NGU HUYNH DẠY NGU ĐỆ - 2/3
TNHT/Q.1 – Kẻ dốt mà dạy người dốt thì cả hai dầu nói tới tận thế cũng còn dốt – ngày 29-9-1926.
Suy gẫm – Ngu huynh dạy ngu đệ thì cả hai dầu nói tới tận thế cũng còn ngu – 3-11-2016.
--------------
Victoria – Úc Châu, 28/10/20116
Các bạn trẻ Hiền Tài và trí thức con nhà Đạo thân mến,
Ngu huynh xin cám ơn vài em trí thức con nhà Đạo chưa gia nhập Ban Thế
Đạo, trước đây chưa trò chuyện với ngu huynh, sau khi xem lá thư thứ
nhứt của ngu huynh, đã hạch vấn thế nào là Thần Học Bát Quái Đài, Tông
Đạo là gì, rồi danh hiệu Quốc Sĩ do một Đại Hội phong, không qua cơ bút,
có đáng để nhận lãnh hay không?Ngu huynh xin phép các em đã thân
thiết, dành thư này để khái quát một chút với các em mới quen về 3 vấn
đề trên.
“Tông Đạo”phụ thuộc vào bộ môn Chính Trị Đạo của ngành Thần Học
Thánh Thể, trong khi ngành Thần Học Bát Quái Đài là điều kiện tiên quyết
phải lãu thông trước khi thọ giáo ngành Thần Học Thánh Thể.Nên ngu
huynh sẽ: (i) Giới thiệu tổng quát Thần Học Cao Đài; (ii) giải thích 2 nhánh
Thần Học Bát Quái Đài và Thần Học Thánh Thể; kế đó sẽ (iii) lược giải
thuật ngữ “Tông Đạo” theo Chính Trị Đạo. Sau cùng (iv) là những dòng tâm
tình về danh hiệu Quốc Sĩ.
Các em thân,
Thần học là môn học phát xuất từ nhu cầu thỏa mãn câu hỏi có hay không
sự tồn tại của Đấng Chí Tôn và thế giới thần linh, về quan hệ giữa thế giới
ấy và các thế giới còn lại, trong đó có thế giới loài người. Sau khi đã thiết
lập một luận thuyết hoàn chỉnh và nhất quán làm thỏa mãn câu hỏi đó,
chúng ta sẽ thấy câu trả lời làm phát sinh ra câu hỏi thứ nhì rằng loài
người có thể trở thành thần linh và xa hơn nữa, trở thành Đấng Chí Tôn
được không, và nếu được thì làm bằng cách nào? Đáp ứng cho câu hỏi thứ
nhất là ngành Thần Học Bát Quái Đài, trong khi tập hợp lý luận để trả lời
cho câu hỏi thứ nhì chúng ta sẽ có ngành Thần Học Thánh Thể. Thần Học
Bát Quái Đài là học về pháp giới và những hiện tướng chứng minh Đấng
Chí Tôn và thế giới thần linh đã hiện hữu, hằng hữu và bố hóa, còn Thần
Học Thánh Thể chính là học về cơ chế thánh hóa và các phương tu trong
cơ chế siêu phàm nhập thánh đó, để phát triển Thiên Tính và thực hành
Thiên Đạo sao cho hiệu quả, cho xứng đáng hạnh Thánh Thể, cho trở
thành Đấng Chí Tôn.
Khi bắt đầu các học phần bàn về công cuộc sáng tạo vũ trụ của Đấng Chí
Tôn, chúng ta được Thần Học Cao Đài chứng minh rằng, Đấng Chí Tôn đã
dùng năng lực tự có từ giai đoạn Thái Cực, 1 lập ra 2, 2 lập ra 4, 4 lập ra 8
mà tác thành vũ trụ. Cơ sáng tạo đến con số 8 là dừng. Đoạn, Ngài lại
phân linh tánh (Nhứt Đẳng Mạch Tinh Vi) của Ngài mà sanh ra vạn linh đầy
trong 8 pháp giới ấy. 8 pháp giới đó, Thần Học Cao Đài gọi là Càn Khôn Vũ
Trụ, quyền lực thống quản CKVT là bản thể Chí Linh của Đấng Chí Tôn, còn
vạn linh được chiết xuất từ bản thể ấy luân lưu đầy trong 8 pháp giới được
tổng xếp loại là Bát Hồn: Phật Hồn, Tiên Hồn, Thánh Hồn, Thần Hồn, Nhơn
Hồn, Thú Cầm Hồn, Thảo Mộc Hồn và Vật Chất Hồn. Như vậy, Thần (Đấng
Chí Tôn) hiện hữu, hằng hữu và để lại hành tàng sáng tạo, hành tàng lưu
xuất (phân chiết linh tánh) đều hiện tướng trong Bát Quái Đài.
