LB) là một đỉnh cao trong thi ca Việt Nam, còn Thất ngôn Bát cú Đường luật (TNBCDL) cũng là một đỉnh cao trong thi ca Trung Quốc. Hai thể loại thơ này có nhiều điểm đặc sắc, hoàn toàn khác biệt với nhau

Nếu TNBCDL với những quy luật chặt chẽ nghiêm minh về “Vần-Luật-Niêm-Đối” gói gọn trong 8 câu, mỗi câu 7 chữ, nổi tiếng như một cái bình gốm sứ thượng hảo hạng, thì Lục Bát với khả năng vận dụng “Mỹ từ pháp” (1) vô hạn lại độc đáo như một giải lụa đào êm mướt, thướt tha.

Không thể và cũng không nên so sánh thể loại này với thể loại khác, nhưng có một vấn đề bức thiết được đặt ra, làm đau đầu người viết hơn 15 năm , đó là vấn đề : Có thể nào KẾT HỢP 2 thể loại hoàn toàn khác biệt nhau ấy vào trong một hình thức diễn đạt duy nhất hay không ???

Cụ thể là làm sao đưa được những thủ pháp quái chiêu của Lục Bát như “Đồng dạng, Tiểu đối, Đoạn cú, Song điệp các loại” vào trong thơ TNBCDL ? ...

Nói cách khác, làm thế nào để một thể loại thơ Trung Quốc lại có thể chuyên chở được cái hồn thơ Việt Nam ?

Sau nhiều năm nghiên cứu những độc đáo của 2 thể loại thơ Lục Bát và TNBCDL, với những nỗ lực không mệt mỏi trong việc tìm cách dung hòa 2 đỉnh cao ấy, cuối cùng người viết đã tìm được lời đáp khá là bất ngờ : LỤC NGÔN THỂ hoàn toàn có đủ khả năng ấy !!!

Vậy thì LỤC NGÔN THỂ là gì ???

II-LỤC NGÔN THỂ CỔ ĐIỂN :


Lục ngôn thể (cổ điển) là một BIẾN CÁCH , xuất xứ từ Thất ngôn Bát cú Đường Luật, có thể xem như một thể loại thơ hoàn toàn Việt Nam, đã xuất hiện trong Thi ca VN từ thế kỷ thứ 15, qua các bài thơ của Nguyễn Trãi và sau đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhiều thi nhân khác nữa

Thí dụ :

THỦ VỸ NGÂM

Góc thành Nam, lều một gian
No nước uống, thiếu cơm ăn
Con đòi trốn dễ ai quyến
Bầy ngựa gầy thiếu kẻ chăn
Ao bởi hẹp hòi, khôn thả cá
Nhà quen xuế xóa, ngại nuôi vằn
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải
Góc thành Nam, lều một gian

Nguyễn Trãi

1-Các đặc điểm, ghi nhận được từ bài thơ này như sau :

-Về BỐ CỤC : Bài thơ gồm 8 câu giống như TNBCDL, nhưng số chữ trong câu được phép linh động : Khi thì 7 chữ, khi thì 6 chữ . Trong bài này có 3 câu 7 chữ và 5 câu 6 chữ.

-Về ĐỐI : các câu 3-4 và 5-6 vẫn tuân thủ nghiêm ngặt luật ĐỐI NGẪU của TNBCDL .

-Về VẦN : Vần gieo độc vận ở cuối câu 1,2,4,6,8 giống hệt như TNBCDL.

-Về NIÊM : Không nhất thiết phải bị gò bó, trói chặt về NIÊM. Nghĩa là Niêm được càng tốt, không Niêm cũng ... không sao cả. Càng phóng khoáng tự do càng hay .

-Về LUẬT : Luật Nhị Tứ Lục đảo thanh trong TNBCDL cũng được tôn trọng một cách ... tương đối . Nghĩa là không nhất thiết phải theo đúng trật tự BẰNG-TRẮC-BẰNG hoặc TRẮC-BẰNG-TRẮC ở các chữ thứ 2,4,6 như trong TNBCDL.

Tóm lại,

Lục ngôn thể là một thể thơ Việt Nam, thoát thai từ Thất ngôn Bát cú Đường Luật, nhưng có nhiều biến thái mang tính tự do, phóng khoáng hơn, thích hợp với tâm hồn bay bổng của người VN chúng ta hơn

2-Những nhược điểm lớn lao của Lục ngôn thể (cổ điển) là ở chỗ :

+++Vì xuất hiện từ thế kỷ thứ 15, lúc ấy các phương tiện thông tin còn rất hạn chế, nên tầm phổ biến của thể thơ này không rộng : trong cộng đồng rất ít người biết đến thể loại thơ này.

+++Ngôn từ thời ấy đến nay đã trở thành ... quá cổ xưa, thậm chí đã mất hẳn trong tiếng Việt hiện đại . Thí dụ :

-Con đòi : con ở, tớ gái
-Vằn : chó (vằn)
-Quyến : dụ dỗ, rủ rê
-Khôn : không thể

Vì vậy, đối với người thời nay, Lục ngôn thể (cổ điển) trở nên khá xa lạ, quá ... bí hiểm, khó gây được sự cuốn hút, hấp dẫn

+++Không có sự xuất hiện nhiều của các thủ thuật Mỹ từ pháp, hậu quả là bài thơ thiếu hẳn đi những nét đan thanh

III-LỤC NGÔN THỂ HIỆN ĐẠI :

Cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, Lục ngôn thể hiện đại đã ra đời với những đặc điểm như sau :

1-Kế thừa những đặc sắc của Lục ngôn thể cổ điển về tinh thần tự do, phóng khoáng :

Chỉ tuân thủ chặt chẽ VẦN và ĐỐI của TNBCDL mà thôi, còn Bố cục, Niêm và Luật được hoàn toàn linh động trong phạm vi TÁM câu. Cụ thể là

-Về BỐ CỤC : Trong bài thơ LNT ít nhất phải có một câu 6 chữ, nhiều nhất là 7 câu 6 chữ . những câu còn lại 7 chữ .

-Về Luật : Tôn trọng luật "Nhị Tứ Lục đảo thanh" một cách tương đối mà thôi . Không bắt buộc phải là T-B-T hoặc B-T-B như TNBCĐL .

-Về Niêm, Niêm được càng tốt, không niêm cũng ... chẳng sao cả .

2-Không dùng những hình thức ngôn từ quá cổ xưa nữa.

3-Sử dụng nhiều thủ thuật Mỹ từ pháp quái chiêu, đặc trưng của thơ Lục Bát như : Ngắt mạch 2/2/2 (Đoạn cú), Tiểu đối 3/3, Tiểu đối mini 2/2, Tiểu đồng dạng, Điệp ngữ Điên đảo càn khôn, Điệp ngữ Tiền hậu song trùng, Điệp ngữ Lưỡng đầu xà, v.v... Đây cũng chính là đặc điểm phân biệt Lục ngôn thể hiện đại và Lục ngôn thể cổ điển vậy

Trong tinh thần gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống Việt Nam, HSN xin trân trọng giới thiệu thể loại thơ “CỔ mà KHÔNG CỔ” này với các bạn đọc, với ước vọng là một gia sản lớn lao, khởi đầu từ NGUYỄN TRÃI, sẽ không bị mai một cùng thời gian

Mong lắm thay

Hàn Sĩ Nguyên
----------------------------------------------
PHỤ LỤC

Một số bài thơ Lục ngôn thể hiện đại

-by Hàn Sĩ Nguyên-

-----------------------------------------------


1-MẮT ĐỎ
-Lục ngôn thể-

Trời trong xanh, nước trong xanh
Một mái chèo khua, sóng bập bềnh
Khách đã sang đò, người rời bến
Sương pha ánh mắt, khói xây thành
Tiếng hò man mác, triều man mác
Ông lái rưng rưng, thuyền nhẹ tênh ...
Ráng đỏ, chiều rơi, mắt đỏ
Tròng trành quãng vắng nhớ mông mênh ...

Hàn Sĩ Nguyên
_________________

2-NGƠ NGẨN ...
-Lục ngôn thể-

Trời mênh mông, nước mênh mông
Một chiếc thuyền con cố ngược dòng
Gió thoảng dư âm não ruột
Đò đưa khúc hát se lòng
Nước đi đi mãi về đâu nhỉ ?
Thuyền nổi nhẹ tênh thuyền buồn không ?
Một tiếng thở than triều dậy sóng
Con đò ngơ ngẩn giữa dòng trong !

Hàn Sĩ Nguyên
_________________

3-NGƯỜI XƯA
-Lục ngôn thể-

Tìm đâu cho thấy bóng người xưa
Mộ khúc ru hồn thoảng bến mơ
Trăng úa chơi vơi quãng vắng
Liễu buồn ủ rũ song thưa
Con đò thuở ấy đà vô chủ
Ông lão ngày xưa hóa nấm mồ
Sóng biếc lung linh hình bóng cũ
Trường giang man mác khúc đò đưa

Hàn Sĩ Nguyên
----------------------------------

4-DÕI BÓNG TRĂNG TREO
-Lục ngôn thể-

Đàn dăm khúc, hát đôi câu
Trăm năm vời vợi gió mưa sầu
Thuyền tình hờ hững xa bến đợi
Trăng nhỏ lửng lơ ngọn trúc đào
Lãng đãng mây bay đầu núi
Vẩn vơ khách dạo hang sâu
Có nhớ có thương đành mộng mị
Nghìn xưa duyên nợ hẹn nghìn sau

Hàn Sĩ Nguyên
_________________

5-QUÃNG VẮNG CHỜ AI ?
-Lục ngôn thể-

Một bầu rượu, một túi thơ
Ảo hư hư ảo mối duyên hờ
Miên man lá rụng bên thềm cũ
Lững thững thuyền trôi cặp bến mơ
Cần trúc xoay ngang con nước đục
Hồ trường dốc ngược bóng trăng mờ
Đời trôi, mặc kệ đời trôi dạt
Quãng vắng chờ ai, mãi đợi chờ ???

Hàn Sĩ Nguyên
_________________
Ngày tháng đong đưa đời gió bụi
Mặc ai xa mã chốn gian trần

+++Ghi chú

(1)-Mỹ từ pháp : Xin vui lòng đọc trong bài THƠ LỤC BÁT.




Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả