Tình Ca Giáo Viên Miền Núi Chương 57 & 58
::: Chương LVII :::
Tình Ca Giáo Viên Miền Núi
Sáng thứ tư, tôi tới tiệm Cờ Tây lấy năm bảy món thịt chó như đã đặt hôm trước và một lít rượu đế ngon. Ông bà chủ biết tôi phải đưa đi xa nên gói ghém kỹ càng. Quán này nổi tiếng với 72 món ăn gia giảm khác nhau, đủ kiểu cả. Ông chủ hôm qua đã nói làm đặc biệt cho tôi con chó vàng, chứ không tìm ra đâu được chó trắng. Ông trích dẫn, "Nhất bạch, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm" để chứng minh món ông bán cho tôi không phải xoàng xoàng. Ông nói:
-- Cậu phải lấy thêm món tiết canh thì mới đúng khẩu dân nhậu!
-- Thôi được rồi bác, để khi nào tụi cháu về đây, tụi cháu kéo nhau ra nhậu một phen đúng khẩu vị. Còn bây giờ, dồi, thịt chó rượu mận, kho riềng, và các món đặc biệt của bác là quá đủ rồi!
Thế là trong ba lô tôi đã đầy muối vừng, muối đậu phộng, lương khô và những thứ linh tinh khác, tôi xách một giỏ to bọc lá chuối, bao nhựa cẩn thận lên đường. Bác tài bảo lơ xe ra ngồi sau nhường chỗ cho tôi ngồi phía trước sợ mấy món đồ ăn của tôi đổ ra xe bác hay bị bụi bặm. Tôi không nói cho ai biết đó là các món ăn thịt chó, sợ người ta kiêng kị gì thì kẹt. Cũng may mà ông chủ quán Cờ Tây gói rất kỹ, chẳng mảy may mùi thịt chó gì hết! Nếu bay mùi không chừng tôi phải lội bộ!
Bác tài vừa lái vừa nói chuyện. Tôi trả lời sơ sơ không muốn phật lòng bác, chứ thực sự tôi chỉ muốn ngồi yên, nhắm mắt lại, dấu mình trong nỗi buồn riêng tư. Tôi vừa mất người yêu, người bạn trong cùng một ngày, có thể là do tôi, có thể là định mệnh. Tôi đâu biết làm sao nữa! Tự nhiên nhiều việc đến dồn dập. Như nước chảy đá mòn, những câu hỏi của bác tài cũng dần dần làm tôi bơn bớt buồn, đưa tôi ra khỏi vỏ ốc cô đơn. Bác tài hỏi:
-- Cháu ở rừng lâu, sao không đi săn đãi tiệc mà phải về thị xã, vừa tốn kém vừa mất công?
-- Đồ ăn rừng, đâu ngon bằng đồ ăn như ở tiệm họ làm sẵn bác!
-- Cũng tuỳ thôi, nếu biết nấu, thì còn ngon hơn tiệm!
-- Biết nấu thì còn nói gì! Ở tiệm họ có đủ dụng cụ, nồi niêu, soong chảo; chứ ở trên huyện có đâu được như vậy!
-- Cháu hôm nào đi kiếm cho bác ít thịt nai, bác làm đãi cháu!
-- Thật nhé! Hay chủ nhật tới nữa, bác ở lại lâu lâu một chút, hay bác để anh lơ xe lái xe về, bác ở lại phòng giáo dục với cháu, dạy cháu làm vài món ra mắt thiên hạ đi!
-- Nai đã có đâu mà làm như có rồi!
-- Cháu có hơn một tuần chuẩn bị mà! Coi như bỏ chủ nhật này, chủ nhật tới bác ở lại đi, cháu bảo đảm có nai cho bác! Thứ bảy tới mãn khoá học, cháu tổ chức đi săn, sáng chủ nhật thế nào cũng có nai cho bác trổ tài!
Vừa vụt câu nói ra, tôi chợt ân hận. Chưa kịp chữa lại thì bác tài đã nói:
-- Được, được, bác sẽ trổ tài, nhớ đó! Thầy giáo không được nói dối!
Tôi bật cười, kể lại chuyện đồng bào thượng nói với tôi một lần sau một buổi họp. Họ nói:
-- Thầy giáo không được nói dối như cán bộ!
-- Đồng bào sao lại nói vậỷ
-- Hối chiến tranh, cán bộ nói sau chiến tranh, ai muốn sống đâu thì sống, muốn làm gì thì làm, bây giờ có được vậy đâu.
-- Thời buổi lúc đầu mà! Sau này sẽ khác hơn!
-- Thầy giáo định làm cán bộ hả! Đừng có nói dối như thỏ!
Tôi giải thích cho bác tài biết, người thượng rất thành thật, và chuyện con thỏ và con cọp, thỏ thì dựa vào trí khôn lanh hay lừa dối, cọp thì chỉ có sức khoẻ thôi, hay bị lợi dụng lừa phỉnh. Bác tài trố mắt ngạc nhiên khi nghe câu: juan nah tơ pai, jrai nạ amoông ( người kinh con thỏ, người Jrai con cọp).
Bác nói:
-- Không ngờ, người thượng đơn sơ vậy mà có những nhận xét chí lí! Nhưng hơi phản động đó, thầy cẩn thận!
Về tới Phòng Giáo Dục thì mọi người đã ăn trưa, tôi đưa mấy món nhậu cho chị Chức để hấp lên cho bữa ăn tối, rồi báo anh Nhật mời huyện qua, chứ chờ tới cuối tuần đồ ăn thiu mất, trừ ít khô cá thiều và mực khô thì lúc nào cũng được. Mấy thứ sơ sơ đó mà cuỗm trọn tháng lương của tôi rồi, nhưng việc cần phải tiêu xài, thì cứ việc xài thôi, dù gì cũng là dầu mỡ bôi cho trơn để công việc của mình có đà xuôi, trôi chảy thôi.
Không biết anh Nhật nói sao, mà bên huyện nói tối hôm đó 6 người có cả huyện uỷ, đảng ủy sẽ sang chơi. Coi bộ món nhậu tôi đưa lên không đủ, anh Nhật đưa tôi một số tiền, nói với tôi:
-- Quang chút nữa chạy vào làng kiếm vài con gà làm tiệc đãi bên huyện!
Làm sao mua được gà lúc trưa, gà đã ra khỏi chuồng đi kiếm ăn, đồng bào thượng cũng đã đi làm. Chiều tối thì dễ chứ giờ này kiếm đâu ra được gà. Tôi nói với anh Nhật:
-- Kiếm gà bây giờ không ra đâu, thôi để em bắt 2 con gà mái tơ đang đẻ trứng cho chị Chức luộc, mai mốt em mua 2 con khác bù!
-- Cũng được, cậu giữ tiền đi, tài vụ đã cho để chi tiêu đãi huyện ủỵ
-- Cám ơn ah Nhật!
-- Có hề gì, bọn mình cám ơn cậu mới đúng, lâu lắm mới được ăn món thịt chó! Bởi vậy khi nghe mời, huyện ủy đòi sang hết, thay vì chỉ một hay hai người!
Tôi cười:
-- Coi như mình có quan hệ tốt với huyện, càng dễ dàng công việc mình mà!
Tôi ra chuồng gà coi có con gà mái nào đang đẻ trứng không, chẳng có con gà nào nằm trên ổ cả. Bắt gà ban ngày thì khó đây! Tôi lên phòng lấy nắm hạt bắp ra sân sau gọi gà:
-- Bầm, bầm, bầm, bầm, bầm...
Bầy gà đi ăn quanh quẩn đó chạy về, tôi rắc vài hạt bắp nhử mồi, rồi ngồi xuống giữ một ít trên lòng bàn tay, một tay kia thì sẵn sàng trong tư thế chụp cẳng gà. Mấy chú gà nhỏ lanh chanh chạy tới, tôi để chúng ăn ít hột rồi đẩy ra, chờ mấy mụ gà lớn hơn sáp lại gần.
-- Bầm, bầm, bầm, bầm....
Một con gà mái lại gần mổ hạt bắp trên bàn tay trái của tôi, tay phải tôi trờ tới chụp ngay chân mụ gà mái tơ làm bầy gà chạy tản mác. Tôi đưa con gà bỏ vào lồng trong nhà bếp, rồi lại theo kế cũ kiếm thêm một con nữạ Giống gà cũng lạ, vừa thấy tôi bắt mất một con, cũng không nghi ngờ gì cả lại quay lại kiếm ăn khi tôi rải bắp và gọi bầm bầm dụ dỗ gà về.
-- Bầm, bầm, bầm, bầm...
Bắt được hai con gà lớn rồi, tôi cùng phụ với chị Chức nấu nước sôi, vặt lông gà, và luộc gà lên cắt ra từng miếng vừa ăn. Chị Chức giã gừng làm nước mắm ớt, pha muối với chanh xôm tụ lắm.
Tối đó tiệc tùng vui vẻ lắm, huyện uỷ, đảng ủy cứ khen Phòng Giáo Dục chúng tôi nhiều sáng kiến, có nhiều khả năng, tạo dựng quan hệ tốt với dân, với huyện... Anh Nhật giới thiệu mọi người, nhất là thầy Tình với huyện, rồi nhấn mạnh vai trò của tôi trong khoá nàỵ Anh cũng không quên thêm vào:
-- Cậu Quang còn có một tài ít ai biết đến là rất năng nổ trong việc xã giao với đồng bào Jrai, kiếm thức ăn, rượu thịt lúc nào cũng được!
Cái anh Nhật này rượu vào thì miệng nói quá thì thôi! Tôi muốn lên tiếng phản đối, nhưng thấy mọi người nhao nhao lên:
-- Vậy mãn khoá này, phải khao các giáo sinh, phòng giáo dục và huyện một phen nữa!
-- Đúng vậy chứ, phải đãi mọi người trước khi cho họ về chu"'!
-- Không đãi tiệc không mãn khoá!
Chờ những đề nghị ồn ào lắng xuống rồi tôi mới lên tiếng:
-- Đãi tiệc mãn khoá vào chủ nhật cũng được thôi, nhưng không có rượu đế đâu, trừ khi các anh có ai về thị xã muạ Ở đây, em có thể tìm rượu cần, và thịt rừng, nhưng không biết bên huyện có thể kiếm cho em ít đạn cho súng CKC không? Em sẽ nhờ đồng bào đi săn, thế nào cũng được một con naị Em lo chuyện đó, nhưng chị Chức phải phụ trách việc nấu đó!
-- Cậu Quang bày vẽ cho chị mệt hả Nấu sơ sài thì được chứ nấu cho dân nhậu thì chị không đủ tay nghề đâu!
Bên huyện ủy xung phong:
-- Cứ đem nai về, huyện cử một anh nuôi qua phụ nấụ Anh ta cũng giỏi một cây!
Quả thật ông bà xưa nay nói chí lý, có thực mới vực được đạọ Bữa tiệc đơn sơ đã làm huyện uỷ, đảng ủy, và phòng giáo dục chúng tôi cởi mở thân thiện, không còn mang tính cách chính trị. Đã ngồi cùng ăn một mâm, thì không cùng ngồi một chiếu, cũng không còn là người xa lạ mà! Tôi nhớ tới bác Thông, bác tài xế! À bác Thông sẽ là vũ khí bí mật của tôi! Tôi sẽ nhờ bác trổ tài cho thiên hạ lác mắt. Phải cho mọi người ăn một bữa hả hê, say túy húy, ngất ngư con tàu mà!
::: Chương LVIII :::
Tình Ca Giáo Viên Miền Núi
Không biết bên huyện ủy nghĩ thế nào mà đưa sang cho tôi cả một trăm viên đạn, thế là tôi gặp mỏ vàng rồi. Hôm chủ nhật được nghỉ, tôi rủ thầy Tình đi tới các làng, tìm gặp du kích giao cho mỗi làng 30 viên đạn CKC, nói họ từ thứ tư tới đi săn tìm cho tôi được một con nai để đãi các giáo sinh và huyện ủy ngày chủ nhật tới mới được. Họ vui vẻ nhận lời với đề nghị họ giữ một nửa, tôi một nửa nếu săn được được hơn một con. Thế nào du kích trong ba làng khác nhau, cũng có ít nhất một làng săn được nai mà! Tôi nhủ bụng. Tôi bận chứ không tôi cũng đi săn với họ cho vui. Không chừng tối thứ bảy tôi cũng đi săn một chuyến nếu chưa làng nào săn được gì!
May mắn thay, ngay sáng thứ năm đã có người trong làng Nang báo tôi biết là họđêm rồi bắn được hai con nai, họ hỏi tôi muốn làm gì. Còn sớm quá, tôi bèn đề nghị buổi trưa đưa ra bến xe cho tôi. Buổi trưa tôi chuồn ra bến xe nói với bác Thông:
-- Bác lấy một nửa làm gì thì làm, còn một nửa bác hoặc bác nhờ ông bà chủ tiệm Cờ Tây nấu cho cháu ít đồ nhậu và cho cháu ít lít rượu đế rồi bác đưa lên trưa thứ bảy.
-- Bác xin cháu một đùi thôi, còn lại đưa cho ông bà chủ Cờ Tây, để ông bà ấy làm đồ ăn cho cháu. Chắc ông bà ấy cũng lấy công một nưả.
-- Dạ cháu biết, cứ như vậy đi! Tại ngày thường, cháu không dám phiền bác chứ không chừng chủ nhật bác phải ở lại chỉ cháu cách làm thịt nai đó!
Cháu còn nhờ hai làng khác đi săn nữa, không chừng ngày mai, ngày mốt lại có vài con nai khác! Đây là mùa nai mà!
Tôi định làm tiệc mãn khoá tối thứ bảy hoặc trưa chủ nhật chứ chờ tối chủ nhật uổng phí mất một ngày vì các giáo sinh ai cũng háo hức muốn về ngay, nhưng không nói gì với anh Nhật cả. Khi có đồ nhậu rồi, thông báo cũng được`! Đi kiếm vài ghè rượu, một ít món ăn, vui chơi ăn uống với nhau cũng đủ gọi là tiệc liên hoan mãn khoá, đâu cần phải gì nhiều hay trịnh trọng làm chi!
Ai ngờ sáng thứ sáu làng làng Kơ Mông, là A Nang, và cả làng Nang hôm trước đã cho tôi một con nai rồi lại cử người tới báo cho tôi biết là mỗi làng đều có một con nai cho tôi. Trúng mánh hết cỡ! Tôi chẳng chần chờ gì nữa, nói làng Nang đưa nai tới Phòng Giáo Dục, còn hai làng kia đưa nai ra bến xe cho tôi để bác tài đưa về thị xã. Anh Nhật đề nghị:
-- Hay quá, hay là mình đãi tiệc ngay chiều tối thứ bảy đi thay vì chủ nhật để họ tranh thủ về làng.
-- Thế còn gì bằng! Anh gọi huyện cho anh nuôi sang xẻ nai đem về bên đó một nửa nấu sẵn cho ngày mai, còn một nửa anh em mình phụ với chị Chức làm, chứ không sợ thịt hư.
Tôi vừa nói vừa cười vì trúng ý tôi quá! Tôi ra bến xe gặp bác Thông nhờ bác đưa nai về quán Cờ Tây bán cho họ một con, còn một con tôi nói bác Thông lấy một nửa, còn một nửa đưa tới nhà cho bố mẹ tôi đãi bà con hàng xóm. Tôi đưa cho bác điạ chỉ.
Bác cười hể hả:
-- Được mùa rồi ha! Hôm qua một, hôm nay hai, thế là nhất rồi còn gì? Ông chủ Cờ Tây nhắn là cháu có bao nhiêu con nai, cứ đưa về ổng tiêu thụ hết!
Tôi cười, ai mà chẳng biết là ông chủ Cờ Tây chẳng không hổ danh với tài nấu nai đồng quê là gì, ổng mà được nai rừng thì đãi dân nhậu là số dzách, Tôi nói:
-- Thưa không, hôm nay ba đó bác ạ! Một con nữa đã mang về phòng giáo dục, hay ngày mai bác ở lại giúp cháu một tay, đãi tiệc tối mai thay vì trưa chủ nhật được không?
Bác như hoà với sự háo hức của tôi, nói:
-- Được, được! Mai bác nhờ chú em bác lái xe với anh lơ, còn bác ở lại giúp cháu! Ở rừng vui ghê nhỉ!
-- Dạ vui!
-- À cháu muốn bán bao nhiêu|?
-- Tuỳ ông bà chủ, họ cũng quen cháu mà! Bác nhắn họ cho cháu ít món nai hôm qua bác đưa về. Không chừng ngày mai, ngày mốt còn nai nữa!
-- Ừ thì đang mùa nai, biết đâu lại chẳng được như hôm nay! Tha hồ mà ăn mà uống thoả thê nhé!
-- Bác mua luôn hộ cháu máy ve rượu đế ở quán Cầy Tơ luôn. Trừ vào khoản tiền nai nha bác!
-- Này, tối mai nếu khoẻ, bác cháu mình đi săn được không? Thấy mấy con nai trông mà ham!
-- Nếu bác muốn thì cháu dẫn bác vào làng đi săn chung với du kích, nhưng bác phải đi giầy, quần áo dầy một chút, không có bị gai đó!
Bác Thông vỗ vai tôi:
-- Không sao, hồi trẻ bác cũng đi săn mà!
-- Bác có súng không?
Như sực tỉnh, bác bối rối:
-- Không, bác quên là đã vất cả súng đạn ngay từ tháng Tư năm xưa rồi!
Tôi an ủi bác:
-- Không sao, cháu sẽ mượn cho bác một khẩu CKC, nhưng không biết bác có phải là thiện xạ không thôi! Cháu chỉ còn 10 viên đạn định để dành cho làng nào bắn được nai, chưa chia cho dân làng. Ai ngờ làng nào cũng bắn được rồi! Ngày mai bác lên lo nấu nướng, không có giờ bắn thực tập mới khổ. Còn buổi tối bắn là bắn thật chứ không thử được.
-- Súng nào cũng là súng! Một con nai to, bắn không trúng đầu, thì cũng trúng người nó mà!
Bác Thông vừa nói vừa cườị Tiếng cười có tính truyền nhiễm, lây sang cả tôi. Thì ra là vậy, bác Thông cười re, mắt sáng lên. Đi săn là một cái thú kỳ diệu. Tôi tưởng chỉ có tôi là người trẻ tuổi ở rừng quen, lại hay lăng xăng đi với dân làng hay du kích săn thú rừng mới có cảm giác háo hức khi đi săn thú rừng thôi chứ, ai ngờ bác Thông, hằng ngày lái xe đò, cũng có một thú vui đi săn đó!
Sáng thứ bảy, tôi lại được làng Kờ Mông đưa tới một con nữa để lại Phòng Giáo Dục. Bác Thông có đất dụng võ hôm nay rồi! Tôi thầm nghĩ! Một trăm viên đạn, năm con nai, thế là lời to rồi! Tôi lại nói anh Nhật gọi anh nuôi bên huyện sang lấy một nửa. Huyện gọi sang nói cho huyện nói chuyện với tôi ngay. Tôi cầm máy:
-- Dạ cháu Quang đây, chú cần chuyện gì thế?
-- Cậu làm sao mà mỗi đêm mỗi con nai vậy? Cậu có bùa ngải gì không?
-- Đâu phải cháu đâu, cháu giao đạn cho du kích đi săn đó mà. Được thì chia đôi, cháu chia cho ba làng đó!
-- Cậu này đáo để thật! Hay đó! Công tác tốt! Hôm nào cậu phải dẫn chú với các anh em trong huyện đi một chuyến. Thôi, để chiều nay gặp lại cậu!
-- Dạ chào chú!
Buổi trưa tôi ra bến xe đón bác Thông và bưng những món nai rừng đã nấu sẵn, với vài chai rượu và mấy điã dồi chó ông chủ Cầy Tơ đãi đằng về Phòng Giáo Dục giới thiệu sơ qua với anh Nhật chị Chức nói là bác sẽ giúp Phòng nấu một vài món ăn chơi đãi mọi người. Tôi xin phép anh Nhật cho bác ở lại qua đêm cho có lệ, chứ thực ra tôi và bác sẽ đi với du kích làng A Nang đi săn tối nay. Hai làng Kờ Mông, làng Nang đã cho tôi mỗi làng hai con nai rồi, làng A Nang mới có một nên họ ức lắm muốn ganh đua với hai làng kia, chứ không muốn thua sút. Tôi xin cho bác Thông và tôi đi theo. Họ cười:
-- Ông thầy đi chung, chúng tôi hên lắm! Đi với chúng tôi! Đưa ai đi theo cũng được. Chúng tôi vui lắm!
Họ nói ở phía đông bắc, gần khu rẫy họ, có nhiều dấu chân nai, đêm nay họ sẽ tới khu vực đó để rình săn. Chỗ ấy cũng không hiểm trở lắm, tôi đã đi qua một vài lần rồi. Thế là bác Thông may mắn, chứ phải trèo đồi, vượt núi, sợ bác mệt không kham chịu đựng nổi.
Các giáo sinh dân tộc qua hai tuần học hỏi cấp tốc đã mãn khoá. Tuy không có lễ ra trường trịnh trọng, nhưng cũng có một chút nghi lễ mãn khoá/. Mỗi giáo sinh lần lượt được gọi lên lãnh bằng khen thưởng từ huyện ủy và Trưởng Phòng Giáo Dục, từ nay họ được công nhận chính thức là giáo viên dân tộc.
Sau lễ mãn khoá, mọi người tề tựu ăn uống vui vẻ. Thịt nai nướng, tái giấm, xào, lăn thơm phức... Tôi để ý thấy giáo viên dân tộc không thích ăn đồ nấu sẵn mà thích cắt từng miếng thịt tươi, cắm vào cọng tre, cành cây tươi nhỏ nướng rồi xé ăn ngon lành. Không người nào thích rượu đế, họ chỉ uống mấy vò rượu cần.
Các anh chị trong phòng giáo dục cùng cán bộ huyện ngồi ăn chung ở phòng ăn, anh Ít, thầy Tình và tôi đi vòng vòng vào các nhóm giáo viên quây quần quanh những đống lửa nhỏ ướng thịt nói chuyện. Bác Thông vẫn còn luôn tay nấu các món nhậu dưới bếp với chị Chức. Tôi vào nói:
-- Hôm nay có bác vào phụ chị Chức, làm một bữa thật ngon! Các anh chị ở đây cũng như bên huyện uỷ khen rối rít trên kia. Mà thôi, bác với chị Chức cũng nghỉ tay đi là vừa, bao nhiêu món ăn trên bàn kia, ăn sao hết!
-- Cũng chỉ còn tí nữa thôi! Cháu cứ ra ngoài ăn uống với mọi người đi!
-- Ăn chút đỉnh thôi, chứ cháu không uống rượu, chút nữa bác cháu mình còn đi săn mà!
Chị Chức hỏi:
-- Đồ ăn chán vạn như thế này chưa đủ sao mà còn cực nhọc đi săn làm gì? Ăn mãi không nhàm à!
Tôi nói lại:
-- Đi săn là để vui thôi, chứ chuyện ăn uống chỉ là chuyện nhỏ, chị ạ! Không tin chị hỏi bác Thông đi!
Tôi dặn bác Thông ăn uống qua loa thôi, chứ đừng uống say, bỏ lỡ dịp đi săn tối nay. Bác nói:
-- Đừng lo, bác bận nấu mấy món nhậu, lấy đâu mà say sưa. Rượu uống thì thiếu gì ở thị xã, mà đi săn chỉ mấy khi được dịp như thế này!
Tôi nháy mắt tỏ ý bác Thông biết vậy là hay, tôi an lòng đi lại từng nhóm giáo viên dân tộc nói chuyện hoà đồng với họ. Nhiệm vụ xoá nạn mù chữ và bảo tồn văn hoá dân tộc có thành công lâu dài không là tuỳ thuộc ở những giáo viên này. Người Việt không thể thay thế hẳn họ được trong vấn đề duy trì văn hoá dân tộc, vì tâm lý cũng như tập quán. Nếu không khéo sẽ tạo ra một mặc cảm Kinh Thượng đưa đến những hiểu lầm trầm trọng sau này. Mỗi sắc dân, mỗi cá thể đều có nền văn hoá, trình độ khác nhau, khó mà so sánh. Người Thượng bên ngoài có thể trông sơ khai, chất phác, đơn sơ, nhưng trình độ hiểu biết, mức độ khôn ngoan, không hẳn kém sút người Kinh ở miền xuôi. Đã có ít nhiều vị tỉnh trưởng, quận trưởng, cấp tướng, cấp tá, cấp uý người Thượng chỉ huy đầy khả năng trong thời chiến.
Chưa mãn tiệc nhiều người đã ngà ngà say, nói chuyện oang oang lên, có người ngả người nằm lăn ra đất, có người khóc, có người cườị múa máy tay chân . Tôi tìm bác Thông rồi đưa bác lên làng A Nang cho kịp theo du kích đi săn. Tôi mượn được một khẩu CKC, khi gặp thú rừng thì giao cho bác Thông cũng được, nên tôi bảo bác yên lặg theo sát tôi để cần gì tôi có thể trao súng ngay cho bác. Trông bác vui lắm, chỉ chỏ lung tung, nhưng không nói tiếng nào. Tôi lầm lũi đi với du kích, thỉnh thoảng quay sang nhìn bác Thông mỉm cười. Đêm nay tôi thấy cũng vui vui, lây với cái vui của bác Thông, phần nào quên đi những nỗi buồn, những lo lắng riêng tư của tôi.
Nguyên Đỗ
(Còn tiếp)