·Lại nữa, khi mở Đạo Cao Đài, Đấng Chí Tôn lập ra Hội Thánh có 3 Đài: Bát
Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cữu Trùng Đài, Ngài nói Bát Quái Đài là Hội
Thánh Thần Linh, cai trị nền Đạo do chính Ngài làm Chưởng Quản. Cho
nên, học về Bát Quái Đài, chính là học về Thần và các thần vậy.
Các em thân,
Bây giờ ngu huynh xin nói về “Tông Đạo”.
Từ khi Thánh Huấn số 77 ngày 17-1 Canh Thìn (24-2-1940) được Hội
Thánh ban hành, trong Đạo có danh từ Tông Đạo để gọi khối tín đồ có
trong một nước hay một xứ tự trị. Lịch sử Đạo còn ghi lại những danh từ
Nam Tông Đạo, Trung Tông Đạo, Bắc Tông Đạo, Tông Đạo Tần Nhơn (Tông
Đạo Cao Miên), Tông Đạo Đường Nhơn (Trung Hoa), Tông Đạo Nhật Bản,
Tông Đạo Pháp Quốc…
Tông Đạo không bị giới hạn số tín đồ hay số đơn vị Hành Chánh Đạo vì
danh từ Tông Đạo chỉ để nói lên một sắc dân, một nòi giống, một quốc gia
biết Đạo. Nhưng 1 Trấn Đạo, là 1 đơn vị hành chánh, nên bị giới hạn là
phải có nhiều Châu Đạo họp thành và Trấn Đạo không hẳn là một nước. Vì
có khi, một nước có thể có nhiều Trấn Đạo như Tông Đạo Trung Hoa hay
Tông Đạo Ấn Độ sau này. Có khi, một Tông Đạo tân lập chỉ mới có 1 gia
đình theo Đạo như Tông Đạo Nhật Bản trước kia với gia đình Lễ Sanh Thái
Nagafuchi Thanh.
Nếu 1 Tông Đạo có ít tín đồ, thì việc hành chánh chỉ do 1 vị Đại Diện Tông
Đạo phụ trách, thường là Lễ Sanh (Deacon) hay Hiền Tài (Lay Priest). Trong
1 Tông Đạo có Chức Sắc vào hàng Giáo Hữu (Priest) hay cư ngụ thì vị Giáo
Hữu ấy được gọi là Đại Diện Hội Thánh Tông Đạo. Nếu có nhiều hơn 1 vị
trong hàng Thánh Thể cư ngụ thì họ sẽ công cử với nhau 1 vị Giáo Sư làm
Chủ Trưởnghay Giáo Hữu hay Quốc Sĩ (Lay Bishop) làm Q. Chủ Trưởng Hội
Thánh Tông Đạo. Nghị Viên, Phái Viên Hội Nhơn Sanh của các Tộc Đạo
trong Tông Đạo họp lại gọi là Đại Hội Nhơn Sanh Tông Đạo. Đại Hội này có
thể cầu nài Hội Thánh Tông Đạo tức là các Giáo Hữu, Giáo Sư chiếu cố đến
phong tục và trình độ tiến hóa của sắc dân mình hầu chế giảm luật giữ
Đạo và cách thờ Thầy.
Xin các em đọc lại vai trò phẩm Giáo Hữu trong Pháp Chánh Truyền Chú
Giải, mà tự hỏi rằng mỗi sắc con cái của Thầy do đâu mà biểu lộ những
nghi hoặc, mơ hồ… không thể thông hiểu và thực thi Chánh Giáo của Thầy
cho các Giáo Hữu biết? Nếu nói ở các Nghị Viên, Phái Viên Nhơn Sanh cấp
Tộc Đạo thì làm sao mang tính đại diện cho một nước. Chỉ có một quyết
nghị của Đại Hội Nhơn Sanh Tông Đạo mới minh tả được tiếng nói chung
của một nước. Các Giáo Hữu do đâu mà kêu nài xin chế giảm những nghi
thức thờ Thầy và giữ Đạo phù hợp với cả một nước gồm nhiều làng mạc
thành phố, nếu không phải là Đại Hội Hội Thánh Tông Đạo của quốc gia
mình phụng sự?
Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải phần nói về quyền hành Giáo Sư có xác
quyết Giáo Sư là người thủ bộ Đời của Đạo, tức là người đại diện tư cách
pháp nhân Tôn Giáo cho Đạo Cao Đài tại mỗi Tông Đạo, tương tự như vị
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục tức là Giáo Hội Trưởng của Giáo Hội Công
Giáo tại một quốc gia. Các Giáo Sư do đâu mà “đặng trọn quyền sắp đặt
sửa đương thế nào cho hai lẽ ấy đặng phù-hạp với tục lệ của nhơn-sanh,
tùy theo phong hóa của các sắc người, song chẳng đặng làm cho thất thể
Đạo, nghĩa là mỗi điều sửa-cải phải do nơi Hội-Thánh phê-chuẩn. Thầy đã
nói: "của mỗi đứa", tức nhiên mình cũng phải hiểu của mỗi nước”. Chỉ có
quyết nghị cấp Hội Thánh của mỗi nước mới minh tả được tiếng nói chung
của các lương sanh Thánh Thể hướng đạo cho một sắc dân.
Nghĩa là, theo luật pháp chơn truyền Đại Đạo, một sắc dân là một sắc con
cái của Đức Chí Tôn, họ có đủ quyền hành chánh nội trị và tu hành tiến lên
hàng Thánh Thể. Các phần tử trong hàng Thánh Thể của sắc dân ấy khi
họp lại cũng đủ quyền của một Hội Thánh để điều hành Đạo Sự và chế
giảm nghi thức quan hôn trong Tông Đạo, sao cho vừa với trình độ tiến
hóa của quốc gia mình mà vừa không thất danh thể của Đạo. Việc thành
lập Tông Đạo ở các quốc gia là nhằm tạo duyên lành cho tất cả các sắc
con cái Đức Chí Tôn đều được cơ hội chính mình Thầy đến để “tuyển chọn
lương sanh hầu cứu vớt quần sanh” trong mỗi sắc dân.
Thiên Ý đã khiến hệ thống Chính Trị Đạo của Hội Thánh Tịch Đạo Thanh
Hương giải thể sau 50 năm cầm quyền hành chánh, điều ấy đã trở thành
định cuộc. Đức Lý Giáo Tông chỉ lưu lại mỗi một vị Giáo Sư, Đức Hộ Pháp
để lại 1 Cải Trạng để duy trì và phát triển Đạo Nghiệp cho Tông Đạo Việt
Nam. Trong khi hai Đấng ấy dùng huyền diệu biến một số đông tín đồ trở
thành công dân của nhiều quốc gia khác. Nếu không mở mang các Tông
Đạo và mở rộng hàng ngũ tín đồ phế đời hành đạo tu theo hạnh thượng
thừa trong nhiều sắc con cái của Chí Tôn, để đồng hành cùng Tông Đạo
Việt Nam, mà chỉ dành độc quyền làm Thánh Thể riêng cho Tông Đạo Việt
Nam thì quả không đúng với quy định của Tân Luật, Pháp Chánh Truyền và
xa rời Thánh Ý của Đức Chí Tôn. Làm cho Đạo vang danh khắp vạn quốc,
làm cho các sắc dân ai cũng thèm khát được nhập môn vào Đạo, là cứu
nguy đạo thốngmột cách hữu hiệu nhứt đó các em ạ.
Các em thân,
Sau cùng, ngu huynh xin tâm tình vấn đề Ban Thế Đạo. Ban Thế Đạo (Lay
Ministry) bao gồm:
-Hiền Tài (Lay Priest)
-Quốc Sĩ (Lay Bishop)
-Đại Phu (Lay Archbishop)
-Phu Tử (Lay Cardinal)
Một chơn linh hàng Thiên Mạng giáng sanh thường có nhơn tước phù hợp
với thiên tước. Chơn linh Địa Thánh thì thường hiển lộ ra một địa vị xã hội
tiếng tăm trong một Trấn Đạo, Nhơn Thánh thì Tông Đạo. Tập thể các chơn
linh Thiên Mạng ấy có cơ duyên hội hiệp lại trong cửa Đạo thì chúng ta
thấy có tiềm năng một Hội Thánh Tông Đạo sắp ra đời. Các đấng Thần
Linh vô hình của sắc dân ấy vẫn có lòng muốn lập công, nên dục thúc các
Thiên Mạng đồng tông xuất thánh, để họ hổ trợ, kiếm thêm công quả vô
vi.
Nhưng khi xuống thế, các chơn linh Thiên Mạng này họ đâu có nhớ sứ
mạng và căn Thánh của họ. Luật Công Bình (tất cả đều xuất phát từ một
lằn vạch bằng nhau) khiến họ phải quên. Bây giờ muốn gợi mở sứ mạng
và căn Thánh của họ phải làm sao? Thì phải tìm cách tạo cho họ có cơ
duyên gần gủi sinh hoạt với Đạo, chớ làm sao nữa? Cho nên mới có Ban
Thế Đạo.
Chức Sắc Thế Đạo là tinh hoa của thế gian, lấy tinh hoa của thế gian làm
tinh hoa của Đại Đạo như Đức Chí Tôn đã làm vào thời kỳ tiền khai là 1
sách lược cao siêu do Đức Lý Giáo Tông và Đức Hộ Pháp chủ trương và Hội
Thánh trước năm 1975 đã thực hiện. Cách thực hiện của Hội Thánh là cầu
hiền giúp Đạo. Hội Thánh không đòi hỏi trí thức nhà Đạo phải hứa hẹn phế
đời hành đạo hay phải cống hiến cho Đạo những gì “long trời lở đất”. Đơn
giản, Hội Thánh chỉ công nhận từ cô Tú, cậu Tú của thế gian mà chịu nhập
môn vào Đạo thì được làm Hiền Tài.
Còn Quốc Sĩ?Quốc Sĩ trước hết là người có tài năng hay nhân cách khiến
cho dân chúng hoặc đất nước nơi người ấy sinh sống phải hãnh diện. Đạo
Cao Đài dụng phong hóa Nho Tông để chuyển thế vì Nho Tông có cơ chế
rất tốt để người hiền xuất Thánh. Trong cơ chế đó, việc đề cao kẻ sĩ, không
để cho họ bị mai một, là trách nhiệm của mọi người, từ vua tới dân. Xã hội
Việt Nam xưa có lập ra Văn Miếu để thờ đức Khổng Thánh, chung quanh
nơi thờ là các bia đá khắc tên các Tiến Sĩ với ý nghĩa họ là những nhân vật
xứng đáng đồng cư với vị Phu Tử. Các Tiến Sĩ tân khoa xưa được nhà vua
đích thân tiếp kiến trong buổi quốc yến, nơi ấy các khách mời được hoàng
tử công chúa thay mặt cho vua đứng bồi yến (làm nhân viên phục vụ).
Ngu huynh xin kể một câu chuyện có thật: Ông Trần Quang Vinhlúc còn là
Giáo Hữu ở Nam Vang, nhân dịp được nhà nước bảo hộ Pháp tại Cambodia
cử ổng đi dự Hội Chợ bên Paris, Hội Thánh bên nhà (Tây Ninh) biểu ổng
nhân đó tranh thủ làm quốc tế vận cho nền Đạo được tự do tín ngưỡng.
Giáo Hữu Vinh đi chuyến đó thành công, Quốc Hội Pháp có ra một Nghị
Quyết cho Đạo được tự do tín ngưỡng. Được tin mừng, nhân dịp Vía Đức
Chí Tôn, 9-1 Nhâm Thân (1932), sau đàn cúng đức Quyền Giáo Tông đã
tuyên dương công nghiệp ông bằng động thái quỳ hẳn xuống và xá về
phía Giáo Hữu Vinh.
Theo truyền thống đó, khi lập Quy Điều Nội Luật Ban Thế Đạo, người soạn
dự thảo là ông Cải Trạng Nguyễn Văn Hợi, đã nghĩ đến việc đem nghi thức
trang trọng nhất của Đạo là cầu chơn linh Đức Lý Giáo Tông hay Phạm Hộ
Pháp giáng cơ mời chọn hàng Quốc Sĩ trở lên, nhằm tỏ rõ cái thành tâm
cầu hiền giúp Đạo. Chứ không hề có ý đem nghi thức cầu cơ để tỏ ra
nghiêm khắc, cản trở bước Đạo của các hiền nhân, như hậu tấn sau này
tưởng tượng.
Vì sao?Vì trước khi họ được Đạo mời làm Quốc Sĩ trong Đạo, thì họ đã là
Quốc Sĩ trong lòng dân tộc rồi. Đạo hãnh diện nhờ mời được họ gia nhập
Đạo, chớ chưa chắc, lãnh danh hiệu Quốc Sĩ của Đạo Cao Đài, họ mập
thêm được chút ký lô nào.
Nay, Ban Thế Đạo Hải Ngoại noi dấu tiền nhân, dùng danh hiệu Quốc Sĩ
chánh vị, để thỉnh mời các em, dù là Hiền Tài hay Đạo Hữu, hãy cố gắng
trở thành Quốc Sĩ.Các em cứ phát huy tài năng và nhân cách, trở thành
Quốc Sĩ của thế gian trước, sau đó mạnh dạn công bố học vị, danh hiệu,
giải thưởng, thành tựu… của các em cho Đạo biết. Đạo sẽ rất biết ơn các
em vì các em đã nhớ tới Đạo sau khi thành danh. Còn việc tham gia tu tập
theo hạnh Thánh Thể và cống hiến cuộc đời cho Đạo, việc ấy tính sau.
Những chữ “phàm phong”, “thế phong”… chẳng qua là những tiếng than
thở của những người không chấp nhận được sự thật: Sóng lớp sau đã cao
hơn lớp trước.
Kệ họ. Hãy trở thành Quốc Sĩ!
(thư đã khá dài, ngu huynh xin hẹn lại thư sau)
Hiền Tài Lý Phước Hùng(Thánh Lịnh 257 phong, do Đại Hội Hiền Tài 2016
công cử