Truyện Thơ THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ -01-






XUÂN THU CỐ SỰ TINH HOA

TỦ SÁCH TRUNG HIẾU TIẾT NGHĨA

============================


HÀN SĨ NGUYÊN




TRUYỆN THƠ


THỪA TƯỚNG

ỨNG HẦU

PHẠM THƯ



BẢN CHÍNH THỨC ĐÃ HIỆU ĐÍNH

-2002-


=========================


-1-


PHẠM THƯ THUỞ HÀN VI


Cuối thời Chiến quốc Xuân thu (1)

Sinh linh đồ thán, Đông Chu suy tàn

Tam Tấn có Triệu, Nguỵ, Hàn

Tần, Tề, Yên, Sở qua can tranh cường

Nguỵ đô đóng ở Đại Lương

Chiêu vương trị quốc, nhiễu nhương binh tình

Thế nước suy yếu chông chênh

Biên thuỳ bỏ ngỏ, kinh thành thiên di

Càn qua quét lại lắm khi

Chính hư binh nhược, cận kề bại vong

Họ Phạm giúp nước dày công (11)

Đời đời khanh tướng, nối dòng vương tôn

Phù vân khó nỗi trường tồn

Tổ tiên hưng vượng, cháu con điêu tàn.

Phạm Thư xuất xứ cơ hàn

Mẹ cha mất sớm, họ hàng lìa xa

Bọt bèo trôi nổi la đà

Quản chi cực nhọc, miễn là tồn sinh

Thiên tư vốn dĩ thông minh

Chuyên cần học tập, pháp binh ghi lòng

Bách gia chư tử lão thông (21)

Thuyết Nan cố sự ngược dòng mà chơi

Thoắt đà mười tám năm trời

Nên trang bản lãnh, ra người tài hoa

Lòng riêng, riêng những ước mơ

Đem tài Ninh Thích giúp cho Tề Hoàn

Công cha nghĩa mẹ chu toàn

Trung quân báo quốc trị an nước nhà

Quần bô áo vải xót xa

Không người tiến dẫn khó mà nên danh

Lược thao xếp xó đã đành (31)

Trước thềm Tu Cổ hạ mình đánh xe

Ngày ngày hai buổi đi về

Mơ phá Thành Bộc, tưởng truy Hào Đình

Vẫy vùng Nam quận, Yên kinh

Khi an Cự Lộc, khi bình Hàm Dương

Ngựa xe rong ruổi sa trường

Chí như Tôn tử, tài dường Ngô quân

Đêm khuya mơ tuởng Tô Tần

Uốn ba tấc lưỡi canh tân nước nhà

Tai nghe gà gáy xa xa (41)

Giật mình tỉnh giấc, xó nhà nằm co

Một mình một bóng bơ vơ

Bốn bề cô quạnh, thương cho nỗi đời

Tài năng chuyển đất rung trời

Thời cơ không có, sức người mong manh

Ngư ông sông Vị nương mình

Lược thao rèn giũa, pháp binh trau dồi

Thu qua, Đông lại, Xuân trôi

Ba năm ròng rã làm người xa phu

Đón đưa Tu Cổ đại phu (51)

Việc công góp ý, việc tư lo lường

Giang hồ hào sĩ tứ phương

Tình như thủ túc, lễ nhường hàn nho

Khi vui khúc nhạc cuộc cờ

Khi buồn chén rượu bài thơ giải phiền

Miệng Cổ không ngớt ngợi khen

Lòng Tu đố kỵ ghét ghen chất chồng

Phạm Thư tận nghĩa tận trung

Nghĩ mình ăn quả, cố công vun bồi

Cúc cung tận tuỵ ở đời (61)

Biết đâu lòng dạ con người hiểm sâu.



[Còn tiếp]



========
Truyện thơ

THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ

Giản chú

by NGU PHU

(Nguyễn Phú)

========


GIẢN CHÚ đoạn 1



1-THUỞ HÀN VI : thời còn nghèo khổ, lúc chưa có công danh sự nghiệp.

2-CHU : Một vương triều ở Trung quốc thời cổ đại, sau nhà Ân (Thương). Khởi đầu từ lúc Chu Võ vương (Cơ Phát) đem quân Tây kỳ qua bến Mạnh Tân diệt Trụ vương. Triều đại Chu gồm 2 thời kỳ :

-Thời Tây Chu : Từ Võ vương đến U vương , trải qua gần 400 năm. Đóng đô ở Tây kỳ. Thời đại này có thể nói là thời thịnh trị. Đến đời Chu U vương, vua này say đắm mỹ nhân Bao Tự khiến sinh ra loạn lạc triền miên, sau phải dời đô về Lạc Dương ở phía Đông. Từ lúc ấy, Tây Chu cáo chung, bắt đầu thời đại Đông Chu.

-Thời Đông Chu : từ Chu Bình vương đến khi mất nước, cũng kéo dài hơn 400 năm. Vua Đông Chu dần dần chỉ còn là hư vị, ngồi làm Thiên tử bù nhìn ở Lạc Dương chứng kiến thiên hạ loạn lạc, chư hầu tranh bá đồ vương mà thôi.

3-XUÂN THU : Thời kỳ 800 nước chư hầu của nhà Chu tranh giành quyền lực, đấu đá, thôn tính lẫn nhau. Trong thời Xuân Thu kéo dài hơn 200 năm, trước sau có 5 vị bá chủ (Ngũ bá) đó là : Tề Hoàn công, Tấn Văn công, Tần Mục công, Tống tương công, và Sở Trang vương. Trừ Tống Tương công ra, bốn người còn lại đều là những bậc kỳ tài, xuất chúng, uy đức và công nghiệp bao trùm cả thiên hạ. Các nước nhỏ lần lượt bị thôn tính, mất dần.

3-CHIẾN QUỐC : Thời kỳ tiếp theo Xuân Thu, cũng kéo dài gần 200 năm. Trong thời này, chỉ còn lại 7 nước lớn (Tần, Tề, Yên, Sở, Triệu, Hàn, Ngụy) luôn năm chinh chiến, công phá lẫn nhau, tranh giành quyền thống trị thiên hạ. Trong khi đó, tất cả vẫn công nhận nhà Đông Chu là ... Thiên tử, như một quyền lực hư vị. Về sau, Tần Thủy hoàng diệt Chu, gồm thâu lục quốc, thống nhất thiên hạ, lập nên nhà Tần, là triều đại chính thức nối tiếp triều đại Chu.

5-SINH LINH : (Sinh : sống - Linh : linh hồn - Sinh linh : những tạo vật , chỉ chung cả người lẫn động vật). Nghĩa phổ thông : Bá tánh, bách tính, trăm họ, muôn dân, nhân dân.

6-ĐỒ THÁN : (Thán : than oán - Đồ : giết, bị giết). Nghĩa rộng : Ta thán vì cực khổ đủ mọi mặt, cực khổ đến cùng cực.

7-TẤN : Một chư hầu lớn của thời Đông Chu, đất đai ở miền Bắc và Trung Trung quốc.(thường gọi là Trung nguyên). Do đặc điểm địa lý ấy, Tấn là một nước lớn, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phân bổ thế và lực của nhiều nước xung quanh. Thời cực thịnh của Tấn là thời Tấn Hiếu Công, và sau đó là Tấn Văn công (Trùng Nhĩ) . Vị này là một trong Ngũ bá.

-Tam Tấn : Khi Tấn suy, các quan khanh họ Ngụy, họ Triệu, họ Hàn thỏa thuận chia nước Tấn ra thành ba nước nhỏ là : Ngụy, Hàn, Triệu (gọi chung là Tam Tấn : Ba nước Tấn ... nhỏ ). Trong ba nước này, Triệu mạnh nhất về quân sự, nhất là sau khi thôn tính nước Trung Sơn và nước Đại ở phương Bắc. Còn Ngụy thì có ảnh hưởng lớn về chính trị, văn hóa, nhờ ở vào vị trí trung tâm của Trung quốc thời ấy.

8-QUA CAN : (Qua : giáo- Can = côn : cây gậy) , cũng như “can qua”, nghĩa là côn và giáo, tên các binh khí thời cổ. Từ này ngầm chỉ việc chiến tranh

9-ĐẠI LƯƠNG : tức Biện Lương, kinh đô nước Ngụy, nay là thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc

10-BIÊN THUỲ : Biên cương, biên giới, vùng đất ở ranh giới 2 nước

11-THIÊN DI : Dời đi, chuyển đi nơi khác.

12-NHƯỢC : yếu (phản nghĩa của Cường : mạnh)

13-BẠI VONG : Thất bại, suy sụp, mất nước

14-VƯƠNG TÔN : Dòng dõi con vua cháu chúa. Chỉ giới quý tộc, thượng lưu trong thời cổ xưa.

15-PHÙ VÂN : Mây nổi.

Thơ cổ có câu : “Thiên thượng phù vân như bạch y; Tiêu diêu hốt biến vi thương cẩu”. Nghĩa là “Trên trời mây nổi lơ lửng như chiếc áo trắng; Thoắt một cái đã vội biến thành con chó màu xanh”; ý cả câu muốn nói đến sự thay đổi “Tang thương dâu bể” ở cõi đời này, không có gì tồn tại lâu dài mãi được.

16-TRƯỜNG TỒN : Tồn tại lâu dài, còn lại lâu dài, không bị mất đi.

17-HƯNG VƯỢNG : Thịnh vượng lên, giàu có thêm, phát đạt hơn.

18-ĐIÊU TÀN : Suy tàn, tàn dần, điêu đứng khổ sở.

19-XUẤT XỨ CƠ HÀN : Xuất thân từ chỗ nghèo đói mà ra. (Cơ : đói; Hàn : lạnh)

20-TỒN SINH : (cũng như “Sinh tồn”) nghĩa là sống còn, còn duy trì, còn kéo dài được mạng sống.

21-THIÊN TƯ : Vốn liếng trời cho

22-THÔNG MINH : Tinh anh, sáng láng, sáng suốt, lanh lợi.

23-PHÁP BINH :

-PHÁP : tương tự như khoa “Chính trị học” ngày nay, trọng tâm là cách điều hành một quốc gia, quản lý kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội.

-BINH : tương tự như khoa “Quân sự học” ngày nay; trọng tâm là phép hành quân, đánh trận, tổ chức quân đội.

24-BÁCH GIA CHƯ TỬ : Các bậc thầy (người giỏi) trăm nhà thời Chu.

Mỗi nhà là một trường phái triết học khác nhau, bao gồm Khổng tử,Mạnh tử (Nho), Lão tử (Lão), Mặc tử (Kiêm ái), Tôn tử (Binh), Quỷ Cốc tử (Số), Hàn Phi tử (Pháp gia) v.v......

25-LÃO THÔNG : làu thông, hiểu rõ, thông suốt, thuộc lòng.

26-THUYẾT NAN CỐ SỰ : những chuyện cũ, những sự kiện thời trước được ghi lại trong sách “Thuyết Nan”.

-Thuyết Nan ( Du thuyết khó; Khó mà thuyết phục được người ta) là một pho sách cổ , ghi lại những mẩu chuyện về những người giỏi khoa miệng lưỡi, giỏi biện luận, chuyên dùng lý lẽ để khuất phục các vua chúa thời đó.

27-TRANG BẢN LÃNH : Người có tài năng thực sự về các lãnh vực thực dụng trong cuộc sống.

-Người tài hoa : Người giỏi về các môn nghệ thuật.

28-NINH THÍCH : Một nông dân, gặp vua Tề Hoàn công (Tiểu Bạch) lúc đang ... chăn trâu; được vua Tề trọng dụng, mời ra giúp nước. Ninh Thích là một trong số năm vị quan đầu triều của nước Tề, lúc Tề làm bá chủ chư hầu.

29-TỀ HOÀN : tức Tề Hoàn Công (Tiểu Bạch), vị bá chủ đầu tiên thời Xuân Thu

30-CHU TOÀN : Hoàn thành chu tất mọi việc

31-TRUNG QUÂN BÁO QUỐC : Trung với vua, báo đền ơn nước.

32-TRỊ AN NƯỚC NHÀ : Góp tay vào việc bình trị, cai quản công việc trong nước, khiến cho nước nhà được yên ổn.

33-QUẦN BÔ : Quần may bằng vải bô, một loại vải gai, vải đay, dệt bằng sợi thô, cứng.

34-TIẾN DẪN : Dẫn dắt, tiến cử người có tài lên cấp trên, để cho người ấy được trọng dụng.

35-NÊN DANH : Trở nên người có danh tiếng; Đạt được thành công trong đời.

36-LƯỢC THAO : (Lược : Mưu kế- Thao : Phép dùng binh), nghĩa cũng giống như “Thao lược”, nghĩa là tài năng, mưu trí (trong việc cầm quân, đánh trận)

37-THÀNH BỘC : Địa danh nổi tiếng thời Xuân Thu, nơi xảy ra cuộc giao binh giữa Tấn và Sở. Nguyên soái nước Tấn Tiên Trẩn phá tan quân Sở của Thành Đắc Thần, khiến tướng này phải đâm cổ tự sát

38-TRUY : đuổi theo

39-HÀO ĐÌNH : tức Hào Sơn, cũng gọi là Đông Sơn, nơi Nguyên soái nước Tấn Tiên Trẩn đại phá quân Tần, bắt sống cả 3 viên tướng chỉ huy, trong đó có Mạnh Minh Thị là con trai của Tả thừa tướng Bá Lý Hề, Kiển Bính là con trai Hữu thừa tướng Kiển Thúc, và mãnh tướng Tây Khất Thuật. Ba người này đều là các tướng lãnh giỏi bậc nhất thời ấy.

40-NAM QUẬN : tức Dĩnh Đô, kinh đô nước Sở

41-YÊN KINH : kinh đô nước Yên

42-CỰ LỘC : Một trọng điểm chiến lược về mặt quân sự ở nước Triệu, thuộc tỉnh Hà Bắc. Đồng thời cũng là quê hương bản quán, gốc xuất thân của hoàng gia nước Triệu.

43-HÀM DƯƠNG : kinh đô nước Tần

44-SA TRƯỜNG : Chiến trường

45-TÔN TỬ : tức Tôn Vũ, người nước Tề, làm tướng nước Ngô, có công diệt Sở. Tôn Vũ đã soạn ra một bộ binh pháp bất hủ có tên là “Tôn tử binh pháp” gồm 13 thiên, đến ngày nay vẫn còn giá trị.

-TÔN TẪN : Cháu nội của Tôn Vũ, cũng được người đời gọi là Tôn tử.

Tôn Tẫn học Binh pháp của Quỷ Cốc tử kết hợp cùng binh pháp gia truyền, trở thành một binh gia nổi tiếng không kém gì Tôn Vũ. Ông làm quân sư cho tướng Tề Điền Kỵ, tiêu diệt được Phò mã nước Ngụy Bàng Quyên

Gã Bàng Quyên này vốn là bạn học đồng môn của Tôn Tẫn, vì ghen tài đã phản bạn, chặt đứt gân chân họ Tôn, khiến Tôn Tẫn phải tàn tật suốt đời.

46-NGÔ QUÂN : tức Ngô Khởi người nước Vệ, làm tướng cho Lỗ, Ngụy, Sở. Quân của ông nổi tiếng là “Phụ tử chi binh” (Tướng với quân coi nhau như cha con)

Tôn Vũ và Ngô Khởi được người đời sau xem như 2 vị tướng giỏi nhất mọi thời đại.

47-TÔ TẦN : học trò của Quỷ Cốc tử, nổi tiếng về tài năng “Du thuyết” (đi các nơi, làm thuyết khách, dùng miệng lưỡi chinh phục các vua chúa thời ấy, khiến họ phải nghe theo các sách lược của mình).

-TÔ TẦN là người đề ra chiến lược “Hợp tung” (Hợp 6 nước theo chiều dọc, hình thành thế Đông Tây đối đầu, Đông gồm 6 nước-Tây là nước Tần). Ông du thuyết lục quốc kêu gọi họ liên hợp sức mạnh của 6 nước chống lại nước Tần. Tô Tần là người duy nhất thời Chiến quốc được phong làm “Tướng quốc 6 nước”.

-TRƯƠNG NGHI (bạn đồng môn với Tô Tần) lại đề ra chiến lược “Liên hoành” (Liên kết các nước theo trục ngang, hình thành thế Bắc Nam phân tranh, Bắc gồm Tần, Yên, Triệu-Nam gồm Tề, Hàn, Nguỵ, Sở). Trương Nghi cũng làm đến chức tướng quốc nước Tần (đời Tần Huệ Văn vương, cha của Tần Chiêu Tương vương).

-Hai chiến lược “Hợp tung” và “Liên hoành” giằng co với nhau trong hơn nửa thế kỷ. Lúc thì chiến lược này giành ưu thế, lúc thì chiến lược kia chiếm tiên cơ. Trong đó Tề và Triệu là 2 lực lượng chính, hai lực lượng này nếu chống Tần sẽ hình thành thế “Hợp tung”, nếu hòa hiếu với Tần sẽ tạo nên thế “Liên hoành”.

48-CANH TÂN : (Canh : sửa sang lại – Tân : làm mới lại) = Đổi mới, cải cách, cải tổ

49-NGƯ ÔNG SÔNG VỊ : chỉ Khương Thượng (Khương Tử Nha)

Cũng gọi là Lã Vọng, người đã có thời hàn vi kéo dài đến 70 năm ! Làm ngư ông câu cá ở sông Vị (Vị thủy, Vị hà), đặc biệt lưỡi câu của ông thẳng băng, không có móc câu. Người đời thắc mắc, ông bảo : -“Câu tôm câu cá lưỡi câu phải cong; câu danh câu lợi chẳng cần đến móc !”. Sau được Văn vương trọng dụng, trao cho đại quyền, Khương Thượng đã giúp Võ vương diệt Trụ lập nên nhà Chu

50-NƯƠNG MÌNH : (Nương : nương dựa , nương náu.) Ẩn mình chờ thời

51-TRAU DỒI : dùi mài (cho sắc bén, giỏi giang)

52-XA PHU : người đánh xe; người điều khiển ngựa kéo cỗ xe ngựa

53-ĐẠI PHU : Chức quan văn trung cấp trong các triều đình cổ xưa.

54-GIANG HỒ HÀO SĨ : (Sĩ : người có học – Hào : hào kiệt, người anh hùng) Những người tài giỏi cả văn lẫn võ ở khắp mọi nơi, (Giang hồ : khắp các sông hồ,khắp 4 phương trời)

55-THỦ TÚC : tay chân.

-Tình như thủ túc : tình thắm thiết, gần gũi, không thể chia lìa như tay với chân trong cùng một cơ thể.

56-HÀN NHO : kẻ sĩ nghèo, nho sinh nghèo, học trò nghèo.

57-TẬN NGHĨA TẬN TRUNG : Hết sức hết lòng giữ trọn 2 chữ “Trung, nghĩa”

58-VUN BỒI : vun thêm cho cao, đắp thêm cho dày

59-CÚC CUNG TẬN TUỴ : Dốc lòng cố gắng

60-HIỂM SÂU : bề mặt thì tử tế, tốt lành; nhưng trong đáy lòng thì mưu mô ác độc, chỉ chực lén lút hại người.


========
Truyện thơ

THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ

Bình chú

by HỒNG THẤT CÔNG

(Nguyễn Hồng Bảy)

========


Bình chú đoạn 1


LUẬN VỀ HAI CHỮ “HÀN VI”


1-Sự phân hoá của xã hội


Từ xưa đến nay, ở bất cứ xã hội nào, quốc gia nào, thời đại nào cũng đều có một sự phân hoá giống nhau. Đó là sự phân hoá giàu nghèo. Trong số một trăm người, thường thì chỉ có một người xuất thân từ chăn ấm nệm êm, cửa cao nhà rộng - chín mươi chín người còn lại phải xuất thân từ túng cùng nghèo khổ.


Giữa những người nghèo khổ ấy, lại hình thành ra nhiều tầng nấc khác nhau :


-Sung sướng nhất vẫn là những người nghèo mà không khổ. Chỉ thiếu thốn đôi chút, chật vật vừa phải, hoặc lao động vất vả ở mức độ còn có thể chấp nhận được.


-Kế đến là những người nghèo khổ : vừa nghèo vừa khổ. Người thì gia đình xào xáo, chia lìa. Người thì triền miên bệnh tật, túng thiếu, đói ăn, khát uống. Người thì không có cả đến một mái nhà làm chỗ nương thân. Người thì bôn ba trôi dạt khắp bốn phương trời, lây lất vì miếng cơm manh áo trói buộc mãi không thôi. Người thì suốt đời làm thuê làm mướn, làm tôi làm mọi, hết đời này sang đời khác, chẳng khác nào con sâu cái kiến mà ai cũng có thể dẫm đạp lên được.


-Nhưng cái thành phần khốn khổ nhất vẫn là thành phần trẻ mồ côi, mất cha mất mẹ, bị thân nhân ruồng bỏ, khiến phải sống tha phương cầu thực. Việc cực nhọc nào cũng sẵn sàng làm. Thức ăn bỏ đi nào cũng có thể bỏ vào miệng. Xó hang tối tăm ẩm thấp nào cũng có thể chui rúc, miễn sao là còn giữ được sinh tồn !


Victor Hugo-đại văn hào Pháp- trong nhiều tác phẩm kinh điển của ông, đã từng viết và cảm thương cho cái tầng lớp bị vùi dập ở tận cùng dưới đáy bùn đen của xã hội này.

2-Hai hướng vận động ngược chiều nhau


Dễ dàng nhận thấy có một thực tế dường như “nghịch lý” (trái với lẽ thường), thường xuyên diễn ra, đó là 2 hướng vận động ngược chiều trong tiến trình “vươn lên” của các thành viên trong xã hội :


-Ở vào hoàn cảnh được hưởng mọi tiện nghi vật chất, mọi điều kiện thuận lợi để ăn học, để nên người, để thành đạt cao trong xã hội, một số lớn con cái nhà giàu có đã không biết nắm bắt, tận dụng những lợi thế vô cùng lớn ấy. Họ lơi là việc học tập, buông lỏng việc rèn luyện bản thân, sa đà vào ăn chơi, phí uổng cả tuổi xuân lẫn thời gian cũng như tiền bạc vào những công việc phù phiếm, vô vị, vào những trò giải trí vô bổ, rỗng tuếch; thậm chí trở thành “phá gia chi tử”, phá tan tành sự nghiệp do cha mẹ suốt cả đời chắt chiu, khó nhọc xây dựng.


-Ngược lại, một số không ít con em nhà bần dân lại nỗ lực vươn lên, thực hiện thành công những cuộc “đổi đời” ngoạn mục ! Có người phải lấy khố chuối che thân, có người phải bắt đom đóm thay đèn, có người chuyên “học nước rút” trong những đêm trăng sáng , có người phải học cách dùng que vạch chữ trên cát thay cho giấy bút, có người phải học lóm bên mái hiên trường, có người học hoàn toàn bằng sách vở, tư liệu đi mượn của kẻ khác. Cuối cùng thì nỗ lực của họ cũng được đền đáp xứng đáng. Thật đáng khen làm sao. Thật vẻ vang làm sao !

Sử sách xưa và nay đã ghi nhận rất nhiều những trường hợp ngược đời như vậy .


Có thể nói được rằng : Sự sung túc -không biết tận dụng- sẽ làm mất động cơ tiến lên, làm thoái hoá trì trệ con người. Còn nghèo khổ - vốn không phải là trái ngọt để người ta ưa thích hay ham muốn - nhưng xét trên một bình diện nào đó, chính “sự nghèo khổ” cũng có ý nghĩa tích cực của nó. Nó đã trở thành chất xúc tác, nguồn động lực kích thích người ta vươn lên, thoát ra khỏi ... chính nó vậy ! .


3-Trở lại cùng nhân vật Phạm Thư


Qua chỉ một vài dòng khắc hoạ sơ lược của HSN, ta cũng thấy được một con người xuất thân cùng khổ :-“Mẹ cha mất sớm, họ hàng lìa xa, trôi dạt đây đó, việc gì cũng làm, chăm chỉ học tập v.v...”

Đứa trẻ mồ côi cha mẹ - từ khi 12 tuổi này - đã mất đến 18 năm lăn lộn vất vả để cuối cùng trở thành một “trang bản lãnh, người tài hoa, tài năng chuyển đất rung trời, hào sĩ giang hồ đều kính nhường, thân như thủ túc v.v...”

Mười tám năm lăn lóc dưới đáy xã hội ! Mười tám năm xuất thân từ hoàn cảnh khốn cùng, con người ấy đã phải trải qua biết bao gian nan, cực khổ ! Người viết không nói rõ, nhưng chúng ta đều có thể tưởng tượng ra được sự khốn khó cùng cực, ý chí vươn lên mạnh mẽ của con người ấy là vô cùng ! Vô cùng !


Ý chí vươn lên ấy có thể là gương sáng cho nhiều người, thuộc mọi thời đại khác nhau, cùng noi theo vậy.


Xin có thơ rằng :

Quản chi cơ cực lúc đầu đời

Nuốt trôi vị đắng giọt sầu rơi

Bền chí, công thành danh hiển đạt

Hơn nhau một chút ấy mà thôi.


Hồng Thất Công


=========================



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả