Việt Nam NHỮNG MÙA XUÂN GIẢI PHÓNG
Trả ta sông núi ! Từng trang sử
Dân tộc còn nghe vọng thiết tha,
Ngược vết thời gian cùng nhắn nhủ:
Không đòi, ai trả núi sông ta !
( Vũ Hoàng Chương )
Không phải mãi đến gần cuối thế kỷ 20, qua Mặt Trận Giải Phóng MN, văn học sử VN mới biết tới danh xưng Giải Phóng, mà thật ra, ngược dòng lịch sử của nước nhà, hai tiếng Giải Phóng đã được tiền nhân chúng ta oai hùng lấy máu mình hoà cùng máu kẻ thù xâm lược viết lên sông núi với trọn vẹn ý nghĩa chân chính, hướng thượng từ năm Canh Tý (40 TL ) tức là cách đây 1965 năm. Đó là cuộc khởi nghĩa Mê Linh do hai chị em họ Trưng xuất xướng, xua tan quan nhà Hán, giải phóng đất nước ra khỏi ách nô lệ Bắc phương và ảnh hưởng đến các cuộc đồng khởi - thành có, bại có - kế tiếp nhau qua bao lần non sông Việt bị ngoại bang xiềng xích, lũng đoạn.
Nhân dịp Tết về trên đất khách lần thứ 30, người viết xin sưu-lục ra đây, theo cảm quan riêng, những cuộc khởi binh giải phóng quê hương – thành và bại – phát nguồn từ lòng dân tộc, vì và cho toàn thể dân tộc, gửi đến bạn đọc bốn phương trong tinh thần cầu học, cầu biết !
I. KHỞi NGHĨA MÊ LINH
Năm Canh Ngọ ( 111 trước Tây lịch ) vua Vũ-Đế nhà hán sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc sang đánh con cháu Vũ Vương Triệu Đà ( 207 – 111 TTL ) là Triệu Dương Vương, chiếm cứ Nam Việt - quốc hiệu cũ của VN - lập thành Giao Chỉ bộ cho nhà Hán, mở màn trường thảm kịch Bắc thuộc lần thứ nhất, kéo dài 150 năm và bị dứt vào năm 40 Tây lịch do cuộc nổi dậy của bà Trưng Trắc và bà Trưng Nhị ở Mê Linh.
Bà Trưng Trắc và bà Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi. Hai bà sinh ngày 1 tháng 8 Việt lịch 2893, kỷ nguyên Lạc Long tức năm 14 thế kỷ thứ nhất Tây lịch tại đất Mê Linh, tỉnh Tây Sơn.
Cha hgai bà là Lạc tướng họ Trưng, có làm quan dưới thời Triệu Đà. Mẹ là bà man Thiện, nhủ danh Trần Thị Đoan, dòng dõi Hùng Vương XVIII. Năm 20 tuổi, bà Trưng Trắc kết duyên cùng lệnh doãn ( tương đương quận trưởng ngày nay ) huyện Châu Diên là Đặng Thi Sách. Cùng năm hôn nhân của bà, vua Hán Quang Vũ bên tàu bổ nhiệm tân thái thú Tô Định qua cai trị đất Giao Châu. Họ Tô vốn người ác độc, bất cố liêm sĩ, gây oán hận cùng khắp nhân dân Giao Chỉ.
Trước thảm cảnh của dân chúng, Đặng Thi Sách làm tờ khuyến cáo tâm huyết trình lên Tô Định. Đọc tờ khuyến cáo xong, Tô Định nổi trận lôi đình, kéo quân vào huyện Châu Diên, bắt Đặng Thi Sách xử trảm. Bà Man Thiện, mẹ hai bà Trưng cùng bị chết trong khi chống cự lại quân của họ Tô.
Cái chết thảm của bà Man Thiện và Thi Sách khác nào giọt máu làm trào bầu hận thù ngoại xâm vốn đã đau đáu trong lòng hai chị em họ Trưng. Hai bà bèn mộ quân, kéo về đánh đuổi Tô Định chạy dài ra quận Nam Hải. Sau được sự tiếp tay của các nhóm nghĩa quân từ quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố, hai bà đánh chiếm được 65 thành trì, chấm dứt ách Bắc Thuộc lần thứ nhất.
Hai bà lên ngôi, lấy niên hiệu là Trưng Nữ Vương nguyên niên, đổi quốc hiệu là Triệu Quốc, đóng đô ở Mê Linh.
Một năm sau, vua Quang Vũ nhà Hán lại sai phục ba tướng quân Mã Viện đem quân sang đánh phá. Mã Viện, tên thật Mã Văn Uyên, là một danh tướng nhà Đông Hán. Tuy tuổi đã ngoài 70 nhưng còn khoẻ mạnh vô cùng.
Hai bên đánh nhau mấy trận ở bờ hồ Lãng Bạc ( Hồ Tây ngày nay ) quân Trưng Vương là quân ô hợp cho nên chống cự không lại quân viễn chinh vốn rất thiện chiện của Mã Viện. Hai bà rút quân về đóng đô ở Cẩm Khê. Mã Viện truy kích, quân hai bà vỡ tan. Hai bà chạy về đến Hát Môn, cùng đường và không muốn bị giặc bắt sống bèn tự trầm mình xuống dòng sông Hát ( chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng Hà ) mà tuẩn tiết.
Bấy giờ nhằm ngày mồng 6 thánh 2 năm Quí Mão ( 43 TL). Hai bà mới 29 tuổi. Nay ở làng Hát Môn, huyện Phú Thọ, tỉnh Sơn Tây và ở bải Đồng Nhân gần Hà Nội có đền thờ hai bà.
II. KHỎI NGHĨA CỬU CHÂN
Hai bà Trưng thất trận và tuẩn tiết rồi thì đất Giao Châu lại nội thuộc nước Tàu (Đông Hán) như xưa. Bắc thuộc lần thứ nhì kéo dài 5 thế kỷ ( 43 – 544 ). Trong suốt thời gian dài đăng đẳng đó, hà chính Tàu nhiễu nhương, dân tộc Việt chỉ nổi dậy có một lần. Và cuộc nổi dậy kỳ nầy, thêm một lần nữa lại được chủ xướng bởi một người đàn bà (1). Đó là bà Triệu Thị Chinh (2).
Bà Triệu Thị Chinh người huyện Nông Cống. Cha mẹ mất sớm, ở với anh là Triệu Quốc Đạt. Chẳng may cho bà gặp phải bà chị dâu cay nghiệt quá đổi, bà bèn giết đi rồi vào ở trong rừng núi, mộ được hơn 1.000 nghĩa quân làm thủ hạ.
Triệu Quốc Đạt thấy vậy có khuyên can bà, bà trả lời rằng " tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu, cong lưng làm tì thiếp người ta ".
Vào năm Mậu Thìn ( 248 ), vì quan lại nhà Ngô quá tàn bạo, dân ta quá đổi điêu linh, Triệu Quốc Đạt khởi binh đánh quân Cửu Chân. Bà Triệu đem quân ra giúp anh, sau bà được phong làm chủ soái. Khi xuất trận bà thường cưỡi voi và mặc áo giáp vàng, xưng là Nhụy Kiều tướng quân.
Vì quân quá ít, thế cô, cuộc khởi nghĩa Cửu Chân kéo dài được 6 tháng thì bị thứ sử Giao Châu là Lục Dận đánh tan. Bà Triệu đem tàn quân chạy về đến xã Bồ Điền ( nay là xã Phú Điền thuộc huyện Mỹ Hoá ) thì tự vận. Bấy giờ bà mới 23 tuổi ! Nay có đền thờ bà ở xã Phú Điền, Thanh Hoá.
III. KHỞi NGHĨA LONG BIÊN
Cuộc khởi nghĩa Long Biên cách xa cuộc khởi nghĩa Cửu Chân đến 293 năm ( 248 – 541 ). Nhìn lại thời gian gần 3 thế kỷ liên tục bị Tàu đô hộ, tiền nhân chúng ta vẫn kiên cường chịu đựng được mọi thống khổ và không những không bị mất gốc, còn âm thầm nuôi dưỡng ý chí quật khởi, mà cảm phục, tri ân thay !
Người chủ xướng khởi nghĩa Long Biên tên Lý Bôn ( hay Lý Bí ). Ông Lý Bôn vốn người gốc Tàu, tổ tiên ông chạy loạn Tây Hán qua đất Giao Châu, đến đời ông đã được 7 đời, thành thử xem ông không khác gì người bản xứ.
Bấy giờ thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư. Họ Tiêu rất bạo ngược, làm cho lòng người oán thán. Lý Bôn bèn mộ quân nổi dậy đánh đuổi Tiêu Tư, chiếm thành Long Biên, lập ra nhà Tiền Lý ( 544 ). Trong khi đó bên Tàu thuộc đời vua Vũ Đế nhà Lương. Lý Bôn chọn đế hiệu là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân và niên hiệu là Thiên Đức.
Làm vua được 4 năm thì Lý Nam Đế băng hà, nhằm năm Mậu Thìn ( 548 ). Từ đó nước Vạn Xuân, một phần bị Tàu quấy phá, một phần bị nội chiến giữa Việt Vương Triệu Quang Phục và cháu Lý Nam Đế là Lý Phật Tử mà suy vi.
Trong lúc ở Vạn Xuân, Lý Phật Tử đánh bại Triệu Việt Vương, lập ra nhà Hậu Lý, thì bên Tàu nhà Tùy nhất thống giang sơn. Vua Văn Đế nhà Tùy sai tướng Lưu Phương mang quân qua đánh nước ta. Lý Phật Tử thất thế không cự nổi, đành xin hàng. Đất Việt lại nội thuộc Tàu thêm 336 năm nữa ( 603 – 939 ).
IV. KHỞi NGHĨA HOAN CHÂU
Khởi nghĩa Hoan Châu – nay thuộc huyện Nam Điền tỉnh Nghệ An – bùng nổ vào năm Nhâm Tuất ( 722 ) là năm khai nguyên thứ 10 đời vua Đường Huyền Tôn bên Tàu. Người phát động cuộc khởi nghĩa là Mai Hắc Đế. Ông là người huyện Thiên Lộc ( huyện Cam Lộc, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay ), mặt mũi đen sì, sức mạnh phi thường.
Đứng trước cảnh dân tình bị quân nhà Đường đày đoạ dã man (3), lại nhân giặc giả nổi dậy khắp Giao Châu, họ Mai chiêu mộ quân binh, vùng dậy đánh chiếm đất Hoan Châu, xưng đế, tục gọi Mai Hắc Đế.
Vua nhà Đường vội cho Dương Tư Húc đem binh sang dẹp Mai Hắc Đế. Mai Hắc Đế thế yếu, thua chạy, được ít lâu thì tạ thế. Nay còn di tích thành cũ của ông ở Nghệ An.
V. KHỞI NGHĨA ĐƯỜNG LÂM
Đến năm Tân Tỵ ( 791 ) quan đô hộ là Cao Chính Bình buộc dân Nam đóng sưu thuế quá nặng, tiếng oán thấu trời. Ở huyện Đường Lâm ( nay là làng Cam Lâm, tỉnh Sơn tây ) có người họ Phùng tên Hưng nổi lên chiếm giữ phủ đô hộ, nhưng chỉ được vài tháng thì Phùng Hưng mất.
Dân chúng ái mộ họ Phùng, tự nguyện lập đền thờ và suy tôn làm Bố Cái Đại Vương, ý coi Phùng Hưng như cha mẹ ; khác hẳn chuyện thời nay, băng nhóm công kênh, thần thánh hoá biểu tượng của mình và dùng quyền lực ép thiên hạ thậm chí trước thờ sống rồi nay thờ chết.
VI. KHỞI NGHĨA BẠCH ĐẰNG
Ngô Quyền gốc người Đường Lâm, cùng làng với Bố Cái Đại Vương, vừa là tướng vừa là rể của tiết độ sứ Dương Diên Nghệ. Dương Diên Nghệ bị nha tướng là Kiều Công Kiện mưu sát đoạt quyền. Ngô Quyền bèn cử quân phục thù. Họ Kiều vội cho người sang cầu viện với vua Nam hán. Vua Tàu và thái tử Hoằng Tháo đem binh qua tiếp viện. Ngô Quyền tuyền lệnh cho quân sĩ lấy gỗ bọc sắt nhọn, cắm sâu xuống lòng nuớc sông Bạch Đằng (4) chờ lúc thủy triều dâng, ông cho quân ra khiêu chiến quân Tàu rồi trá bại, dụ quân Tàu đuổi nà theo. Đến khi thủy triều hạ, ông thúc quân quay lại phản công dữ dội, quân Tàu thua xiểng liểng, bao nhiêu thuyền mắc vào cọc nhọn, thủng nát hết, quân số thương vong lên quá nửa. Hoằng Tháo bị Ngô Quyền bắt giết.
Bị một trận Bạch Đằng, vua tôi nhà Nam Hán sợ bạt vía, hết dám sang quấy phá nữa.
VII. KHỞI NGHĨA LAM SƠN
Mượn cớ Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần, vua nhà Minh bên Tàu cho Trương Phụ kéo binh qua nước ta với tính cách ( nay gọi là Nhân Danh ) Diệt Hồ, phục Trần, để rồi áp đặt luôn ách nô lệ tàn khốc lên đầu lên cổ dân ta.
May sao đến mùa xuân năm Mậu Tuất (1418 ), đời vua Thành Tổ nhà Minh có người nhà nông họ Lê tên Lợi, người đất Lam Sơn, cùng Lê Trạnh, Lê Liễu, Lê Lai và Nguyễn trãi khởi binh chống giặc Minh ròng rã 10 năm ( 1418 – 1427 ) mới giành lại được bờ cõi.
Lê Lợi lên ngôi tức Lê Thái Tổ, đặt quốc hiệu là Đại Việt.
Triều đại nhà Lê duy trì nền độc lập tổng cộng được 350 năm ( 1428 – 1788 ) thì bị dứt vào tay nhà Nguyễn Tây Sơn.
Nhà Nguyễn Tây Sơn tiếp nối nhà Lê được 14 năm ( 1788 – 1802 ) (5) thì lại mất vào tay dòng họ Nguyễn Gia Long, mối manh của trường thảm kịch " đạo đi trước, cướp nước đi sau " của thực dân Pháp ( 1867 – 1954 ).
VIII. KHỞI NGHĨA HƯƠNG KHÊ
Nguyên nhân sâu xa đưa đẩy Pháp xâm lăng, đô hộ Việt Nam, theo người viết, gồm có :
HAI NGUYÊN NHÂN CHÍNH
1. Tham vọng tìm thị trường và tài nguyên của Pháp nói riêng, của Âu châu nói chung.
2. Việc cấm truyền đạo Thiên Chúa ở Việt Nam.
HAI NGUYÊN NHÂN PHỤ
1. Tinh thần bảo thủ quá khích ( nay gọi là duy ý chí ) của vua tôi nhà Nguyễn Phúc, trước sự xoay đổi của thế giới.
2. Triều đình nhà Nguyễn Phúc không chịu thi hành giao ước 1787 được ký kết giữa hoàng tử Cảnh, ông giáo sĩ Bá Đa Lộc ( Pierre Pigneau de Béhaine ) và thượng thư bộ ngoại giao Pháp là bá tước De Montmorin (6).
Nước Pháp chính thức đặt ách đô hộ lên toàn cõi Nam Kỳ từ tháng 6 năm Đinh Mùi ( 20.6.1867 ), thời vua Tự Đức và lũng đoạn Trung Kỳ qua tấm bình phong là vua Đồng Khánh từ ngày 19 tháng 9 năm 1885.
Thời gian trước ngày có cuộc khởi nghĩa Hương Khê thì các cựu thần việt nam, kẻ thì ra đầu thú, người thì ẩn dật. Riêng Phan-Đình Phùng vẫn bất khuất, kiên gan mộ quân, cho người sang Tàu, sang Xiêm ( nay là Thái Lan ) học đúc súng, đúc đạn đợi ngày quật khởi.
Phan-Đình Phùng là người Hà Tĩnh, thi đỗ đình nguyên (7), làm quan ngự sử dưới trướng vua Tự Đức ; sau bị hai quyền thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cách chức đuổi về.
Khi quân viễn chinh Pháp chiếm kinh thành Huế, vua Hàm Nghi bôn đào ra Quảng Bình, truyền hịch kêu gọi sĩ phu các nơi ra cứu nước, ông Phan-Đình Phùng khởi xướng và lãnh đạo đảng Văn Thân, lập chiến khu trong rừng Hồng Lĩnh ( Hà Tĩnh ).
Ròng rã hai năm ( 1893 – 1895 ) , quân Pháp đánh ông mãi nhưng chỉ tốn của hao người mà chẳng làm gì được ông, bèn sai bạn ông là Hoàng Cao Khải viết thư dụ ông ra hàng. Ông trả lời : " Nhất quyết vì dân, vì nước mà tranh đấu đến hơi thở cuối cùng ".
Sau, Pháp sai tổng đốc Bình Định là Nguyễn Thân đem đại binh bao vây cố bắt cho được ông. Bấy giờ Phan-Đình Phùng tuổi đã già, thế lực một ngày một kém, lại lao khổ quá chừng, nhuốm bệnh mà mất. Nguyễn Thân cho người truy tìm mã ông, quật đào lấy xác, đốt với tro trộn với thuốc súng mà bắn xuống sông La Vang.
Phan–Đình Phùng nằm xuống đảng Văn Thân tan rã: người trốn ra ngoại quốc, người ra Bắc tiếp tục đấu tranh, người ra đầu thú bị bắt đày ra Côn Đảo.
IX. KHỞI NGHĨA ĐỊNH TƯỜNG
Trương Công Định là người đầu tiên khởi nghĩa chống Pháp ở Miền Nam.
Sau khi ký kết hoà ước Nhâm Tuất (1802) với Pháp, triều đình ta truyền lệnh bải binh, nhưng Trương Công Định về Định Tường chiêu mộ nghĩa quân kháng chiến đến cùng. Nghĩa quân tôn ông làm Bình Tây Đại Nguyên Soái.
Chiến thuật chống Pháp của họ Trương là du kích, khi ẩn khi hiện ; nay đánh đồn nầy, mai đánh đồn khác, làm quân Pháp không biết đâu mà lường. Ông thắng được nhiều trận, lớn nhất là trận Cần Giuộc ( Long An ).
Đánh hoài không thắng được ông, thực dân dụ ông ra hàng, hứa hẹn quyền cao chức trọng. Ông không trả lời. Triều đình ra lệnh cho ông giải giáp, ông cũng không tuân theo.
Về sau, Hùynh Công Tấn phản bội, chỉ điểm nơi cư ngụ của ông cho Pháp. Pháp mang quân đến vây, ông hăng hái chống trả suốt đêm. Chẳng may bị trúng đạn, ông rút gươm tự tận. Người sau có thơ:
Phất cờ chống nạn xâm lăng,
Trương Công nghĩa khí lẫy lừng trời Nam.
X. KHỞI NGHĨA BA ĐÌNH
Ba Đình là một địa danh gồm ba làng Mỹ Khê, Thượng Thơ và Mậu Thịnh thuộc tỉnh Thanh Hoá, nơi phát tích của hai triều đại Lê, Nguyễn. Ba Đình được ghi vào lịch sử từ tháng 9 năm 1886 qua cuộc đề kháng của đồng bào tỉnh Thanh Hoá sau lời hịch Cần Vương của Tôn Thất Thuyết, tố cáo manh tâm của thực dân muốn thôn tính toàn bộ nước ta. Người xây chiến lũy Ba Đình là ông Đinh Công Tráng, một chiến sĩ can đảm và một nhà chỉ huy thao lược.
Thực dân Pháp thấy chiến lũy Ba Đình quá lợi hại nên nhất quyết tiêu diệt cho bằng được. Trước, Pháp đem quân từ Thanh Hoá và Nam Định đến tấn công nhưng bị thất bại nặng nề, phải rút lui. Sau, họ phải huy động đến 4.000 quân có bốn chiến hạm đầy đủ súng ống, bắn vào như mưa, nhưng chiến lũy Ba Đình vẫn trơ trơ không chút nao núng. Pháp lại một phen thảm bại.
Cuối cùng, Pháp phải đem hết lực lượng quân sự ngoài Bắc đến bao vây mọi mặt. Đại bác nả đạn vào, quân cảm tử liều phá. Quân kháng chiến chống cự oanh liệt. hai bên chết hại rất nhiều. Sau 16 ngày đánh nhau thảm khốc, chiến lũy mới vỡ. Chiến lũy Ba Đình vỡ, Đinh Công Tráng chạy về đồn Mã Cao ( Thanh Hoá ) tiếp tục chiến đấu. Quân Pháp kéo đến, đôi bên đánh nhau kịch liệt, quân sĩ chết nằm ngỗn ngang trên chiến địa. Sau rốt, vì hết đạn, quân ta phải bỏ đồn.
Đinh Công Tráng đem tàn quân lẫn tránh trong làng Tãng Yên, rồi bị tên lý trưởng tố cáo, quân Pháp đến vây làng, ông bị bắn nhiều phát súng lục, chết tại chỗ.
Ba Đình trăm trận sông pha,
Đinh Công Tráng đánh giặc nước nhà vẽ vang.
XI. KHỞI NGHĨA HÙNG LĨNH ( 1886 – 1892 )
Cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩng ( thuộc Thanh Hoá ) xãy ra cùng thời với các cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy. Người cầm đầu là Tống Duy Tân, người làng Đông Biên ( Bồng Trung ) thuộc Thanh Hoá .
Chiến thuật Hùng Lĩnh giống hệt chiến thuật Ba Đình, tức là chọn một địa điểm hiểm yếu, xây dựng chiến khu vững chắc rồi nhử giặc đến mà tiêu diệt.
Trong thời kỳ đối kháng với quân Pháp do thiếu tá Térillon chỉ huy ở xã Đông Khố, nghĩa quân Hùng Lĩnh đã lắm phen gây nhiều tổn thất cho địch. Sau nhóm của Tống Duy Tân bị Pháp tấn công rát quá, phải chạy ra Bắc kỳ, họ Tống lánh qua Trung Quốc.
Tháng 11-1888 vua Hàm Nghi bị bắt và bị đày qua Alger ( thủ đô Algérie ), Tống Duy Tân trở về lập cứ điểm ở Vân Động, tiếp tục cuộc kháng chiến.
Bốn năm sau, chiều 4-10-1892 vợ một thổ ty nghĩa quân bị quân Pháp hăm doạ, khiếp sợ bà phải chỉ chỗ ẩn của Tống Duy Tân là một cái hang nằm trong trái núi phía nam Niên Kỷ.Ông bị bắt giải về Thanh Hoá và bị quân Pháp bêu đầu. Có thuyết lại cho rằng ông bị bắt là do một tên học trò cũ của ông tên Cao Ngọc Lễ phản bội, tố giác để lãnh chức tri huyện.
XII. KHỞI NGHĨA BÃI SẬY
Bãi Sậy nằm trong phạm vi mấy huyện Văn Giang, Khoái Châu và Mỹ Hào thuộc tỉnh Hải Dương. Trước là một vùng đồng ruộng nhưng đến triều Tự Đức vì quan lại bất lực để Văn Giang vỡ đê 18 năm liền, cho nên nơi đó trở thành hoang vu, sậy lau mọc um tùm.
Khi hịch Cần Vương lan ra tới Bắc kỳ, ông Nguyễn Thiện Thuật vội từ chức Tán lý quân vụ và chọn Bãi Sậy làm vị trí khởi nghĩa chống Pháp. Tán Thuật cho làm các giao thông hào ra quanh các vùng lân cận, lấy rừng lau rậm rạp để che giấu các cuộc chuyển quân và đặt cảm bẩy dụ địch mò đến và sa xuống. Ông còn liên kết với các nhóm kháng chiến khác như nhóm của Tạ Hiển ở Thái Bình, nhóm của Đốc Tít, Nguyễn Đức Hiếu ở Đông Triều, nhóm của Lãnh Giang và Hai Kế ở Bắc Ninh …
Một thời do những trận đánh oai hùng của nghĩa quân, Bãi Sậy đã được lừng danh là một địa phương kháng giặc mạnh nhất.
Khởi nghĩa Bãi Sậy kéo dài được năm năm, lập được nhiều thành quả đáng kể, Pháp phải tặng Nguyễn Thiện Thuật danh hiệ " Vua Bãi Sậy ".
Đánh hoài không phá nổi chiến khu Bãi Sậy, Pháp bèn sai Hoàng Cao Khải, một khuyển mã cao cấp của Pháp, viết thư dụ tán Thuật ra hàng, hứa hẹn phục hồi đầy đủ chức tước, quyền lợi. Tán Thuật khẳng khái từ chối. Dụ không được, Pháp ra lệnh cho Hoàng Cao Khải cất đại binh đến bủa vây Bãi Sậy, chận đường tiếp lương, rồi tràn quân cảm tử vào đánh. Hai bên chạm nhau ác liệt, quân số thương vong đếm không xuể. Cuối đến, vì hết đạn, nghĩa quân tan rã.
Vua Bãi Sậy chạy qua Trung Quốc, bị bệnh và mất bên đó.
XIII. KHỞI NGHĨA YÊN THẾ
Yên Thế !
Một địa danh hiểm trở, bí mật hãi hùng, ai nghe nói tới cũng phải rùng mình. Yên Thế có rừng sâu, nước độc, thú dữ, đèo cao, lau sậy chịt chằng…và là giang sơn biệt lập của con cọp xám cách mạng chống Pháp mang tên Hoàng Hoa Thám.
Tên thật của cụ Hoàng Hoa Thám hay Đề Thám là Trương Văn Thám. Cụ sinh trưởng tại Sơn tây, gốc là dân bần cố nông thuần túy. Thiếu thời cụ đã chăn trâu, làm tá điền, sau gia nhập nghĩa quân. Nhờ tinh thần chiến đấu dũng cảm hơn người và do chỗ các đàn anh trong nội bộ lần lượt hoặc ngã gục, hoặc qua đời vì bệnh tật, cụ được anh em đề cử thống lãnh phong trào.
So với các cuộc khởi nghĩa chống lại ngoại xâm giành quyền tự trị trong quá trình lập quốc và kiến quốc, cuộc khởi nghĩa Yên Thế bền lâu nhất: 30 năm !
Ba mươi năm nằm gai nếm mật chống lại thực dân, nghĩa quân Yên Thế đã lưu danh những trận đánh lớn sau đây:
- Trận Cao Thượng: 4 đến 21-11-1890 ;
- Trận Hữu Nhuế: 04-12-1890 đến 11-01-1891
- Trận Yên Thế, đợt 1: 05-10-1891 đến 25-10-1894
Trận Yên Thế đợt 1 tạm
dứt không vì thắng bại mà vì giảng hoà, thương thuyết trao đổi giữa sinh mạng của Chesnay, chủ nhiệm tờ L'Avenir du Tonkin kiêm đại điền chủ, và một thầu khoán đường xe lửa Lạng-Sơn tên Logiou, cả hai lỡ bị kẹt trong tay nghĩa quân, với bốn đìều kiện do cụ Đề Thắm đặt ra cho chính phủ bảo hộ Pháp:
1/ 15.000 đồng bạc Đông Dương ( bạc trắng ) (8)
2/ Quân đội Pháp phải triệt thoái ra khỏi phạm vi Yên Thế ;
3/ Pháp phải nhường quyền cai trị 4 tổng: Nhã nam, Mục Sơn, Yên Lễ và Hữu Thượng cho nghĩa quân Yên Thế ;
4/ Nhường việc thâu thuế các thứ của dân 4 tổng kể trên cho nghĩa quân trong 3 năm.
Cuộc đình chiến lần thứ nhất kéo dài vỏn vẹn 6 tháng (10-1894 * 5-1895) thì lại bùng nổ. Đánh nhau thêm hai năm, Pháp phải điều đình ngưng chiến. Lần nầy đinh chiến được 12 năm ( 1897 – 1909 ) đôi bên mới đánh nhau trở lại.
Pháp đưa thư dụ cụ Đề Thám ra hàng, cụ không trả lời.
Rồi vào dịp Tết Nguyên Đán 1913, cho nghĩa quân về với gia đình vui hưởng xuân, Hùm Thiêng Yên Thế họ Hoàng bị thủ hạ ám sát. Cụ chết vào 4 giờ sáng ngày 10 tháng 2 năm 1913.
XIV. KHỞI NGHĨA YÊN BÁI
Sau khi ông Phan Bội Châu bị bắt, bị hội đồng đề hình kết án khổ sai chung thân, rồi lại được ân xá và an trí tại Bến Ngự, ông Phan Chu Trinh ở Pháp về rồi tạ thế tại Sàigòn, tinh thần yêu nước lại nổi sóng trong óc người Việt, nhất là trong tầng lớp thanh niên trí thức.
Đêm 25-12-1927, trên tầng lầu Nam Đồng Thư Xã, tên một nhà sách, ở số 6 đường Hồ Trúc Bạch, Hà Nội, có một cuộc hội nghị khai sinh ra đảng cách mạng manh tên Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) linh hồn của cuộc khởi nghĩa Yên Bái sau nầy.
Chủ tịch VNQDĐ là Nguyễn Khắc Nhu, tục gọi là Xứ Nhu ; phó chủ tịch là Nguyễn Thái Học. Tuy vậy, quyền đảng trưởng, chỉ huy việc đảng thực ra vẫn ở trong tay Nguyễn Thái Học.
Nguyễn Khắc Nhu người làng Sông Khê tỉnh Bắc Giang, sinh năm Tân Tỵ (1881). Nguyễn Thái Học người làng Phổ Tang, tỉnh Vĩnh Yên (Bắc Việt), sinh năm Tân Sửu (1901), nhưng theo hồ sơ trường học thì khai là 1-12-1904.
VNQDĐ là đảng cách mạng đầu tiên ở VN có một cơ cấu tổ chức hẳn hòi. Phương châm hành động của đảng là bạo động. Mục dích là tranh thủ độc lập, lấy lý tưởng Tam Dân ( dân quốc, dân chủ, dân sinh ) của Tôn Dật Tiên làm nền tảng thực hiện một quy chế chính trị cho nước nhà.
Cuộc bạo động đầu tiên của VNQDĐ là vụ ám sát tên trùm mộ phu Bazin, vào chiều 30 Tết Mậu Thìn ( 9-12-1929 ). Do đó, đảng bị sở mật thám Tây ruồng, một số lớn đảng viên nồng cốt bị bắt bỏ tù.
Sau đó ít lâu, VNQDĐ chọn ngàt 10-2-1930 làm ngày tổng khởi nghĩa. Bất đồ chiều ngày 9, các nơi nhận được lệnh hoản đến ngày 15, tức năm ngày sau. Riêng Xứ Nhu cứ ra lệnh cho anh em đánh Yên Bái, chiếm lấy trại, trương cờ " máu đỏ da vàng " của đảng lên. Mười sĩ quan và hạ sĩ quan Tây bị giết, mấy chục tên khác bị thương, song, chỉ rạng hôm sau, quân Pháp phản công mãnh liệt, đoạt lại trại, quân ta rút vào rừng.
Trong khi ra lệnh cho anh em đánh Yên Bái, Xứ Nhu tự đem quân đánh luôn đồn Hưng Hoá và phủ Lâm Thao, cũng chiếm được phủ lý, nhưng rồi lại bị quân Pháp chống trả, Xứ Nhu bị thương nặng, đập đầu vào tường tự tử.
Nghe tin Yên Bái bị thất bại, chi bộ các nơi vội lục đục nổi dậy nhưng vì bất nhất không nơi nào thành công trọn vẹn cả.
Sau cuộc tổng động binh nói trên, nửa đêm 20/21-02-1930, trên đường lẫn tránh chính phủ bảo hộ, Nguyễn Thái Học bị bắt ở Cổ Vịt và đến ngày 17-06 cùng năm, ông và 12 đồng chí (9) bị đưa lên đoạn đầu đài ở Yên Bái. Trước khi lưởi dao máy phập xuống, ông vừa quay đầu nhìn công chúng vừa hô: Việt Nam Muôn Năm !
XV. KHỞI NGHĨA MÙA THU 1945
Đông Dương CS Đảng ra đời cùng thời với cuộc tổng khởi nghĩa Yên Bái thất bại của VNQDĐ ( 1930 ). ĐDCSĐ được khai sinh tại Hương Cảng ( HongKong ), do Hồ Chí Minh ( HCM ) chỉ huy, với sự cố vấn của Lê Nin tận Moscou.
Năm 1920, ông Hồ ( dưới cái tên viết báo chung là Nguyễn Ái Quốc ) được tham dự hội nghị Tours, bên cạnh trùm cộng sản Pháp Marcel Cachin. Như mọi người đều biết, hội nghị này đã đề ra phong trào đệ nhị, đệ tam quốc tế. Sau đó, ông Hồ xin gia nhập đảng CS Pháp.
Năm 1924, qua Trung Quốc dưới tên Lý Thụy, ông Hồ thành lập Liên Đoàn Các Dân Tộc Bị Áp Bức ( Á Tế Á ). Một năm sau, 1925 ( năm cụ Sào Nam Phan Bội Châu bị Pháp bắt ), Liên Đoàn biến thành Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, rồi trở nên Đông Dương CS Đảng năm 1930.
Tháng 3 năm 1930, ĐDCSĐ được Moscou chính thức công nhận và cho gia nhập Đệ Tam Quốc Tế.
Ngày 26-09-1939, chính phủ bảo hộ Pháp ban hành một đạo luật cấm triệt mọi hành động của ĐDCSĐ. Đảng bèn rút lui qua Quảng Tây ( Trung Quốc ), nơi đặt bản doanh của Tổng Bộ.
Đến năm 1941, trong hội nghị Tsing-si, ĐDCSĐ cho thành lập Mặt Trận VN Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh.
Từ 1943, nhờ sự giúp đỡ của Trung Quốc và Hoa Kỳ ( qua trung gian cơ quan OSS, tiền thân của CIA ), CSVN đã chuẩn bị vũ trang chờ ngày khởi nghĩa.
Ngày 19-08-1945, Hồ Chí Minh và ĐCSVN đã cướp được chính quyền. Rồi tuyên ngôn độc lập ngày 02-09-1945, tức ngày Quốc Khánh của CS Hà Nội.
Nhưng rồi, với tư cách một nước thuộc phe đồng minh thắng trận trong Thế Chiến thứ 2 và được sự tiếp tay của liên quân Anh-Ấn, Pháp đã trở lại Việt Nam, đẩy chính quyền CSVN ra khỏi Sàigòn.
Ngày 17-04-1946, CSVN và Pháp gặp nhau trong hội nghị Đà Lạt, nhưng cuộc hội đã tan rã ngay trong buổi đầu.
Năm tháng sau ( 09-1945 ) hai bên lại cố gắng điều đình trong hội nghị Fontainebleau. Hội nghị lần nầy cũng suýt tan vỡ thì vào nửa đêm 14 rạng ngày 15 tháng 9, Hồ Chí Minh và bộ trưởng thuộc địa Pháp, Marius Moutet đã ký một thoả ước ( Modus Vivendi ) điều đình cho Pháp kiểm soát Nam Kỳ, để đổi lại Pháp phải công nhận hình thức Độc Lập của Bắc Việt.
Nhưng chỉ ba tháng sau, Pháp gây sự, đánh phá Hải Phòng và Hà Nội, Việt Minh phải hạ lệnh toàn dân kháng chiến ngày 19-12-1946 …
Chín năm toàn dân kháng chiến đưa tới hiệp định Genève ngày 20-07-1954, chia đôi đất nước Việt Nam và mở màn cho vở thảm kịch tương tàn hai miền Nam Bắc, kéo dài 21 năm ( 1954 – 1975 ) .
Riêng đối với Mùa Xuân Đại Thắng 30-04-1975 và hệ lụy của nó như thế nào trên toàn cõi nước Việt dưới sự lãnh đạo độc quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1975 – 2005 ) con dân nước Việt sẽ bình và công tâm viết tiếp trong những ngày tháng tới .
PĐT- Hàn Lệ Nhân
Paris, 1982 - 2005
CHÚ THÍCH
(1) Trong thời phong kiến chuyên chế, người đàn bà bị coi như tôi mọi của đàn ông, đối với xã hội người đàn bà không có chút nghĩa lý gì cả, thế mà hai cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở nước ta lại do ba đấng nữ lưu phát dộng, thì cả ba thật là bậc phi thường. Vua Tự Đức có phê trong quyển " Khâm Định Việt Sử " về chương Trưng Nữ Vương như sau: " Hai Bà là quần thoa mà có chí khí anh hùng, làm việc nghĩa khí kinh động cả đến Hán triều. Tuy thế cô, thời trái, nhưng cũng làm cho hứng khởi lòng người để làm gương sáng trong sử sách. "
" Kià những đấng tu mi nam tử khép áo làm tôi tớ cho người, chẳng cũng mặt dày xấu hổ mà chết được ư …"
Đọc lại lịch sử Jeanne d' Arc ( nữ anh hùng người Pháp ) và Trưng Nữ Vương, so sánh sự nghiệp, chiến công thì sự cách biệt thật là xa lắc xa lơ. Ấy thế mà cả thế giới đều biết Jeanne d' Arc còn ngoài Việt Nam ta, có mấy nước khác biết đến Trưng Nữ Vương ? Tại sao ? - Tại vì người Pháp khéo tuyên truyền, đề cao, sùng bái nữ thánh của họ ! và không riêng gì trường hợp nầy, trên hầu hết mọi phương diện khác cũng vậy !
Đơn cử một ví dụ :
Hàng triệu triệu người Việt nói, viết, hát tiếng Pháp, tiếng Anh như cháo, chính chúng ta lại cho đó là thường tình, thế mà chỉ một ông Tây bà đầm nào đó nói, nhất là Hát bập bẹ ngô nghê vài câu tiếng việt … trên sân khấu ( biết hát mà có hiểu mô tê gì đâu ) thì toàn thể người Việt Nam ( trong và ngoài nước ) ta xuýt xoa vỗ tay ngày nầy qua ngày khác, năm nầy qua năm khác, lăng xê rầm rầm …
(2) Trước kia chúng ta theo thói quen của người Tàu, gọi bà Triệu là Triệu Ẩu, nay xét lại thì không nên vì theo tiếng Hán, chữ Ẩu có nghĩa là con Mụ, danh xưng đàn bà ở đợ lớn tuổi .
(3) Theo sử sách chép lại thì trong thời VN bị nội thuộc nước Tàu, nhà Đường là nhà cay nghiệt nhất .
(4) Bạch Đằng là một nhánh của sông Thái Bình, phần địa giới hai tỉnh Kiến An và Quảng Yên ngày nay, đổ ra biển do cửa Nam Triều. Bạch ằng cũng là nơi Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn đánh tan quân Mông Cổ nhà Nguyên (1288).
(5) Nhà Nguyễn Tây Sơn dấy nghiệp từ 1788. Nguyễn Nhạc xưng đế ở Quy Nhơn từ 1788 đến 1802, tổng cộng được 24 năm, nhưng Nguyễn Nhạc chỉ làm vua từ đất Quảng Nam, Quảng Nghĩa trở vào, còn từ Phú Xuân ( Huế ) trở ra vẫn thuộc nhà Lê. Đến năm 1788, vua Quang Trung Nguyễn Huệ phá quân Thanh, bình Bắc Hà, sửa sang chính trị bấy giờ nước Nam mới nhất thống dưới triều Nguyễn tây Sơn. Vậy tính từ 1788 đến 1802, nhà Nguyễn Tây Sơn làm vua toàn cõi nước Nam được võn vẹn14 năm .
(6) Bản giao ước nầy hiện còn được lưu giữ tại Bộ Ngoại Giao Pháp. Muốn biết nội dung nó, xin đọc " VN Sử Lược " ( cuốn 2 ) của Trần Trọng Kim, trang 115.
(7) Đình Nguyên: người đổ đầu khoa thi Đình.
(8) Có bạc trắng nghĩa quân mới mua được súng đạn ở nước ngoài. Và muốn có bạc trắng, nghĩa quân chủ trương bắt được giặc Pháp thì, thay vì giết, bắt họ chuộc bằng bạc trắng .
(9) Mười ba liệt sĩ lần lượt lên đoạn đầu đài gồm có :
1. Bùi Tư Toàn ; 2. Bùi Văn Chuẩn ; 3. Nguyễn Âm ; 4. Hà Văn Lao ; 5. Đào Văn Nhít ; 6. Ngô Văn Dư ; 7. Nguyễn Đức Thịnh ; 8. Nguyễn Văn Tiêm ; 9. Đỗ Văn Tư ; 10. Bùi Văn Cửu ; 11. Nguyễn Như Liêm tức Ngọc Tĩnh ; 12. Phó Đức Chính và 13. Nguyễn Thái Học.
SÁCH THAM KKẢO
- VN Sử Lược , Trần Trọng Kim
- VN Pháp thuộc sử, Phan Khoang
- Nguyễn Thái Học, Cố Nhi Tân
- Hãy chọn: Tư bản ? Không Cộng sản ? Không ! - Việt Nam Trăm Phần Trăm ( không đề tên tác giả )
- Việt Sử Tân Biên, Phạm Văn Sơn
- Phan Bội Châu Niên Biểu, Nguyễn Khắc Ngữ
- Những Ngày Cuối Cùng của VNCH, Nguyễn Khắc Ngữ
- Những Đàn Bà Lừng Danh Trong Lịch Sử, Nguyễn Vỹ.
Chủ nghĩa nào hơn chủ nghĩa tình thương
Chủ nghĩa nào hơn chủ nghĩa áo cơm.
(hln)