Bà Quản Gia Ma

Chương 1: Chạm mặt

Quỳnh dọn nhà về Olten, thành phố nhỏ ở miền Trung Thụy Sĩ. Nơi nàng nhận công việc với chức vụ Head of Research cho ngân hàng KBA. Olten dân số chỉ 55'000 người, phố xá cổ kính buồn tênh, nhưng Quỳnh muốn làm kẻ trốn đời dưỡng sức một thời gian. Gần 10 năm làm việc cho các ngân hàng lớn như UBS, Citi Bank, Credit Suisse... nàng đã mệt nhoài trong thành phố lớn như Zürich, Geneva, Paris, London, Frankfurt, New York.

Ngày đầu tiên nàng tới Olten để phỏng vấn, nàng thấy thích thú lắm, con người ở thành phố này rất chân chất hiền lành. Họ cứ tưởng là họ đang sống trong một Megacity (thành phố vô cùng lớn và phồn vinh như New York, Paris ...) Quỳnh xuống xe lửa, hỏi thăm một người đàn bà đường đến KBA. Người đàn bà coi địa chỉ và hướng dẫn nàng tỉ mỉ, nhưng cuối cùng bà khuyên Quỳnh lấy xe bus, vì theo bà ta thì địa chỉ của nhà bank này xa lắm.

Nhưng còn thời gian đến 1 giờ nữa mới đến lúc phỏng vấn nên Quỳnh quyết định đi bộ cho biết phố. Thiệt là hết sức ngạc nhiên, nàng đi có 15 phút thì đã đến KBA, vậy mà người đàn bà kia cho là xa lắm. À thì ra thế, nàng chợt hiểu, người ta sống trong phố nhỏ, riết rồi người ta cho khoảng cách cỏn con kia vô cùng diệu vợi.

Sau 3 lần phỏng vấn, tìm hiểu kỹ càng, Quỳnh nhận làm việc cho KBA. Công việc rất tốt, nàng sẽ đảm nhận việc lãnh đạo nhóm 12 người chuyên viên nghiên cứu thị trường đầu tư Cổ Phiếu (Stocks, Shares), Trái Phiếu (Bonds), sản phẩm tài chánh như các Funds, Fund of Hedge Funds, Bảo hiểm nhân thọ…. với chức phó giám đốc. Lương rất khá, không thua gì ở Zürich và các benefits khác đều rất tốt. Đời sống và nhà cửa ở Olten lại quá rẻ, chỉ khoảng 50% so với Zürich, thành ra nếu nhận việc này, nàng sẽ để giành được rất nhiều tiền.

Sau khi ký hợp đồng làm việc, Quỳnh đi kiếm nhà thuê để dọn về Olten cho tiện việc đi lại, yên tĩnh và rẻ hơn (chú thích: Ở Thụy Sĩ chỉ có 20-25% dân số là có nhà riêng, còn lại đều đi thuê.) Căn hộ của nàng ở Zürich chỉ có 60 mét vuông mà nàng phải trả gần 3000 Quan Thụy Sĩ (tương đương 2200 Mỹ Kim) một tháng. Ở Olten, nàng mướn hẳn căn biệt thự xưa, nhưng được sửa sang lại với những phòng rất khang trang. Căn nhà gồm hai tầng, mỗi tầng rộng 90 mét vuông, có lò sưởi củi, sưởi điện, bếp rộng rãi tân tiến đầy đủ tiện nghi như lò nướng điện, tủ lạnh, tủ đá, tủ để đồ khô, tủ chén đĩa và nhất là 4 mặt bếp phẳng có bộ nhớ để có thể lập trình khi nấu nướng (ví dụ món ăn đó cần nấu bao nhiêu phút, sau đó giảm xuống nhiệt độ nào, tắt bếp và hâm nóng lại lúc mấy giờ). Căn biệt thự được bao quanh bởi vườn hoa, thảm cỏ xanh như ngọc và các bụi hồng Đại Đoá khiến căn biệt thự tươi mát trẻ trung. Trong góc vườn phía Nam, nàng còn có 3 gốc nho, 5 cây táo và vài khóm trúc Đông Phương nên cảnh vật nên thơ lắm. Quỳnh vô cùng thích thú, mà tiền mướn chỉ mắc hơn căn hộ nhỏ xíu của nàng ở Zürich vài trăm quan. Nàng có ý sẽ cố mời ba mẹ nàng về ở chung, nhưng mẹ nàng còn phải đi làm vài năm nữa mới nghỉ hưu. Ba nàng đã nghỉ làm vài năm nay, nên ông thường đi chùa chiền sám bái, hành hương nhiều hơn. Căn nhà riêng của ba mẹ nàng ở Bern lại quá rộng. Những khi ba nàng vắng nhà, vì các chuyến hành hương, mẹ nàng thấy vắng vẻ, cũng tội lắm. Nàng khuyên ông bà cho mướn căn nhà đó rồi dọn về với nàng. Ông bà thường cười và mắng yêu:
- Bố chị, chúng tôi lo cho nhau được rồi, chị lo cái thân của chị đi, con gái đã 31 tuổi mà chưa nghĩ đến chuyện chồng con sao. Ngày trước là ế rồi đấy!
Quỳnh cười hì hì khỏa lấp, thật ra nàng đã trải qua vài cuộc tình, nhưng vì không hợp nên phải chia tay. Quỳnh chỉ muốn lấy chồng người Việt. Nàng thích người đàn ông có tư cách, biết điều và có khả năng dung hoà hai nền văn hoá Á Âu, song dường như khó quá. Đàn ông Việt Nam ở Thụy Sĩ rất ít, những anh chàng có đầy đủ điều kiện như nàng mong thì đã lập gia đình có con cái rồi. Vài người lớn tuổi hơn Quỳnh chưa có gia đình, thì vướng vào những khuyết điểm như quá đam mê sự nghiệp, chểnh mảng việc lập gia đình, hoặc không Macho theo kiểu chồng chúa vợ tôi, thì cũng sợ vợ. Macho đương nhiên nàng không thích rồi, còn những người thiếu tư cách „đội vợ lên đầu“ lại khiến nàng không trọng nổi. Thời gian thấm thoát trôi qua, nàng từ „Hăm“ lên „Băm“ lúc nào chẳng biết. Nàng không buồn, nhưng tự trong sâu thẳm, nàng nghe có tiếng giục giã. Thiên chức làm mẹ âm thầm nhắc nhở bổn phận của nàng khi nàng thấy đứa bé kháu khỉnh bụ bẫm.

Dọn vào nhà mới Quỳnh đặt mua toàn bộ giường, tủ, bàn ghế, salon mới tinh, sang trọng do hãng Mobel Pfister sản xuất. Khi dọn dẹp thu xếp mọi việc xong, nàng làm bữa tiệc ăn mừng tân gia, mời ba mẹ, mấy anh chị em họ và bạn bè nàng tới dự.

Bình hoa lớn gồm hồng nhung, lily lửa, hoa kèn, hỏa điểu và vài chiếc lá trang trí lớn nàng đặt trong phòng khách thật rực rỡ khoe sắc khoe hương, khiến thực khách trầm trồ khen ngợi nghệ thuật cắm hoa rất lạ và điêu luyện của nàng. Quỳnh lúng túng, thực ra nàng không có năng khiếu cắm hoa, tối qua mua hoa về cắt cắm tạm vào bình và định bụng sáng ra sẽ nhờ ba nàng cắm lại. Không biết ba nàng học ở đâu cách chưng hoa rất điệu nghệ theo lối Đông Kinh Nhật Bản. Nhưng sáng ra bận bịu vài công việc nên nàng quên nhắc lại với ba. Hồi chiều, nàng sực nhớ, tính nhờ ba thì bình hoa đã quá diễm tuyệt. Nghe mọi người trầm trồ khen, Quỳnh chỉ ba nàng bảo:
- Tác giả của bình hoa là ông cụ đấy!
Ba nàng mỉm cười lắc đầu:
- Ba đâu có cắm, con gái mới học cách cắm ở đâu mà đẹp thế?
Quỳnh cười:
- Ba còn dấu nghề nữa, ba biết con gái ba vụng về trong cách cắm hoa lắm mà!?
Ba Quỳnh hơi ngạc nhiên, rồi lại gật đầu:
- Ba biết rồi, nhưng ai là tác giả bình bông này vậy?
Quỳnh bối rối nhìn quanh:
- Thiệt ba không cắm hả? Vậy ai cắm đây?
Không ai lên tiếng nhận đã cắm hoa. Thắng, người em họ của Quỳnh, phân bua:
- Thôi ai cắm cũng vậy! Bình hoa rất đẹp, chắc có bàn tay bí mật nào muốn làm cho chị Quỳnh vui đó!

Bữa tiệc tân gia vui vẻ qua đi, thực khách không ai thắc mắc về bình hoa nữa, nhưng Quỳnh vẫn thấy trong lòng có chút gì kỳ lạ! Nàng cứ tự hỏi: Ai đã cắm hoa!? Trong số bạn trai hay bạn gái tham dự bữa tiệc đã ra tay làm việc này, mà lại dấu nàng? Trong gia đình nàng, chỉ có ba biết cắm hoa, các anh chị em họ, chẳng một ai có hoa tay đó cả.

Đêm hôm ấy, Quỳnh đi ngủ trễ vì còn nói chuyện với ba mẹ, sau khi khách về hết. Khi nàng vừa thiu thiu ngủ thì nàng thấy cửa phòng ngủ chợt mở ra, một người đàn bà mặc áo ngủ trắng ngại ngùng bước vào. Quỳnh tưởng mẹ nàng muốn vào phòng ngủ với con gái, nên nàng ú ớ:
- Mẹ hả mẹ, mẹ lên nằm với con nè!
Giọng nàng nghe rất lạ, như vang vọng vào chốn thinh không mờ ảo, phiêu phiêu như có echo vọng lại. Bóng trắng đứng im lặng nhìn nàng. Quỳnh cảm thấy mệt mỏi kinh khủng, cái gì đó đè nặng lên mi mắt nàng, khiến nàng không sao mở bừng ra để nhìn cho rõ, nhưng nàng vẫn cảm nhận được từng cử chỉ của đối phương. Người đàn bà từ từ bước tới bên giường nàng, cúi xuống. Cơn gió lạnh ở đâu thốc tới, khiến Quỳnh lạnh buốt. Tay chân nàng không sao cử động nổi, nàng muốn mở miệng kêu cứu nhưng cổ họng có cái gì đó chặn ngang, không sao kêu lên tiếng.
Người đàn bà chậm rãi, ngồi xuống bên giường nàng, nhìn rất lâu vào gương mặt nàng. Cái nhìn lạnh lẽo và soi mói khiến Quỳnh rất khó chịu, nhưng nàng không làm sao phản ứng gì được! Quỳnh chợt nghĩ đến ma, nàng sợ hãi run lên bần bật, nhưng nàng không biết làm sao. Chợt từ trong tâm thức nàng, bừng lên lời Chú Đại Bi của Quan Thế Âm Bồ Tát, nàng thấy mình bắt đầu niệm nho nhỏ:

„Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni :
Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca rô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát đả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Ðát điệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Ðộ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế. Ðà ra đà ra. Ðịa rị ni. Thất phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê. Thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ, bồ đề dạ. Bồ đà dạ, bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Ðịa lị sắt ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất đà dạ, sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, bàn đà ra dạ, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da, Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án tát điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da, sa bà ha.”
(Bài chú này do Hoà Thượng Thích Trí Quang chuyển ân từ Sanskrit qua âm hán, hơi khác với các bài chú trong Kinh Nhật Tụng, đây là bài chú có tác dụng kích thích Đại Bi Tâm và mang lại sự cát tường, khuyên răn các âm hồn hướng thiện, có linh cảm trực tiếp đến Quan Thế Âm Bồ Tát.)

Người đàn bà ngẩn người ra, lắng nghe tiếng niệm, nhưng vẫn ngồi im bên giường nàng, nhưng Quỳnh cảm thấy bớt sợ và nàng để ý nhìn xem người đàn bà ấy là ai. Trong khi tâm nàng vẫn tiếp tục trì Chú Đại Bi.

Đó là một người phụ nữ Tây Phương khoảng 55-60 tuổi, mặc bộ đồ ngủ thêu ren đắt tiền nhưng mode đã rất xưa, nay không thấy ai mặc nữa. Bà có mái tóc dài ngang lưng để xoã, gương mặt xương xương, xinh đẹp quý phái. Đôi mắt sâu, lớn và xanh màu biển. Bà vẫn nhìn Quỳnh chằm chặp, nhưng không có vẻ thù ghét, mà còn có vẻ thích thú. Tự dưng Quỳnh nhận được tín hiệu của bà, nàng không biết bà nói với nàng bằng tiếng gì: Anh, Pháp, Đức hay tiếng Địa Phương Thụy Sĩ? Có điều nàng hiểu được tất cả, mặc dù nàng không hề thấy bà mở miệng:
- Chào cô Lý, tôi ở trong căn nhà này lâu lắm rồi. Thấy cô dọn vào ở tôi cũng tò mò muốn biết cô là ai. Đêm qua tôi ra mắt cô bằng cách cắm bình hoa cho cô đó! Hồi nãy tôi thấy cô có vẻ sợ hãi trược sự xuất hiện của tôi, song tôi nghe cô lí la lí lô nhẩm đọc gì một hồi, rồi thấy cô hết sợ! Tôi cũng mừng được nói chuyện với cô. Tôi tên là Elisa Widmer. Cô nhớ nhé. Thôi tôi chỉ muốn chào cô một tiếng. Bây giờ cô nghỉ nha, mình còn gặp nhau nhiều!
Người đàn bà vụt đứng lên, Quỳnh thấy mình muốn nói:
- Chào bà Widmer, cảm ơn bà tới thăm!
Nhưng không làm sao mở miệng. Người đàn bà gật đầu tỏ vẻ thông cảm, rồi bà quay lưng, bước lần về phía cửa! Kẹt, tiếng cánh cửa kêu khẽ, người đàn bà bước ra ngoài rồi khép cửa lại. Tiếng chuông nhà thờ bên khu phố xa xa, đĩnh đạc đổ bốn tiếng vọng lại, Quỳnh giật mình tỉnh giấc và thấy mình ướt đẫm mồ hôi.

Thì ra nàng mơ, một giấc mơ rất kỳ lạ và rất giống thật. Cơn gió thổi qua khe cửa sổ nàng hé mở, khiến rèm cửa lay động. Quỳnh nghe tim đập thình thịch và nàng cố trấn tĩnh bằng lời chú Đại Bi trong tâm.

*****

Chương 2: Giấc Mộng Quỳnh Hoa

Quỳnh bật đèn ngủ, nhìn đồng hồ báo thức bên cạnh giường, mới có bốn giờ sáng. Hôm ấy lại là ngày chủ nhật, sáng ra không phải đi làm, dậy giờ này thì quá sớm, nàng cũng sợ lục đục ngoài phòng khách làm ba mẹ thức giấc, nên nàng lên giường, kéo tấm chăn đắp ngang ngực, ráng ngủ lại. Song đầu óc nàng mông lung phiêu lãng, nghĩ ngợi về giấc mơ rất thực vừa rồi. Nàng cảm thấy sờ sợ, nên nàng để đèn sáng, tập trung trì Chú Đại Bi. Qua mấy biến, nàng vẫn thấy chưa an tâm ngủ lại được. Bình thường, Quỳnh không phải là người sợ ma. Đời sống tự lập của nàng từ thời dọn riêng đi học đại học đến giờ đã mười mấy năm, nàng vẫn sống một mình. Có thời nàng ở trong nữ tu viện năm năm dài. Khi xưa đông chủng sinh, nên tu viện rộng mênh mông, phòng ốc rất nhiều. Sau này đức tin suy giảm, ít người phát tâm dấn thân trở thành tu sĩ (Dì Phước), nên phòng trong nhiều quá, chủng viện bèn sửa sang lại cho nữ sinh viên thuê. Đương nhiên là sinh viên độc lập, không phải sống hoà mình trong kỷ luật của tu viện. Nhà Dòng nhân đạo chuyên giúp người nghèo, nên sinh viên phải chứng minh được mình không có nhiều tiền, cho nên chẳng còn ai xứng đáng hơn những người sinh viên có gốc gác từ ngoại quốc. Đời sống sinh viên ngoại quốc tại nước có đời sống cao, song buồn tẻ như Thụy Sĩ là cả vấn đề. Nhiều người bị trầm cảm, khủng hoảng tâm lý, điên khùng hoặc chán nản đến nỗi tự tử. Trong tu viện, nơi Quỳnh ở trọ đã rất nhiều lần xảy ra như thế. Có lần, cô gái Trung Quốc đã quyên sinh hơn một tháng người ta mới phát hiện ra, vì mùi hôi bốc qua khe cửa. Xác cô đã rữa, do mùa hè oi bức. Thêm vào, cô sinh viên người Iran treo cổ, cô Thổ Nhĩ Kỳ cắt động mạch tay, may biết nên cứu được! Những câu chuyện rùng rợn trong tu viện được người ta truyền tai nhau. Nào là những bóng người trên hành lang chập chờn giữa đêm, nào là lũ con nít líu ríu la khóc giữa đêm thâu nơi vườn sau tu viện (người ta đào đất làm vườn, phát hiện được rất nhiều bộ xương hài nhi, không hiểu ở đâu ra trong vườn tu viện), nào là những trò dựng giường, đẩy bắn người ta xuống đất... Nhưng riêng Quỳnh, nàng chưa bao giờ gặp những hiện tượng lạ đó. Nàng cũng rờn rợn, song không đến nỗi phải bỏ căn phòng mà đi.

Duy có lần, nàng ở lại học thi trong dịp Noël, trên tầng trong tu viện nàng ở, chỉ còn nàng là người không về với gia đình. Nàng thức khuya học bài, khi mệt quá nàng lên giường đi ngủ và mắc cái áo khoác vào thành ghế ngồi học. Nửa đêm, nàng giật mình thức giấc vì có tiếng gió thổi ù ù ngoài khung cửa, trăng hạ tuần ẩn hiện bên rèm chút ánh sáng èo uật màu vàng, mắt nhắm mắt mở Quỳnh thấy có bóng ai ngồi lù lù bên bàn học, quay lưng về phía nàng. Tim Quỳnh đập loạn như trống làng và muốn vọt ra khỏi lồng ngực, cảm giác sợ hãi như xiết nghẹn cổ nàng. Sau vài giây, trong nội tâm Quỳnh bắt đầu vững lại vì tiếng niệm “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát” đã tự độngvang lên. Từ bé, mỗi khi gặp cảnh khủng bố, sợ hãi Quỳnh đã có thói quen niệm Phật, nhất là niệm danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nàng thấy nàng được che chở rất nhiều. Quỳnh lấy hết can đảm hỏi nhỏ:
- Ai đó?
Bóng đen vẫn im lìm không nhúc nhích! Quỳnh vụt ngồi dậy, nàng vớ chiếc đèn pin lớn bên giường, soi thẳng vào bóng đen. Nàng chợt cười lớn, bóng đen đó chẳng phải là người hay ma, mà chỉ là chiếc áo khoác nàng mắc trên thành ghế trước khi đi ngủ. Đúng là vọng tâm sanh vọng tưởng. Sau kinh nghiệm ấy, Quỳnh thường tự bảo rằng:
- Chẳng có ma mãnh nào đâu, mà chỉ vì người ta tưởng tượng ra, hoặc vì tâm loạn nên có cảm giác như thấy cái gì vậy thôi.
Điều khám phá của Quỳnh khiến nàng cảm thấy vững tâm hơn trong những ngày cuối năm trong tu viện.

Bây giờ nằm nghĩ lại chuyện xưa ở Tu Viện, bất giác Quỳnh bật cười, cho rằng mình mơ mộng hão huyền, nên có giấc mơ kỳ lạ vừa qua. Nàng an tâm và nhắm mắt ngủ một mạch tới 9 giờ sáng hôm sau. Khi Quỳnh xuống phòng ăn, thì ba nàng đã đang ngồi bên tách cà phê, còn mẹ nàng đang chuẩn bị bữa điểm tâm. Hai người nói chuyện nho nhỏ gì đó, song khi thấy nàng xuống, cả hai cùng im bặt và đưa mắt nhìn Quỳnh lộ vẻ ái ngại. Nàng hỏi ba mẹ có ngủ ngon không, ông bà ậm ừ:
- Ừ thì nhà lạ, nên ba mẹ cũng trằn trọc chút con ạ!
Rồi ông bà lảng qua chuyện khác, bà khuyên con cất đồ dùng trong tủ này ngăn khác, ông ngồi trầm ngâm nhìn ra vườn và khuyên Quỳnh nên trồng loại hoa gì, ở đâu. Nhưng cuối cùng, cả ông lẫn bà đều khuyên Quỳnh tuần sau lên chùa, xin rước tượng Bổn Sư Thích Ca, Di Lặc Tôn Phật và Quan Thế Âm Bồ Tát về lập bàn thờ. Tại vì nhà Quỳnh bây giờ khang trang, lập bàn thờ Phật để lễ lậy sám bái sớm hôm là điều nên làm. Quỳnh vui vẻ nhận lời, vì trong nhà có bàn thờ sẽ thấy ấm cúng với hương trầm và các trang kinh lành thơm ngát nhiệm mầu.

Cuối tuần tân gia cũng qua đi, ba mẹ Quỳnh trở về Bern. Ðời sống của Quỳnh từ từ đi vào khuân khổ. Công việc mới rất thích hợp với nàng. Ðồng nghiệp cũng như nhân viên đều dễ mến cả. Tuy nhiên, KBA là ngân hàng nhỏ, nhân viên 850 người và quản trị tổng giá trị tài sản khách hàng (asset under management) chỉ vỏn vẹn 10 tỷ Mỹ Kim (so với 2750 tỷ Mỹ Kim tại UBS, thì KBA rất nhỏ) và mang tính cách tỉnh lị. Quỳnh cũng cần một thời gian để thích nghi với phong cách làm việc nơi đây. Nàng chắc chắn mọi chuyện sẽ đâu vào đó cả. Nhưng đời sống riêng tư của nàng lại thấy xuất hiện những hiện tượng lạ trong căn biệt thự nàng yêu thích.

Ðêm rằm tháng 6 âm lịch, Quỳnh pha ấm trà Mạn Sen thơm ngát, rồi mang bánh ra vườn ngồi nhâm nhi và thưởng trăng. Khung cảnh thanh bình quá, ánh trăng bát ngát như giát vàng trên nội cây thảm cỏ. Chậu Quỳnh Hương ba Quỳnh mang từ Houston Hoa Kỳ về tặng cho nàng, nở 2 bông thiệt lớn. Cái thú của người xưa “khi trông hoa nở, khi chờ trăng lên” quả thật nhàn nhã dễ chịu. Quỳnh đẵm mình trong suy tưởng, tắm mình trong ánh trăng giữa khung cảnh thoát tục thanh tao. Chợt nàng giật mình vì có cảm giác ai đó đang nhìn mình, ánh mắt có mãnh lực ghê gớm. Quỳnh cảm nhận được từng mảng da trên người nàng nổi gai ốc vì sự nhột nhạt hay lạnh lẽo. Quay sang đoá Quỳnh Hương đang nở, một gương mặt người đàn bà rất đẹp ẩn hiện trong đó với môi cười nửa miệng. Bất chợt đóa hoa như lớn ra nhiều lần, gương mặt người phụ nữ vụt biến mất, Quỳnh thấy trước mặt một hồ nước sương mù khói toả, từ trong đám sương khói đó, chiếc thuyền độc mộc rẽ sóng lướt ra. Người chèo thuyền mặc áo đầm trắng muốt, cổ xưa... nét mặt bà ta có vẻ hơi u uẩn nỗi sầu. Quỳnh ngây người nhìn vào cảnh kỳ dị ấy, nàng thấy khí lạnh tràn ngập không gian và nàng đang đứng trước khung cảnh mùa Thu. Có tiếng người nhập vào tâm thức Quỳnh:
- Cô có thích lên thuyền đi dạo trong hồ cùng tôi không?
Quỳnh lấy là kỳ quá, nàng bật ra tiếng hỏi:
- Dạo hồ nào thế?
- Thì hồ Tứ Lâm Thị (Vierwaldstädtensee) chứ còn hồ nào nữa?
Quỳnh bèn hỏi lại:
- Ðây là Olten, chứ có phải là Uri hay Schwitz đâu mà có hồ Tứ Lâm Thị?
Tiếng trả lời:
- Ðây chính là hồ Tứ Lâm Thị, chuyện này khá lâu rồi. Hồi ấy, tôi quen Henrich trong đêm trăng tròn như vầy trên hồ Tứ Lâm Thị.
- Thế Henrich đâu rồi?
- Oh, anh ta phụ bạc, đi theo người đàn bà khác trong khi tôi ốm nặng.
Tiếng hỏi và lời đáp vẫn như trong giấc mộng, không biết bằng ngôn ngữ gì? Có điều họ hiểu nhau rất rõ. Người đàn bà trên thuyền lại thở dài rồi tiếp:
- Này, cô Quỳnh... cô có biết là trên đời này không có người đàn ông nào tốt hay không? Khi đàn ông chinh phục phụ nữ thì như có thể chết vì ta, nhưng họ sẽ quên ta ngay, khi ta không còn là nỗi đam mê của họ.
- Tôi không nghĩ vậy đâu, cũng có người này người khác, cứ nói chung chung như vậy thì tội nghiệp cho đàn ông lắm. Thật ra đàn bà chúng ta cũng vậy, có rất nhiều người bạc tình bạc nghĩa, đâu thể trách cứ họ được? Quỳnh đáp lại.
Người đàn bà trên thuyền cau mày, lắc đầu tỏ ra không hài lòng:
- Sao cô lại bênh cho đàn ông, họ là lũ người chỉ có đầu mà thiếu trái tim. Ðàn bà chúng ta chỉ biết phục vụ cho những thú vui của họ.
Quỳnh ngạc nhiên:
- Ai nói với bà là chúng ta chỉ phục vụ cho thú vui của họ?
Người đàn bà trên thuyền:
- Chứ không à? Chúng không thể sống một mình! Chúng luôn cần người bạn gối chăn, người nấu nướng, phục vụ lo lắng cho chúng từng chút. Ðàn bà lại phải biết nghe lời tuân phục chúng, chúng còn cần chúng ta sinh con đẻ cái cho chúng nữa. Lời chúng nói, dù có trái phè, song chúng ta vẫn phải tuân hành vì chúng là các chủ nhân ông của gia đình. Không phải chúng ta chỉ phục vụ cho thú vui của chúng hay sao?
Quỳnh cười:
- Thời xưa thôi, chứ thời nay đàn ông làm gì mà oai phong vậy nữa. Họ mà lộn xộn thì chỉ có nước dọn ra khỏi nhà. Ngày nay ly dị, đàn ông thiệt thòi lắm. Họ phải trả tiền nuôi vợ cũ và con dài cổ.
Gương mặt người đàn bà có vẻ suy tư, có tiếng thở dài, sương khói trên mặt hồ như loãng đi và biến mất. Ðóa hoa từ từ thu nhỏ trở về vóc dáng ban đầu, mùi hương thoảng ngát trong gió.

Quỳnh nửa tỉnh nửa mê, đầu óc hồ đồ như vừa ngủ dậy. Nàng không biết cuộc đối thoại vừa rồi có thật hay nàng thiếp ngủ và mơ thấy vậy. Ðưa mắt nhìn quanh, ánh trăng vừa khuất sau đám mây lớn, trời sẫm lại. Quỳnh đứng lên thu dọn mâm trà và bánh mang vào nhà. Cảm giác nghi ngờ sợ hãi lại về với nàng. Tận nơi tận cùng của tâm thức, Quỳnh khẳng định nàng mới có liên lạc đối thoại với một hồn ma. Song hồn ma này không có ý hại nàng và hồn ma vẫn mang đầy đủ những hệ lụy trần thế. Dường như hồn ma còn cần người bạn để tâm tình, an ủi. Quỳnh tự nhủ:
- Thôi để coi, có thể mình phải dọn nhà đi, hoặc sẽ kiếm cách giúp đỡ cho linh hồn này được siêu thoát.
Nàng thắp một cây nhanh trầm trên bàn Phật, lạy sám hối và hồi hướng công đức cho những linh hồn đang lẩn quất bên nàng. Tôn tượng Di Lạc vẫn an nhiên tự tại, nhìn nàng mỉm cười.

Hết chương 2

(Còn Tiếp)



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả