Những Nghi Lễ và Chánh Tín Trong Phật Giáo

(Đây chỉ là một ý kiến nhỏ để cùng nhau tham khảo . Nếu có gì sai trái với Lý thuyết Phật đà trong Chánh tín cũng như Nghi lễ, kính mong qúy vị tận tình góp ý! - HN)

Có một vài ngộ nhận đáng tiếc của một số người, bảo rằng Đạo Phật là đạo thờ cúng: Cúng trời, cúng đất, cúng sao, cúng giếng, cúng ao, cúng ông Táo, cúng thần, cúng giải hạn, v.v. Cũng có số người lầm lẫn đến nỗi mang những thức ăn bất tịnh như thịt, cá, tôm, cua đặt trên bàn Phật để cầu cho ông bà, cha mẹ. Lại có một số người cho rằng Đức Quán Thế Âm là Phật Bà, luôn ban bố phước lành cho chúng sanh, nên luôn đến trước bàn thờ “Phật Bà” để cầu được trúng số, làm ăn phát đạt, có lời lãi v.v. Lại có những Phật tử mua áo giấy, tiền giấy, giấy vàng bạc, để đốt cúng cho ông bà cha mẹ quá cố của mình, rồi cho rằng đây là nghi lễ trong Đạo Phật. Những suy nghĩ, việc làm sai lầm này gây tiếng xấu cho Phật Giáo không ít. Cho nên, hễ nghe nói đến cúng tế thì người ta cứ hay hỏi rằng: Anh/chị theo đạo Phật hả?

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát không phải là Phật Bà, Bà Phật gì cả. Ngài là một vị Phật. Hơn nữa, trong kinh đã nói: giới nữ, nếu tu chứng, phải đổi thành thân dạng đàn ông trước khi thành Phật... Đã là Phật thì trình độ giác ngộ ngang nhau, không cao, chẳng thấp; không lớn, chẳng bé. Tất cả các Đức Phật đều hoàn toàn triệt để giác ngộ, thấu rõ vô chướng ngại về nhân sinh và vũ trụ.

Vô lượng hằng hà sa số kiếp về trước, tại thế giới San-Đề-Lam, có Đức Bảo Tạng Như Lai ra đời hóa độ chúng sinh. Thời bấy giờ có đức vua Vô Tránh Niệm phát 48 Đại Nguyện nhiếp thọ chúng sinh (xin đọc 48 Đại Nguyện của Đức A Di Đà để biết tại sao khi chúng sinh thoát khỏi Tam giới thì không còn mang thân dạng đàn bà nữa). Cùng thời, thái tử Thất Huyền, trưởng tử của vua, cũng đã phát nguyện rằng: “Sau này, tôi tu Bồ Tát hạnh, nếu chúng sanh nào gặp phải sầu lo, cơ cùng, không chỗ nương tựa; nếu kẻ ấy nhớ đến tôi, xưng danh hiệu tôi, được thiên nhãn tôi thấy đến, thiên nhĩ tôi nghe đến, tức thì chúng sinh đó sẽ được tôi cứu thoát khỏi sự khổ não, khủng bố đó”. Do đó, Đức Bảo Tạng Như Lai đã thọ ký cho vua Tránh Niệm và thái tử Thất Huyền. Qua quá trình tu tập với tâm nguyện rộng lớn vô biên của đức vua Tránh Niệm, Ngài đã thành Phật, hiệu A-Di-Đà, với một thế giới vô cùng an vui, thanh tịnh gọi là Cực Lạc. Và, với hạnh nguyện phi thường và tình thương yêu rộng lớn, thái tử Thất Huyền đã trở thành Đức Quán Thế Âm (Quán Thế Âm nghĩa là luôn luôn lo lắng, quán sát âm thanh đau khổ của chúng sinh).

Trải qua vô số kiếp đến nay, Đức A-Di-Đà ở cõi Tây Phương Tịnh Độ và Đức Quán Thế Âm hóa thân khắp chốn, đã cứu độ vô vạn chúng sinh. “Thập phương chư quốc độ, vô sát bất hiện thân”, không có một cõi nào mà Đức Quán Thế Âm không hiển hiện. Nguyện của Ngài là: “Trong thế giới Sa Bà này, nếu còn một tiếng van rên của một chúng sinh, tôi thề không nhập Niết Bàn”. Ôi, tình thương yêu bao la của Ngài như vậy đó! Không ích kỷ. Không phân biệt. Như ánh nắng ấm áp của mặt trời, như ánh sáng thanh dịu của mặt trăng phổ chiếu công bình khắp nơi cùng chốn. Tay của Ngài luôn cầm bình nước Cam Lồ (ngon ngọt) để tưới rót trên những nỗi khổ đau của trần thế. Mẹ hiền Quán Âm! Có một tình thương nào bao la, dào dạt hơn tình thương của mẹ? Cha cũng thương con, nhưng thương trong chiều hướng giáo dục nghiêm túc. Chỉ có mẹ thương con thiết thực tự đáy lòng, cao vút như mây ngàn, bao la tựa biển cả, ngọt ngào giống chuối hương; không e nệ, không đắn đo, không suy nghĩ, không cân nhắc. Do đó, Mẹ là hình ảnh mà Đức Quán Thế Âm thường hay chọn để hiện thân trong mọi cảnh cứu vớt. Ngài không phải là Phật bà!

Đạo Phật là Đạo Cứu Khổ. Hương vị của Đạo Phật là hương vị giải thoát. Mục đích gần của Đạo Phật là đào tạo con người hướng thiện, thành một phần tử tốt giúp ích cho gia đình, xã hội. Mục đích xa của Đạo Phật là đưa con người ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, đạt đến trạng thái Chân Như Tịch Tịnh (Niết Bàn).

Đạo Phật không chủ trương thờ cúng vu vơ. Đạo Phật không cúng sao, cúng hạn, cúng đất, cúng thần, cúng bếp núc, cúng giếng, cúng ao... Mà, ngoài những nghi thức lễ Khánh Đản, Xuất Gia, Thành Đạo, Vu Lan, Sám Hối, An Vị Phật, Cúng Phật, Quá Đường, các khóa Công Phu, còn có hai lễ chính thức được thừa nhận trong Phật giáo. Đó là Cầu an và Cầu siêu.

Cầu an là nghi lễ nhắm vào người sống. Vì đương sự thiếu điều kiện thuận lợi trong chí nguyện tu học, vì căn cơ thấp kém do những ác nghiệp mà đương sự đã gây ra trong kiếp trước, vì nghiệp chướng nặng nề do sự vụng tu ở tiền kiếp, vì sức khỏe yếu kém do kiếp trước hay sát hại sinh linh, vì tâm hay động vọng do kiếp trước hay xúi bậy, vọng tưởng... cho nên, cầu Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát gia hộ cho đương sự thân tâm an lạc, tật bịnh tiêu trừ, những ách hiểm mau sớm được giải hồi, để đương sự có đủ duyên phước và điều kiện thuận lợi cho việc tu học.

Cầu siêu là nghi lễ của người sống nhắm vào người đã chết. Nghi thức này có hai tác dụng: một là trực tiếp giúp cho người chết “hốt nhiên đại ngộ” sau khi được văn Kinh thính Pháp để chuyển kiếp, xoay hướng, định đoạt cho kiếp lai sinh của mình; hai là gián tiếp hồi hướng công đức tụng kinh, niệm Phật, ăn chay, bố thí, cúng dường, trì giới... (nếu có) cho hương linh đó, để giúp cho họ hết khổ được vui, tạo duyên tăng thượng cho họ. Nhưng vạn nhất đều phải nhất tâm cầu nguyện khi đó thần giao cách cảm mới có diệu dụng. Có đồng thanh tương ứng thì mới đồng khí tương cầu. Cũng nên nói thêm cho rõ: Trong thời gian tối thiểu là 49 ngày, nếu hương linh chưa quyết định nơi chốn đầu thai, đang còn dật dờ vờ vật, thì sự cầu nguyện của người sống có ảnh hưởng trực tiếp là đả thông, khai ngộ cho hương linh đó (nhờ lực chí tâm của người sống) mà họ quyết định nơi chốn đầu thai ở một cấp bậc cao hơn, ngon lành hơn thay vì đọa lạc; thay vì đọa vào địa ngục thì được làm súc sinh hoặc làm người, thay vì làm người thì được làm trời v.v. Đây là một phương pháp giúp một phần sức lực để đẩy họ qua hố thẳm. Khi hương linh đó đã đầu thai rồi, phương pháp cầu siêu vẫn còn hữu dụng, nhưng tác dụng của nó chỉ giúp cho đương sự đó sung túc hơn, thỏa mái hơn, ngon lành hơn mà thôi, chứ không có khả năng chuyển kiếp.

Trọng tâm của Đạo Phật là điều chỉnh cái Tâm. Tâm là chủ nhân ông, là sự ràng buộc, sở cầu, hoặc đoạt định giải thoát. Trong tất cả ba nghiệp, tâm là mấu chốt dẫn đến sinh tử luân hồi. Hai hành động như nhau, nhưng diệu dụng lại khác xa nhau: Giết một sinh mạng để cứu muôn dân, đó là tâm từ bi. Giết một sinh mạng để thỏa cơn giận, đó là tâm đố kỵ, hờn ghét, giận dữ...

Như đã biết, Tâm rất quan trọng. Tâm là mối giao tiếp giữa Phật, Bồ Tát với con người. Trong khi lễ Phật, niệm Phật, phải giữ Tâm cho được chí thành, cung kính, thanh tịnh, không nên để cho nó động vọng, lo ra, thì sự cầu nguyện mới hữu hiệu. Nếu Tâm cứ nghĩ đâu đâu, nghĩ chuyện nay, mai, trên trời, dưới đất, thì dù có đọc một ngàn bài kinh, một vạn câu niệm cũng chẳng ăn thua gì. Chính vì vậy, nên khi làm lễ Cầu An, Cầu Siêu..., vị chủ lễ nên làm càng ngắn gọn càng tốt. Nên đọc những bài kinh, chú nào cần thiết. Chẳng hạn như đọc chú Tiêu Tai Cát Tường khi cầu an, đọc chú Vãng Sanh khi cầu siêu, đọc Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn khi sám hối. Nhiều nơi hay đọc tùm lum, chú nào cũng đọc trong những khóa lễ khác biệt. Vẫn biết đọc kinh, đọc chú càng nhiều càng thêm phước báu, nhưng làm như vậy hoàn toàn không đúng theo nghi thức. Khi dâng sớ cầu siêu nhiều người, vị chủ lễ chỉ nên đọc tên người quá cố mà thôi, không nên đọc địa chỉ, điện thoại để tránh trường hợp Phật tử đang dự lễ chắp tay đợi lâu, phân tâm, lo ra, nóng ruột, mệt mỏi làm cho buổi lễ mất phần chú tâm, linh ứng. Thêm một vài điểm sau cần nên tránh:

- Chúng ta nên để riêng một bộ đồ không nhất thiết phải đẹp nhưng đủ trang nghiêm, sạch sẽ để đi chùa, lễ Phật. Nam giới không nên mặc quần sọt (quần đùi - quần ống ngắn), mà nên mặc quần dài, áo sơ-mi.

- Không nên thắp hương (nhang) nhiều trên bàn Phật. Để ý rằng, trên ly hương đã có người đốt hương rồi thì thôi, mình chỉ đảnh lễ Phật là đủ rồi. Trường hợp một người đốt một cây hương, khói um tùm, hít vào rất dễ bị bệnh, không lợi ích. Phật không độ những ai đốt hương nhiều đâu, chỉ làm cho chùa, Phật mau đen vì khói bám mà thôi.

- Những ai biết gõ mõ, đánh chuông thì nên gõ, đánh. Nếu không biết gõ mõ thì không nên miễn cưỡng (ngoại trừ trường hợp bất đắc dĩ - nghĩa là thiếu người hoặc không có ai biết gõ). Vì gõ không đúng, không nhịp nhàng thì sự hòa âm tụng niệm của mọi Phật tử bên dưới không ăn khớp nhau, rời rạc, mất đi phần linh nghiệm trong khi cầu nguyện. Đã có một vài bài báo viết về cách thức tụng kinh, đánh chuông, gõ mõ, chúng ta nên tìm đọc để học hỏi.

Một điều đáng chú ý nữa là do nhu cầu kinh doanh trong lãnh vực kinh tế mà ngày nay mấy ông bà chủ hãng thường hay in hình các Đức Phật trên mặt hàng để thu hút khách hàng: mì hiệu Quán Âm, bún Phật Bà, rồi in hình Đức Phật Thích Ca, Đức Bồ Tát Quán Thế Âm... trên những gói bún, những bó hương, trên những chai nước tương v.v. Sau khi dùng xong, ta lại vô ý dụt vào thùng rác dơ bẩn. Đây là một sự kinh doanh thiếu thận trọng, thiếu Phật pháp, mất tính trang nghiêm của các ông bà chủ. Thế nhưng, nếu khách hàng mua về, dùng xong, dụt bỏ bậy bạ sẽ chuốc tội bất kính với Tam Bảo. Nếu đã lỡ mua những thứ ăn có in sẵn hình Chư Phật, hãy nên để những thứ đó vào những nơi sạch sẽ và đốt hình sau khi dùng xong. Nhưng tốt nhất là đừng mua những sản phẩm có in hình Phật.

Đạo Phật rất khoa học và triết lý nếu đứng trên hai lãnh vực đó mà nói. Đạo Phật là Đạo của Trí Huệ Bát Nhã. Đạo Phật hoàn toàn không chủ trương thờ cúng. Nếu nói Đạo Phật là một đạo giáo thì đó là một cách nói du di mà thôi, chứ không đúng cho lắm. Mặc khác, Đạo Phật rất bình đẳng, từ bi; là đạo cứu khổ. Phật Pháp bất ly Thế gian Pháp. Không có khổ não của chúng sanh, thì không bao giờ có sự hiện hữu của Đạo Phật trong thế gian này. Cách đây hơn 2500 năm, tại thời điểm mà khoa học đang còn trong bóng tối mịt mù, Đức Phật đã chỉ rõ rằng vũ trụ vô cùng rộng lớn, có đến “tam thiên Đại thiên thế giới”, nghĩa là ba ngàn Đại thiên thế giới (xin xem thêm kinh Phật để biết). Ngày nay khoa học đã chiêm nghiệm được điều đó. Ngài cũng đã dạy: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Ngài đã hoàn toàn giác ngộ, thấu triệt về nhân sinh quan và vũ trụ quan. Ngài đã dùng ngón tay để chỉ mặt trăng và bảo các đệ tử: “Đừng tưởng lầm ngón tay của ta là mặt trăng”. Thật vậy, Ngài tuyệt đối không dạy đệ tử của mình hãy nên chỉ tin vào Ngài, phục dịch Ngài thì mới được cứu thoát. Hoàn toàn không! Không có một vị giáo chủ nào tuyên bố như Đức Thích Ca cả! Mà, Ngài đã chứng ngộ được con đường đi đến giải thoát và chỉ cho chúng sanh con đường đó - Con Đường Chân Lý, bất di bất dịch dù thời gian có cùng và không gian có tận! Con đường mà Ngài đặt dưới 84000 pháp môn tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh mà bước lên để dẫn tới cùng chung một điểm: Giải Thoát Sinh Tử - Chứng Đạo Bồ Đề. Cho nên, sau 45 năm thuyết pháp, Ngài đã tuyên bố rằng: “Trong suốt 45 năm thuyết pháp, ta chưa từng nói một lời nào cả!” Ô hay, Giáo pháp, lời dạy của Ngài nay chép lại, phân tích không biết bao nhiêu tạng (Kinh Tạng, Luật Tạng, Luận Tạng, Tạp Tạng, Bí mật Tạng); dù người đời có sống dai hàng ngàn tuổi cũng chưa chắc học hết, thì tại sao Ngài nói như vậy? Đây mới là câu nói trung thực, khiêm tốn, tế nhị nhất của Đấng Từ Phụ. Đúng vậy, trong quá trình thuyết pháp của Ngài, Ngài không chế ra, không thêm, không bớt, không tô, không điểm; mà là những lời dạy chân lý hợp với khế lý, khế cơ của chúng sanh. Nghĩa là, Ngài chỉ nói lại chân lý đó thôi. Nhà bác học Newton đã tìm ra Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn, không phải là ông Newton đã chế ra định luật đó, hoặc không phải là luật hấp dẫn đã chưa có trước khi ông ta tìm ra, mà luật hấp dẫn đó đã hằng trường tồn trong vũ trụ tự thuở nào. Đức Phật đã hiểu rõ cội nguồn, nguyên nhân của đau khổ và chỉ cho chúng ta cách thức diệt nó mà thôi.

Vạn vật đều do nhân duyên mà hình thành. Tội, phước đều do nghiệp lực chi phối. Sự hình thành thế giới, vạn vật trong muôn hình, ngàn vẻ đều do nghiệp mà cấu trúc. (Nếu có cơ hội, chúng tôi sẽ trình bày về Phật giáo - khoa học, và sự cấu thành của thế giới có liên quan mật thiết với nghiệp lực để chúng ta thấy rõ ràng hơn). Đời người duy hữu nghiệp tùy thân, “cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa”. Nếu muốn chuyển nghiệp lực của mình thành tốt hơn, hướng thượng hơn thì nên cần chuyên tu, và trong kinh Phật đã chỉ rõ phương pháp. Không có ngôi sao nào chi phối đời sống mình cả. Ngoài lục đạo: Trời, Người, A Tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Bàng Sanh như đã chỉ rõ trong kinh Phật, không có sao nào có sự hiện diện thần linh gì cả. Mặc dù khoa học ngày nay chẳng đi tới đâu, nhưng Humble Telescope cũng phần nào chứng minh điều đó. Nó có thể nhìn xa tới những nơi cách xa hệ mặt trời hàng trăm ngàn năm ánh sáng; cho thấy vũ trụ này rộng bao la. Sao chỉ là cấu trúc của đá sỏi. Sự việc cúng sao, giải hạn, cúng thần, tế đất, cúng am, cúng miếu, cúng giếng, cúng ao, cúng ông Táo v.v. đều là những việc sai hoàn toàn với Phật Pháp. Miễn cưỡng thực thi những việc trên chỉ làm tổn hại đến Phật giáo, vô tình biến Phật giáo thành một tà đạo, chỉ biết cúng tế, cầu linh. Đó là những điều mà con Phật không nên làm. Kết quả này là do sự hoà nhập hỗn tạp giữa Khổng, Lão và Phật giáo của một vài tiền nhân thiếu hẵn chánh tín trong đạo Phật. Thậm chí còn có những vị pháp sư chuyên đi làm chuyện trừ ma, yếm quỉ trong lúc lại bỏ quên nhiệm vụ của mình là “Lợi sanh vi sự nghiệp, hoằng Pháp thị gia vụ.” Hẳn đó không là một điều đáng tiếc sao?

Thêm một nét nữa: Xưa, trong các triều đại vua chúa, rất có nhiều vị cao tăng thường được vua vời vào triều đình để cố vấn và giúp vua bàn bạc quốc sự. Vì thấy những vị cao tăng ấy ngồi với vua, ăn mặc đơn sơ, đầu tròn, áo vuông; thấy không xứng hợp, nên vua mới ban cho mũ cao, áo kim tuyến... Đây là lý do tại sao chúng ta thỉnh thoảng thấy vài vị Hòa thượng thường hay đội mũ, mặc áo kim tuyến trong khi lễ Phật. Thật ra, áo thêu bằng kim tuyến hoàn toàn không được Đức Phật đề nghị. Ngài chỉ đề nghị kiểu áo “ruộng phước” đơn sơ với ngài A Nan mà thôi.

Tóm lại, thờ cúng ông bà cha mẹ để nhắc nhở cho chúng ta công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Thờ Phật là để soi gương; mỗi khi ngước mắt nhìn Phật, chúng ta lần lau chùi những vết dơ trong tam nghiệp của chúng ta, sám hối những lỗi lầm chúng ta đã tạo tác. Lạy Phật là cách tu thân. Niệm Phật là cách tu khẩu. Thiền định là cách kiểm soát ý đừng để nó chạy mông lung, nghĩ bậy, vọng tưởng. Hơn nữa, thờ Phật cũng là cách tưởng nhớ, biết ơn Phật đã vì chúng sanh mà thị hiện cứu khổ.

Đừng bao giờ nghĩ Đạo Phật chỉ có biết thờ cúng vu vơ. Là Phật tử, chúng ta càng không nên vướng vào những dị đoan ấy. Không chuyên tu niệm, chỉ lo cúng tà thần quỉ vật, không chỉ nguy hại cho cá nhân mình mà còn trực tiếp đưa đạo Phật vào qũy đạo tà giáo. Đó là một điều không gì bất hiếu cho bằng, như Đức Phật đã từng nói: “Dù có cõng ta quanh núi Tu Di trọn đời, dù cho lấy thân ngươi làm giường cho ta nằm suốt kiếp, cũng không đền nổi công ơn môn một cho bằng đem giáo pháp của ta mà truyền bá cho chúng sanh.”


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả