Cái Thú Uống Trà

Tôi còn nhớ lúc nhỏ, khi có khách đến nhà, Ông nội thường bảo tôi pha trà mời khách. Làm nhiều lần trở thành tập quán. Sau đó, cứ mỗi lần có khách là tôi tự ra đun nước, pha trà mà không cần phải đợi Ông nhắc nhở. Từ đó, một ý niệm tương giao thoáng hiện trong đầu tôi: lối mời khách uống trà là một thể hiện sự cung kính thâm giao.

Thật vậy, qua các cuộc cưới hỏi, đám đình, kỵ giỗ, chủ nhân thường mời khách dự tiệc trà, chứ không khi nào họ ngỏ lời mời khách tham dự tiệc rượu, mặc dù tiệc rượu là chính. Chắc có lẽ vì xưa, mấy ông tiên tóc bạc, râu dài, thường hiện trên chóp núi, bên cạnh những cây tùng để đánh cờ tướng, bên cạnh là một bình trà nóng; nhìn cốt cách đạo phong đó mà sau này người đời cho việc khoản đãi trà là một mỹ lệ nói lên sự tương giao, cung kính hay sao?!?!

Nói đến uống trà, chúng ta không thể không đề cập đến nghệ thuật uống của nó. Uống trà không như uống nước lã hoặc bia rượu mà phải cần đến nghệ thuật. Uống một người gọi là “độc ẩm”; uống hai người gọi là “song ẩm”; uống nhiều người gọi là “ngưu ẩm”. Thuở xưa, người ta chỉ chế tạo bình trà bằng đất sét rất nhỏ với một chén mà thôi; sau này vì để tiện lợi cho nhiều người uống, bộ bình trà lớn có sáu hoặc tám chén mới được ra đời. Độc ẩm và song ẩm thường được xử dụng nhiều nhất ở chốn thiền môn. Những vị thiền sư thường hay uống trà một mình ở những nơi mật thất thanh tịnh vào những lúc thật khuya, xa lánh với cảnh xô bồ, náo nhiệt của thế gian. Họ vừa thưởng thức mùi thơm của trà, vừa để cho tâm tư lắng đọng và kiểm điểm lại những việc làm của mình trong ngày qua. Nếu uống hai người trở lên, thì trong Phật giáo gọi là “Trà Đạo”, nghĩa là các vị thiền sư thường dùng trà để tham khảo, bàn bạc về những đề tài hoặc công tác có liên quan đến Phật sự. Trà đạo, nguyên thỉ được phát xuất từ Nhật Bản, và bây giờ được xử dụng khắp chốn thiền môn ở các nước Đông Nam Á. Không những ở chốn thiền môn, mà ngày nay cái kiểu cách uống trà tao nhã này là những đề tài bất tận cho các cụ đồ nho luận thơ, bình câu đối bên cạnh những bức tranh thủy mạc, tủ sách cổ xưa, trên tường có treo vài bức liễn... Uống trà thưởng nguyệt, ngắm hoa (quỳnh) lúc nửa đêm cũng là một trong những ý đó.

Kiểu uống trà của người Nhật thì tao nhã như đã nói ở trên. Còn cách uống trà của người Tàu thì cầu kỳ. Ngoài những loại trà bình thường như trà ướp hoa, trà ướp sói..., người Tàu còn chế biến ra trà Trảm mã, trà Trinh nữ. Trà Trảm mã là loại trà lấy từ bụng con ngựa. Người ta giam đói con ngựa trong chuồng khoảng một tuần lễ; sau đó, họ dẫn con ngựa lên trên đồi trồng trà cho nó ăn những đọt lá non (hoặc hái những lá non của trà về cho ngựa ăn). Đợi vài chục phút cho dịch vị của ngựa tiết ra hòa lẫn với lá trà trong bao tử, họ mới giết con ngựa ấy, mổ bụng ngựa lấy trà. Trà Trinh nữ thì được chế biến như sau: Họ dùng những trinh nữ (con gái còn trinh) tuổi chừng 16, được cho tắm gội sạch sẽ bằng nước hoa. Cho trinh nữ này mặc những bộ đồ kiểu phi công, rộng thùng thình, ống chân tay đều được bó kín. Tiếp đến, họ liền đổ trà vào và cho thiếu nữ ướp qua đêm (nhớ là thiếu nữ này không được đái mế nhé, nếu không thì sẽ sản xuất loại trà Tanh nữ mất! - giỡn chút) Những loại trà này, tên nghe thấy cầu kỳ, hấp dẫn thật, nhưng nếu biết được cách sản xuất của nó, thì không biết có ai dám mua dùng không?!

Thể thức uống trà của người Việt thế nào? Tại Việt Nam hiển nhiên có rất nhiều loại trà được chế biến theo nhiều cách thức khác nhau. Tuy nhiên, người Huế còn có một loại trà rất thanh lịch không kém cầu kỳ; đó là trà ướp sen. Trà này đã xuất phát từ cung điện và thường dùng cho vua chúa. Hằng đêm, các tỳ nữ chèo thuyền ra ngoài hồ sen Tịnh Tâm, bỏ trà vào trong những hoa sen; đến sáng hôm sau, họ lại chèo thuyền ra để ngắt những đóa sen đem về lấy trà ra, hứng những giọt nước sương đọng trên lá sen hoặc lấy nước giếng chùa Viên Thông gần núi Ngự Bình để nấu trà cho vua uống. Kiểu uống trà này, hiện nay cũng có nhiều người qúy tộc dùng đến. Loại bình trà cũng được chế tạo theo nhu cầu thời tiết: mùa Xuân thì có Xuân ẩm, Hạ có Hạ ẩm, Thu có Thu ẩm, và Đông có Đông ẩm. Ngoài ra, đun trà phải dùng củi ở Tân Sài (Quảng Trị). Cho nên mới có câu:

“Hết gạo thì có Đồng Nai
Hết củi thì có Tân Sài chở vô”

Uống trà không chỉ là một nghệ thuật, nho nhã, hoặc một sự giao tiếp thâm tình giữa người và người, mà còn uống để chữa bệnh. Trà là một loại dược thảo trị được bệnh trong lãnh vực y khoa ít có ai để ý đến. Các nhà y học đã tìm thấy trong lá trà có 125 hóa chất khác nhau. Trong đó, chất cafein gây trạng thái hưng chấn, chống ngủ; chất tanin giúp cho cơ thể tiêu hóa thức ăn và đề kháng bệnh ung thư. Ngoài ra, trà còn có tác dụng giải rượu. Nếu lỡ vì vui quá chén, một vài ly trà sau đó sẽ làm cho bạn cảm thấy tỉnh táo ngay. Uống rượu nặng đến say lúy túy sẽ làm cho thân thể yếu kém, tinh thần suy nhược. Nhưng uống rượu nhẹ một vài ly vừa đủ cũng sẽ giúp bạn thoát cái nạn bị nghẽn tim. Thống kê y học cho biết người Pháp uống rượu nhiều hơn các dân khác, nên tỷ lệ người bị bệnh nghẽn tim ít hơn so với các dân khác trên thế giới. Số trà tiêu thụ nhiều nhất tại nước Anh, và người Anh trung bình mỗi ngày 5 cữ trà, nên số người Anh mang chứng bệnh ung thư ít nhất thế giới. Mới đây, một nghiên cứu gia Nhật Bản cho biết rằng: nếu chúng ta mỗi sáng uống được hai lít nước lã, nó sẽ giúp cho cơ thể bài tiết hết những cặn bã và giúp cho sức kháng sinh tăng cường, ít bị nhiễm độc, bệnh hoạn. Nếu vậy, chúng ta cứ dùng nước lã pha trà mỗi sáng để thưởng thức thì còn gì yêu đời và thú vị cho bằng? Như cổ nhân đã dạy:

Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh nhất ấm trà
Nhật nhật cứ như thử
Lương y bất đáo gia
(Nửa đêm ba cốc rượu
Sáng dậy một bình trà
Ngày ngày cứ như thế
Thầy thuốc chẳng tới nhà).


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả