Khánh Ly 30 năm bài hát cũ
KHÁNH LY
BA MƯƠI NĂM,
BÀI HÁT CŨ
...Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo baỵ,
Nắng qua mắt buồn lòng hoa bướm say .
Lối em đi về trời không có mây.
Đường đi suốt mùa nắng lên thắp đầy...
Như cánh diều no gió vút lên thật cao bỗng lượn sà xuống thật thấp , rồi lại vút lên cao. gọi nắng...tiếng hát đó lồng lộng vang lên trong một không gian ấm áp, tràn đầy thứ ánh sáng chập chờn huyền ảo tại một hí viện ở thành phố Garland này, trong buổi chiều đầu xuân còn vương vương hơi lạnh bên ngoài. Vậy mà cảm giác nắng gió một ngày mùa hè khô khốc của đồi Tăng Nhơn Phú , Thủ Đức phủ chụp lấy tôi. Nắng. Và gió. Và bụi quân trường .
Mùa hè năm 1973, cũng Hạ Trắng và cũng chính Khánh Ly đã hát trong buổi văn nghệ mãn khóa 6/72 sĩ quan trừ bị tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Đó không phải là khóa của tôi mà là khóa đàn anh, ra trường vào hè năm 1973. Buổi văn nghệ này chỉ dành cho sinh viên sĩ quan mãn khóa, còn chúng tôi chỉ tham dự ké.
Thật ra, từ bãi tập về, băng qua cổng số 9, đại đội tôi chẳng ai biết có những ca sĩ nào đến giúp vui cho buổi văn nghệ mãn khóa của khóa 6/72. Doanh trại đại đội tôi chỉ cách hội trường nơi trình diễn văn nghệ vài chục thước, nên làn sóng âm thanh bên ấy tràn sang phía chúng tôi một cách dễ dàng.
Sau tiếng oang oang của lời giới thiệu trên loa phóng thanh mà tôi cũng chẳng nghe rõ tên người ca sĩ, bỗng vút lên một tiếng ca quen thuộc, một bài hát vô cùng quen thuộc ...gọi nắng trên vai em gầy đường xa aó bay, nắng qua mắt buồn lòng hoa bướm say... Cánh diều vút lên giữa trời nắng gió rồi lượn xuống thật thấp . Không chỉ mình tôi mà cả một đám sinh viên sĩ quan thuộc đại đội 4, tiểu đòan 2 kéo nhau chạy ra hội trường, nơi bài hát đó đang trổi lên. Khánh Ly! Khánh Ly! Chẳng cần ai đó la lên, chúng tôi còn lạ gì với giọng ca ấy từ những quán cà phê nhạc ở Sài Gòn. Một thời mà cà phê với những quán xá mang vẻ trầm tư , nhạc tình Trịnh Công Sơn, và khói thuốc là cái mode của sinh viên học sinh cuối những năm sáu mươi và đầu thập niên bảy mươi .
Nhưng lúc này đây bài Hạ Trắng vang lên trong buổi chiều nắng gió Thủ Đức không còn ủ ê cà phê khói thuốc nữa, nó vừa bay bỗng hào hứng vừa lãng mạn, ngọt ngào như tâm tình của những nguời trai nhập cuộc .
Dù có lựa chọn hay không, khi chúng tôi có mặt trong các quân trường là chúng tôi đã chấp nhận nhập cuộc. Lớp tuổi chúng tôi đã thật sự lên đừờng từ mùa hè đỏ lửa, từ sau những Kontum kiêu hùng, Trị Thiên vùng dậy, sau những Bình Long, An Lộc đẫm máu các chiến sĩ và của lương dân miền Nam vô tội.
Từ cuối hội trường nhìn lên sân khấu, người ca sĩ với mái tóc xỏa dài và chiếc aó dài trắng đơn sơ, Hạ Trắng được Khánh Ly ru lên tận cùng của ước vọng tình yêu, của nỗi buồn thần thánh. Khánh Ly đang gợi lại những ray rứt chia tay của những mối tình phượng vĩ, những ly chanh đường uống môi em ngọt, của những trả lại em yêu con đuờng học trò,... anh phải ra đi về miền cát nóng, nơi có quê hương mịt mùng thuốc súng...Những trận đánh kinh hồn đẫm máu ở giới tuyến năm 1972 đã thật sự khuấy động lớp tuổi 18 ,19 , 20 hay lớn hơn ở học đuờng. Nha Động Viên vừa ra thông báo đôn quân, hạ một tuổi vào đại học. Vậy là với năm sinh của tôi, chỉ có vào trường Võ Bị Đà Lạt hay trường Bộ Binh Thủ Đức, chứ không còn vào đại học được rồi. Thôi thì, ...trả lại em yêu khung trời đại học,con đường Duy Tân cây dài bóng mát. Bạn tôi, Vũ Đình Trường còn đủ tuổi vào năm thứ nhất đại học, lại tình nguyện vào Thủ Đức. Mãn khóa hắn ta tình nguyện vào Biệt Động Quân .
Chúng tôi lên đường theo một tiếng goị mơ hồ nhưng thiêng liêng - không phải là tiếng gọi từ Nha Động Viên của ông Bùi Đình Đạm - rằng chúng tôi, những người con yêu của tổ quốc phải xếp bút nghiên, phải lên đường. Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về ....dù là như vậy, chúng tôi vẫn ra đi. Biết bao người trai trẻ tuổi đôi mươi nghe tiếng réo gọi từ Bạch Đằng , từ Đống Đa, từ Chi Lăng...và ra đi không hẹn ngày trở lại. Trong mười năm chiến tranh ác liệt nhất, từ 1965 đến1975, người thanh niên miền Nam đã hồn nhiên ra đi và cũng đã hồn nhiên chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Máu đã chảy, thây người đã ngã, hết lớp trai này đến lớp trai khác. Còn gì cao đẹp hơn những con người bằng lòng dâng hiến sinh mạng mình cho đất nước. Ra đi mà lòng rưng rức với cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi .
...những người đi theo tiếng gọi non sông
nhưng ngưòi đi đi mãi khôn cùng
bao thế hệ đã đi vào lửa đạn
bọn anh cũng đi vào nơi gió cát
một mùa mưa phong kín cổng học đường
Sài Gòn bấy giờ có vạn luyến thương
cũng trả lại em yêu con đường phượng vĩ
chiều trung tâm ba chưa là chiều thiên lý
sao mưa giăng trên hàng bả đậu ưu phiền
các khóa quân trường ngăn tách nhau riêng
vẫn cố níu về phép chung chiều thứ bảy
bởi phải vui,vì vui không còn mãi
sông chia ly nghe đâu đó chực chờ
những ngả đường xếp lại cánh viễn mơ
cơn chinh chiến gọi tên mình đi tiếp nối
và chiến chinh có mấy ai trở lại
thì hẹn chi một buổi tương phùng
lỡ mai một mình bạn về giữa phố người đông
xin uống hộ ly cà phê quán cũ
hãy đi giùm nhũng con đường Phú Lâm, Tân Phú
cầu Bình Tiên, bến Bãi Sậy, Văn Thân
những con đường nay đã không còn gần
như vệt nắng xuyên qua màn ký ức...
Ba mươi năm sau, nơi đây, tại hí viện này, bản Hạ Trắng được hát lên cũng bởi chính người ca sĩ ấy, nhưng với một âm sắc có vẻ trầm buồn hơn, khô khan hơn, nghe rền rĩ thê thiết hơn, như rằng đời không còn gì vui, như rằng cuộc sống mỗi ngày một trở nên vô nghĩa và trống rỗng hơn. Bởi những người trai trẻ một thời nhập cuộc đang trôi giạt nơi đây, không còn một tổ quốc đích thực để hiến dâng. Như thể rằng những người chiến binh trẻ tuổi năm xưa đã rơi rụng dần dần, hay sẽ rũ xác một nơi xa lạ, không là một bờ rừng heo hút, không là một cánh đồng hoang vu trên quê hương mình và chết là để bảo vệ tổ quốc mình .
Ngày xưa mỗi lần đi ngang qua Nhà Vĩnh Biệt, nằm ngay cổng trại Thượng Đăng Lễ, tiểu khu Châu Đốc, nơi quàn những người lính trận vừa nằm xuống để chờ đưa xác về nhà cho thân nhân, tôi hay đứng lại nhìn những quan tài phủ cờ vàng ba sọc đỏ và hay đọc hết mấy câu ghi trên các ngưỡng cửa Nhà Vĩnh Biệt: Phận sự đã tròn - Chí trai đã toại -Tổ quốc ghi ơn - Nghìn thu vĩnh biệt . Tôi có một cảm giác thanh thản, như rằng nếu mình có nằm xuống như những đồng đội kia, là tôi đã tròn nhiệm vụ, đã trả xong một món nợ và không có gì hối tiếc. Nếu có hối tiếc nào, đó là của người còn sống, họ hối tiếc đã không hết lòng với mình .Tôi cũng chẳng có gì hối tiếc với một Sài Gòn hoa lệ sau lưng, bởi hầu hết bạn bè thân thiết cùng thời cũng đã ra đi như tôi, đã nhập cuộc như tôi. Họ bây giờ, mỗi đứa mỗi nơi, Trần văn Tiến Pleiku, Vũ Đình Trường Mộ Đức , Tài Nha Trang, Liễn Sóc Trăng ...không ai không mang theo một vài tình khúc sướt mướt trong lòng . Trả lại em yêu khung trời đại học, con đường Duy Tân cây dài bóng mát, buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát, uống ly chanh đường uống môi em ngọt... Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về ... Này em, cô hàng cà phê, mai mốt anh có chết, anh không cần chôn trong nghĩa trang quân đội có quân nhạc theo đưa, anh thích được chôn trong nghĩa trang đô thành sau nhà em đây. Sao chôn ở đây vậy anh?. Cho gần em. Mỗi ngày chỉ cần em mang cho anh một ly cà phê đen và khỏi cần đốt nhang, chỉ đốt một điếu Pall Mall cắm lên mộ là anh thích rồi . Mỗi ngày hả anh , vậy thì hao lắm! Hình như tuổi trẻ không mấy sợ chết, chỉ sợ không đuợc chết lãng mạn, không đuợc chết hào hùng. Nhất là chưa bao giờ đối diện với cái chết .
Dù chị có tự cho rằng mình không là người của chế độ nào, tôi không là người của chế độ nào, tôi là người Việt Nam để kiêu hãnh thách thức những ngộ nhận nào đó, những chụp mũ nào đó, thì trước sau chị cũng đã mang tiếng hát đến những quân trường như Quang Trung, Thủ Đức, Đồng Đế, các trung tâm huấn luyện của Hải quân, Không quân Việt Nam Cộng Hòa, đến các tiền đồn heo hút, mà ở đó là rừng núi thâm u, để ăn gạo sấy, thịt hộp với lính. Với một Khánh Ly tiếng tăm lừng lẫy giữa thập niên 60 và 70, chị chỉ cần hát ở Đêm Màu Hồng, Tự Do... khối kẻ sẵn sàng ngồi thâu đêm để nghe, chị không cần đi tạo tên tuổi nơi những Dak To, Tân Cảnh ...nơi đại pháo của Việt Cộng có thể rơi xuống bất cứ lúc nào, nơi sinh mạng của dân và lính đồng nghĩa với ngắn ngủi, với bất trắc. Và hẳn rằng, chị cũng không đi kiếm tiền, kiếm bạc gì từ nơi những nguời lính trận gian khổ nghèo nàn như chúng tôi. Người ca sĩ tạm bỏ lại sân khấu phòng trà sang trọng ở thành phố một đêm, đến hát cho lính nghe là họ đến với cả tấm lòng. Chị đã từng thể hiện tấm lòng nhiều lần như vậy .
Trong một bài viết rất hay của Khánh Ly tôi đọc cách đây khá lâu, chị viết rằng mình phải sống với nhau bằng tấm lòng. Thêm một lần nữa chị đã thể hiện tấm lòng của chị với cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, khi cách đây hai năm chị được bác sĩ Nguyễn văn Hào hội truởng Hội Quảng Đà Dallas-FortWorth mời hợp tác làm một đêm nhạc tưởng niệm người nhạc sĩ xứ Quảng tài danh vừa nằm xuống. Chẳng những vui vẻ nhận lời, chị còn mang thêm những nguời bạn của chị cùng tới, như nhạc sĩ Nhật Ngân, ca sĩ Lê Nguyễn. Chị và những người bạn kia từ Cali qua hát ở Dallas mà không đặt một điều kiện tiền bạc nào. Chị nói nếu đêm văn nghệ mà thất bại, lỗ lã, chị sẵn sàng bỏ tiền túi ra trả tiền vé máy bay, bởi chị biết hội Quảng Đà Dallas-FortWorth cũng chỉ làm với tấm lòng đối với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, một người con đất Quảng. Và chị cũng vì tấm lòng đối với một người mà chị nói vừa là một người bạn, vừa là một người thầy, Trầm Tử Thiêng. Chị biết Ban tổ chức chỉ bán vé với phân nửa giá thị trường .
Làm sao không ghi nhận đó là một tấm lòng, khi Ban tổ chức cố ý mời vài ca sĩ gốc Quảng để cho đêm văn nghệ tưởng niệm nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng mang nét đặc thù Quảng Đà nhưng thất bại, vì mấy ca sĩ kia đòi giá trên hai ngàn đồng một người. Cuối cùng người ca sĩ đất Bắc đã đến với người xứ Quảng với tấm lòng.. Tấm lòng chị gởi tới cho một người, vừa là thầy vừa là bạn của chị và gởi đến xứ Quảng, nơi chị đã từng có một người tình sinh ra ở đấy. Nhật Ngân cũng một tấm lòng bằng hữu với Trầm Tử Thiêng, hơn nữa bởi Đà Nẵng đã là nơi dung chứa ông trong hàng chục năm từ khi rời đất Bắc năm 1954. Họ không phải là con cái đất Quảng, mà họ có tấm lòng như thế đấy. Trang web của Hội Quảng Đà Dallas-FortWorth còn ghi đầy hình ảnh của họ như một lưu niệm khó quên. Có nhiều tấm lòng đóng góp vào đêm ca nhạc rất đáng ca tụng, như bác Nguyễn Rô tức nhân sĩ Thuận Xuyên người chủ biên đặc san Quảng Nam Đà Nẵng này. Bác đã trên 75 tuổi không còn lái xe vững mà suốt một tuần lễ vác những bích chương Đêm Trầm Tử Thiêng đi dán hết chợ này đến tiệm kia ở Dallas và các thành phố lân cận. Có một thi nhân nào đó đã viết bốn câu thơ rất xúc tích:
có những lúc lòng mình như lá úa
vẫn vỗ tay cười cho đời có âm vang
có những lúc điếng người trên tuyệt lộ
vẫn thương người như thương cả nhân gian
Một tiếng vỗ tay góp vào cho đời có âm vang, cũng đã là quí rồi, nhưng vẫn có người còn không chịu góp, thì những việc và người tôi kể ở trên ngàn lần đáng ngợi ca.
Và bây giờ ở đây, cũng vẫn là khúc tâm tình dành cho những người lính đau thuơng với niềm vỗ về, không hề oán trách, dù người lính chiến đó có chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Mười hai tháng anh đi .Chiều trên phá Tam Giang. Chị, thêm một lần đã hát cho chúng tôi, một lần nữa, một lần nữa, cho đến bao giờ chị nằm xuống và vĩnh viễn im hơi. Tôi tin như vậy .
Hát xong một bản, chị nói: Qúi vị cho tôi được hát một bài nữa, như sợ rằng khán giả sẽ không đồng ý cho mình hát. Nhưng tiếng vỗ tay vẫn nồng nhiệt vang lên không ngớt. Chị đã hát thêm 3 bài liên tục, không cần giới thiệu nhạc phẩm. Tôi hiểu rằng người ca sĩ cũng cần hát cho chính mình . Chị bao giờ cũng hát như muốn phơi trải lòng mình ra, chưa bao giờ phải nở một nụ cười nghề nghiệp khi trình diễn. Gương mặt đầy ưu tư khi tiếng ca thoát ra từ tận cùng những ray rứt trong cuộc đời của chị, của chúng ta, từ những niềm vui chưa bao giờ trọn vẹn, từ những ước mơ chưa bao giờ thành sự thật . Có đường phố nào vui cho ta qua một ngày . Có sợi tóc nào bay trong trí nhớ nhỏ nhoi, không còn không còn ai ta trôi trong cuộc đời ...Và... môi nào có còn thơm cho ta phơi cuộc tình . Tóc nào hãy còn xanh cho ta chút hồn nhiên. Tim nào có bình yên ta rêu rao đời mình. Xin người hãy gọi tên... Đời sao hoang vắng như đồng lúa gặt xong, như rừng núi bỏ hoang, người về soi bóng mình giữa tường trắng lặng câm...Em về hãy về đi, ta phiêu du một đời. Hương trầm có còn đây, ta thắp hết chiều naỵ Xin ngủ trong vòng nôi, ta ru ta ngậm ngùi.... Chắc hẳn đó là khúc tâm ca chị hát cho chính mình .
Người về soi bóng mình trên những tường vách tối tăm, trên những con suối sâu trong rừng thẳm của các trại cải tạo, để gặm nhấm nỗi nhục nhằn, bi phẫn ,và thầm tiếc rằng sao trước đây không được chết ngoài chiến trận, được phủ màu cờ vàng ba sọc đỏ, để biết rằng phận sự làm tròn, chí trai đã toại và ngàn thu vĩnh biệt. May ra còn vinh dự hơn những ngày tàn tạ này, gặm mớ căm hờn trong cũi sắt, hoặc thân xác bị vùi dập nơi xó rừng hoang lạnh, bia mộ là tấm ván ọp ẹp được người bạn tù chiến hữu ghi vội vài dòng, mà không chắc sẽ tồn tại bao lâu với mưa nắng .
Chị đã, cùng chúng tôi, ru ta ngậm ngùi, ru một tuổi thanh xuân hoang phế đã qua và bây giờ, ru những ngày dài lê thê, lây lất trên đất người với những tiện nghi phù phiếm .
Một bài nữa trong ba bài chị hát ngày hôm đó là bài Phôi pha. Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về nhớ chân giang hồ. Ôi phù du từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ đời người như gió qua. Không còn ai đường về ôi quá dài, những đêm xa người . Chén rượu cay một đời ta uống hoài...
Không còn ai đường về - quê cũ- ôi quá dài ... những đêm xa người - đất nước- ...và chén rượu cay một đời ta uống hoài...Trong những chung rượu vui ngày Tết trên xứ người, làm sao kẻ mất quê hương tránh khỏi một chung rượu cay mà ta phải uống hoài, uống mãi một đời.
Bỗng dưng tôi ngậm ngùi nhớ lại hai câu thơ của ai đó mà có lần tôi tình cờ đọc được trên tường trong một buổi lễ của cộng đồng :
người chiến binh một thời anh dũng
bạn còn lang thang xứ lạ đến bao giờ ?
Hoàng Định Nam
ta một đời đau thương như gió
trên cành khô rít lộng những âm câm