Ngày về

- Mầy mới về đó hả Hai?

- Dạ, con mới về sáng nay. Bác Sáu khoẻ không?

- Khỏe cái con khỉ khô, bệnh mấy năm nay trị hoài không hết con ơi. À, mầy đi quá lâu mà còn nhớ tên tao?

- Dạ..

Làm sao tôi quên được người đàn bà cao hơn 1.7 m, có tướng đi hai hàng, miệng nhai trầu, đầu độỉi cái thúng thuốc xĩa đi qua nhà tôi mỗi sáng sớm. Bà là vợ nhỏ của bác sáu Cao bên cầu chùa. Cả làng ai cũng phục bác sáu trai khi hai bà vợ ở chung nhau mà không nghe tiếng cải vã. Bác thích và hãnh diện khi ai nhắc đến chuyện này. Với nụ cười kiêu hãnh nhưng mãn nguyện, bác nói: “Tề gia trị nước bình thiên hạ là nghề của tui. Phải chi hồi nhỏ không bỏ học đi theo gánh hát bội thì bây giờ tui cũng làm xã trưởng chứ không phải chơi đâu..”. Bác quá tự tin nhưng chuyện tề gia thì rất đúng. Mười năm sống chung mà làng xóm không nghe tiếng 2 bà tiếng qua tiếng lại, đôi khi còn thấy họ bắt chí cho nhau.

Khách đến thăm càng lúc càng đông. Họ ngồi chật cả phòng khách. Không đủ chổ nên một số kéo nhau ra sân trước chờ đến phiên mình thăm hỏi thằng Hai đi xa mới về. Nhìn guốc, dép nằm ngổn ngang trước bật thềm, tôi đoán ít nhất cũng hai chục khách trong căn phòng mà ngày xưa mình hay ngũ trưa, trên bộ ván gổ cẩm lai 3 đời truyền lại. Cái quạt bàn chạy bằng bình điện quay ở tốc độ tối đa mà không xua bớt đi cái nóng. Năm gói thuốc 555 “ngoại” giờ đây chỉ còn những cái vỏ nhàu nát. Tôi thầm cười khi điếu hút, điếu vắt lổ tai mỗi khi khách cáo từ ra về. Ngay cả thằng cu ngoài 10 tuổi cũng xin một điếu về cho tía nó sau khi chuyển lời thăm hỏi:

- Tía con bận đi ruộng nên không đến thăm chú Việt kiều
được. Ngày mai tát mương tía mời chú đến nhậu cá lóc. Thôi con dìa.

Bình trà được châm thêm lần nửa. Bà tám Thẹo cứ tấm tắt khen trà ngoại thơm và tiện nhưng cứ tiếc mãi bịch còn đậâm mà bỏ phí. Thịêt là xài như Mỹ.

Mồ hôi đã lấm tấm đổ. Nụ cười xã giao đã bắt đầu héo dần trên khuôn mặt mệt mỏi của người trai làng trở về quê củ. Hành trình quá dài từ Canada với hai mươi tiếng bay, năm tiếng chờ mất ngũ ở phi trường và nửa buổi xe đò từ Sài Gòn làm tôi bơ phờ rã rượi.

- Người đâu mà nhiều vậy má? Con mệt quá rồi, chỉ muốn ngũ mà thôi.

- Ráng đi con. Người ta thương mình mới đến thăm, vả lại con đi hơn 10 năm chứ phải vài tháng sao, họ cũng tò mò tìm hiểu. Người dân quê mình là thế, cái tình chòm xóm mà con.
Là Việt kiều đầu tiên trở về làng nên tạo sự chú ý lớn trong cái xã hội êm đềm, ít đổi thay nầy. Tôi không ngạc nhiên với cái tình cảm mà họ đã dành cho mình hôm nay. Hai mươi bốn tuổi rời làng ra đi nhưng tôi đã nhận thức được cái tình và cái cảm mà nó luôn có trong những người dân chất phác hiền hoà sống hai bên bờ sông Cửu Long phù sa nước ngọt. Ra đi trong cái biến động của thời thế, theo sự cuốn hút của định mệnh để rồi hối tiếc đắng cay trong những năm tháng lưu lạc nơi xứ người.

Cuối cùng mọi người ra về hết. Căn nhà trở lại cái yên tĩnh của nó. Trơiụ đã bắt đầu có gió. Bụi tre sau hè lay động uốn éo theo ngọn gió đùa tạo ra những tiếng xào xạt đầy kỹ niệm. Cũng nơi đây và dưới bụi tre nầy, những nồi bánh tét tết được nấu suốt đêm 30 để mùng một tết có mà cúng ông bà. Đối với tôi, trong thời thơ ấu thì đêm giao thừa là đêm dài nhất trong năm. Ngồi canh lửa nồi bánh mà đầu cứ nghĩ đến những bao lì xì được làm bằng giấy báo dán cơm nguôỉi mà tôi sẽ có ngày mai. Là cháu đích tôn nên năm nào tôi cũng nhận nhiều tiền hơn anh em trong ho,ỉ thêm vào cái tài ma lanh. Cô Hai tôi không chồng nhưng giàu nhất họ. Cô bị tật lãng trí quên trước quên sau nên bị thằng cháu gạt:

- Cô quên lì xì cho con .

- Tao nhớ đã cho mầy rồi mà .

- Dạ không, con đứng sau con Ài và con Thiết nên cô không thấy đó thôi, đầu năm con nói láo cô làm chi, sui lắm.

- Ừ hé, có lẽ tao quên.

Cô nhiều cháu qúa nên không nhớ hết đám cháu lũ khũ như đàn gà con nhiều mẹ. Thế mà ngày cô mất tôi không có bên cạnh để cô gởi gắm thằng cháu đích tôn nối giõi tông đường cho thân tộc. Má tôi kể mổi khi cô bệnh dù nặng hay nhẹ cô thường trối: "Lạy trời cho nó bình yên trở về trước khi tui theo ông theo bà. Bôn ba chi xứ người khi mình con hai tay, chục công ruộng, gần 20 chục công vuờn..". Một thời đã qua cho hai thế hệ, một nổi lòng thương nhớ khôn nguôi.

Đêm nay sao dài quá mà lại không trăng. Bây giờ là buổi trưa ở Toronto, 12 múi giờ cách biệt nên tôi không tài nào ngũ được. Trăn qua trở lại nghe thằn lằn chắt lưởi, chuột chạy trên mái đuổi nhau kêu chí choé. Điện vẫn chưa kéo được về làng. Gần một phần tư thế kỹ không ngũ dưới ngọn đèn dầu leo lét nên thấy màn đêm dầy đặt như có thể cắt ra từng mảnh. Muổi tháng 9 từng đàn ẩn hiện bên ngoài cái mùng chờ cơ hội.

- Nhớ tấn mùng kỹ nghe con, thịt con nhiều bơ sữa lũ muổi không bỏ qua đâu.

Mẹ tôi đốt cây nhang muổi để dưới chân giường rồi dặn dò vài câu trước khi đi ngũ. Trong bóng đêm mập mơ,ụ dưới ánh đèn dầu, hình ảnh mẹ thời son trẻ khơi dậy đậm nét trong tôi. Cũng dưới căn nhà này, cũng trong đêm khuya tối mờ, tối mịt như đêm nay, nhìn qua kẻ hở của vách ván ngăn phòng ngũ với căn bếp tôi thấy mẹ một tay bế em gục đầu ngũ ngon trên vai một tay đẩy cái cối đá xây bột nặng gần 30kg để xây gạo làm bánh tráng cho những ngày tết sắp đến. 20Kg gạo phải xong đêm ấy để ngày mai đem đến lò bánh cho người ta tráng ăn công. Cái trần nhà cây lợp lá đung dưa kẻo kẹt theo sức đẩy nặng nhọc của mẹ đến cây đòn mà một đầu treo trên trần, một đầu gắn vào cái cối. Mồ hôi đẩm ướt lấp lánh trên khuôn mặt gầy của nàng dâu trưởng. Năm ấy tôi đã 6 tuổi nhưng không đêm nào ngũ được nếu không có hơi của mẹ và tiếng à ơ êm ái. Ba tôi thì đi làm xa, ông để lại người vợ cho một đại gia đình mà trăm cay ngàn đắng đổ dồn lên đầu người dâu duy nhất của dòng họ. Bà nội tôi rất hiền và luôn che chở cho mẹ từ những mũi tấn công của 3 cô em chồng, nhưng bất lực trước cái khó khăn quá mức của các cô. Cô Hai là chị chồng duy nhất biết thương và bảo vệ mẹ. Thế nhưng bà không may mắn vì cô chết sớm do bệnh viêm gan C.

Cô Sáu tôi cũng sắp xỉ 20 nhưng khuôn mặt như gái 16. Cô chưa từng làm động móng tay và không bao giờ ra đồng án. Cô ở chung nhà nhưng mọi việc từ trong ra ngoài đều do mẹ tôi đảm nhận lo toan. Cô được cưng chìu và được nội cho ăn học nên chữ nghĩa nhiều hơn mẹ, đó cũng là lý do chính đáng để cô không làm việc nhà.

- Tui cũng muốn giúp chị Ba lắm nhưng sợ làm nhiều đầu óc không thanh thản để tiếp thu chữ nghĩa. Chỉ còn 1 năm nửa là tui thi lấy bằng “đíp lôm”, phải nghỉ ngơi lấy sức mà học chứ! À, ngày mai chị giặt cho tui mấy cái đồ lót, tui đánh dấu hết rồi đó, coi chừng lộn đó nghe không”

Cô Sáu văn chương của tôi là thế đấy, và cũng là cái nguồn gốc đai nghiến mẹ tôi trong suốt cuộc đời của bà. Năm sau cô bỏ giấc mơ lấy bằng “đíp lôm” để đi lấy chồng ở núi Ba Thê. Hình như cô cũng có đứa em chồng không khác chi cô, tôi thường thấy cô nức nở, mặt đầm đìa nước mắt mỗi khi trở về kể lể với ông bà nội. Không như mẹ âm thầm chịu đựng, cô gào thét như con heo bị cắt tiết. Nhiều lúc cô gọi mẹ lên ngồi cạnh để nghe những lời ai oán. Có lẽ lúc ấy là thời gian duy nhất cô “gần gũi” vớiâ chị dâu mà cũng là người hầu không lương của cô.

- Chị Ba nghĩ coi, tui là người có học, hiền từ thế mà 2 con đĩ dốt bên ấy không để tôi yên. Chị có công nhận với tui không? – Mẹ tôi cũng gật gù cho qua chuyện.

Sau cơn mưa trời lại..bão. Rồi đâu cũng vào đó. Đai nghiến lại bắt đầu khi nước mắt cô chưa khô trên khuôn mặt đầy son phấn. Bà nội tôi thường an ủi mẹ: Tuy không nằm trong tứ khắc Dần Thân Tỵ Hợi tứ hành xung nhưng me tôi và cô sinh trùng vào giờ Tuất. Có lẽ thế nhưng tôi biết chắc mẹ cầm tin con chó xù chưa từng biết cắn hay sủa ai bao giờ. Một tháng sau khi cô lấy chồng mẹ tôi lên cân thấy rõ. Tuy công việc nhà vẫn như thế , vẫn làm việc tới tối mịt nhưng tâm hồn thanh thản hơn nhiều, mà tôi cũng vui vì mẹ không cần lén lút dấu đồ ăn ngon cho tôi nửa.

Hình như mẹ chỉ học đến lớp 5 thì nghĩ ở nhà phụ ông ngoại trồng khoai cho đến khi có người mai mối cho ba tôi. Khi định cư ở Canada thĩnh thoảng tôi nhận được những bức thư của mẹ gởi qua đường bưu điện. Nhìn những chữ viết ngã nghiêng, không thẳng hàng, trật đầy chính tả làm tôi khóc nức nở vì thương cái mộc mạc đầy tình mẫu tử. Cầm chặt lá thư như sợ gió cuốn đi, tôi ưu ái đọc chầm chậm để từng chữ một thấm vào dòng máu đỏ của mẹ ban cho mình.

- Tuyên con, dù làm gì cũng nhớ mua gạo mà nấu cơm chứ ăn ba cái đồ tây nó không chắc bụng đâu.. Nhớ xứt dầu Nhị Thiên Đường lên rún trước khi ngũ kẻo đau bụng..

Với tôi mẹ là người đàn bà tuyệt vời nhất trên thế gian này. Bà là ánh đèn nhân hậu chiếu sáng cả dòng họ. Là luồn gío ấm làm tan dần đi những ích kỹ tỵ hiềm có lâu đời trong các cô tôi. Mẹ tuy ốm nhưng rất dẻo dai, bà có sức mạnh ngầm kỳ lạ và một tấm lòng vị tha, thơm ngọt như những củ khoai mà mẹ trồng thời son trẻ.

Gần 2 giờ sáng mà vẫn chưa ngũ được. Tay cầm cây đèn dầu tôi lần mò xuống căn nhà gổ củ . Nó vẫn được giử hình dáng nguyên thủy như ngày tôi ra đi, không biết vì còn quá nhiều kỹ niệm mà mẹ muốn giữ lại hay những cây cột cây kèo làm bằng gổ Cẩm Lai còn quá tốt để bà không nở phá xây lại như căn nhà phía trước.

Đứng trước bật thềm mà lòng thổn thức. Mới đây mà đã hơn 40 năm. Cái cối đá vẫn còn nằm trong góc nhà. Nó vẫn thế, vẫn mạnh khoẻ rắn chắc như năm nào, chỉ tội cho mẹ đang bị thời gian làm hao mòn cằn cổi. Xa xa bên kia góc nha,ụ khuất sau cái tủ đựng chén bát, nơi mà ngày xưa mẹ đứng khóc sau khi cô Sáu tạt tô cháo nóng vào người vì mẹ quên trái ớt trong tô cháo của cô. Như heo bị cắt tiết cô rống lên:

- Tía má coi đó, nó biết tui không ăn được ớt mà. Nó muốn giết tui để dành cái phần hồi môn của tui mà. Trời ơi xuống mà coi..”.

Tối đêm đó mẹ không nằm nghiêng bên trái để ôm tôi như mọi hôm vì cái phỏng từ ngực xuống phía bên đùi trái. Nhà chỉ có một chai dầu Nhị Thiên Đường mà cô Út giữ lấy nên mẹ phải bôi nước mắm để trị phỏng. Năm ấy hình như là năm 1962, năm tôi đậu bằng tiểu học và “bị” ông nội dắt đi khắp xóm khoe thằng cháu “thông minh xuất chúng”.

Gia đình tôi có 14 người, kể cả 6 anh em tôi trong căn nhà 3 gian to rộng mà mẹ là lao động chính. Tuy chưa biết cách sinh hoạt của một đại gia đình miền quê như thế nào nhưng tôi tin chắc rằng ai cũng thấy được cái bề bộn xáo trộn của một xã hội nhỏ mà nó cần nhiều công sức để đi vào nề nếp. Riêng chuyện quét và lau hết 3 gian nhà gạch tàu cũng đủ làm mẹ mệt lã, chưa kể vô số chuyện phục vụ cha mẹ và em chồng. Tuy thế mẹ vẫn không quên đàn con sinh năm một đang leo nheo chờ mẹ đút mồi. Mẹ biết sở thích những món ăn của từng đứa, khổ nổi những món ngon ấy thường trùng với khẩu vị của ông bà nội hoặc các cô nên khó mà dấu để dành cho con. Hai con cá trê vàng chiên là hai con phải “trình diện” trên dĩa nước mắm gừng, nửa ký thịt là phải kho sao cho giống nửa ký thịt, khó mà qua mặt 3 cô em chồng lúc nào cũng để mắt trông chừng. Vì bàn ăn nhỏ nên mổi bữa cơm được chia làm 2 nhóm trước sau. Là cháu đích tôn nên tôi được ăn trước với ông nội và các cô. Me, bà nội (ông bà nội không ăn chung vì tuổi già khó tính) và 5 em phải ăn sau với những gì còn lại, thường thì vài miếng mỡ nổi lềnh bềnh trong tô thịt kho hoặc vài đầu cá chiên với những bộ xương trơ trọi nằm vắt lên nhau. Đang ăn mà nghĩ đến những gì còn lại cho phần mẹ, miếng cơm bổng nghẹn đắng trong cổ tôi. Vì thương mẹ và các em nên đôi khi tôi “lở tay” bỏ nhiều ớt trong tô thịt kho hoặc thêm muối vào canh để các cô không ăn được. Nhờ vậy mà các em tôi đứa nào cũng ăn được ớt cay nồng.

Theo tôi, xã hội thường quên đi công khó nhọc của những người dâu ngày đêm hầu cận, chăm sóc cha mẹ chồng. Người ta luôn ca tụng lòng hiếu thảo của những đứa con từ phương xa trở về qua gói qùa to đầy màu sắc mà quên chun trà chén thuốc của nàng dâu trong những đêm trái gío trở trời.

Một cơn gió mạnh làm cây đèn dầu tắt lịm. Hai tay lần mò trong đêm tối để tìm lối lên nhà trên, nước mắt tôi bổng ứa ra khi kỹ niệm xưa và hình bóng người mẹ trẻ đầy sinh lực đã tan biến trong màn đêm. Một đoạn đời đau khổ quá dài cho một kiếp người, phần còn lại chỉ là những vết sẹo loan lổ đã ghi sâu vào tâm hồn một người đàn bà khổ cực, một người mà suốt đời chỉ biết sống cho những người mình yêu thương và và cho cả những người không biết yêu thương mình.

Chắc chắn đêm nay tôi sẽ không ngũ được.

T.U



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả