Nguyễn Thái Hồng
[Tiểu Sử | Thi Hữu | Nhắn Tin]


Làm Lành Đi, Má!

Má tôi đứng sát người vào thành quầy trong nhà bếp để rửa cái tô và đôi đũa của người cha ghẻ của tôi vừa ăn xong. Chú Tùng chòang áo lạnh vào chuẩn bị đi ra tiệm. Và cũng như mọi ngày trước khi đi làm, Chú Tùng đứng yên lặng sau lưng Má tôi chờ đợi.

Còn tôi, tôi cũng làm một việc mà mọi ngày tôi làm. Tôi cố khuyên Má tôi.

Nhìn Chú Tùng đi, Má!

Lần này Má tôi quay người lại. Má tôi nhìn thẳng vào đôi mắt của Chú Tùng, một cái nhìn không chứa đựng một sự yêu thương, nhưng nó còn đến đổi quá óan hận.

- Thúy...

Má tôi lạnh lùng đưa tay cắt ngang Chú Tùng.

Má ơi! Làm lành với Chú Tùng đi mà, Má. Con sẽ không yên nếu Má không làm lành.

Chú Tùng lẳng lặng mở cửa bước ra ngòai và đóng nhẹ cánh cửa lại. Má tôi trở về phòng ngủ, nơi mà Bà hằng đêm nằm một mình trằn trọc không ngủ. Bà nhìn cái vali nâu vẫn còn dựng đứng ở gần cái tủ để quần áo như muốn bỏ đồ vô lại để ra đi. Bà bước đến gần cái cửa sổ nhìn xuống sân, không để ý đến những bụi cây dương xanh mà bà chưa bao giờ thấy trong đời trong khu vườn của cư xá, và những tia nước nhỏ đang bắn vào sân từ những cái ống tuới nước. Tôi cảm nhận cái tâm trạng của Má tôi bấy giờ. Muốn bỏ đi nhưng không biết phải đi đâu. Bỏ Chú Tùng đi bà sẽ bị lạc loài, bơ vơ và khổ cực ở xứ Mỹ.

Má ơi! Khi con mới đến Denver con cũng lo sợ lắm, Má à. Con sợ phải học cái ngôn ngữ mới. Con sợ cả người Mỹ. Nhưng rồi từ từ cũng quen.

Má ơi! Đừng có lo lắng gì hết!

Tiếng khóc của Bé Anh trong cái phòng đáng lẽ là của tôi làm Má tôi phải bước qua phòng để săn sóc nó. Má tôi cố gượng cười và đùa giỡn với người em cùng mẹ khác cha của tôi để cho nó nín, nhưng cuối cùng Má tôi lại cùng khóc với nó.

Má tôi bồng Bé Anh ra phòng khách, bước tới bước lui như con cọp bị nhốt trong chuồng. Bà nhìn cái bàn ăn làm bằng ván ép formica xám và mấy cái ghế có nệm bao vải nylon đỏ để quanh bàn. Bà quay sang nhìn cái ghế sofa cũ kỷ rẻ tiền, bao bằng vải sọc vuông màu đỏ và nâu. Trên chổ dùng để dựa tay còn để vài tấm khăn trải gường mà hồi sáng Chú Tùng ngủ xong xếp lại. Mọi thứ đối với Má tôi xa lạ quá! Bà đứng giữa phòng khách, ghì Bé Anh sát vào người hơn, dùi đầu bà vào thân mình bé nhỏ của con bé như để chạy trốn.

Má tôi đưa mắt nhìn tượng Phật để trên cái kệ với cái lư hương và tấm hình treo ở trên tường gần đó, tấm hình cuối cùng của Ba Má tôi và tôi chụp chung. Trong tấm hình đó Ba tôi mặc bộ đồ lính, tóc ngắn không có dài và quắn như tóc của Chú Tùng. Tôi mặc cái quần có hai ống hơi dài. Má tôi mặc áo dài màu đỏ rất đẹp có thêu con rồng vàng.

Lúc ấy tôi còn nhớ rõ ràng. Tôi đã lên bốn tuổi. Ba tôi mới về nhà nhưng tôi vừa sợ Ba tôi và tôi vừa giận vì tôi phải ngủ một mình. Do đó trong tấm hình tôi nhìn không vui, nhưng Má tôi lại trông rất đẹp với mái tóc dài trải xuống bờ vai trái, như một dòng suối nước xanh biếc. Chưa đến một tháng sau khi Ba tôi trở lại đơn vị, một chiếc xe Honda chạy rà rà trước tiệm bán vải của Má tôi. Chúng tôi thường gọi những chiếc xe này là sứ giả của tử thần. Chiếc xe dừng lại bên lề và người chạy xe vào đưa cho Má tôi một điện tín màu vàng. Má tôi đọc xong, bà hét lên một tiếng lớn.

oOo

Má ơi! Con sẽ sống lại bây giờ dù nếu con có thể quên được tiếng hét đau đớn của Má.

Nghĩ đến những lúc vui đi Má! Má còn nhớ khi Má gặp Chú Tùng bốn năm sau không? Má còn nhớ con đã ghen với Chú Tùng nhưng Chú Tùng vẫn tốt, vẫn rộng lượng thương con? Má còn nhớ đến cái lúc Má lấy làm vui sướng vì con đã thương lại Chú Tùng?

Má ơi! Má có biết có một lần con xin phép Chú Tùng cho con gọi chú bằng Ba? Lúc nào con coi chú như một người cha của con. Chú Tùng bảo là mình phải kính nể vong hồn của Ba ruột con, gọi ông bằng chú cũng không sao miễn là con với chú thương nhau là đủ rồi. Má cũng biết là Chú Tùng thương con lắm mà và Chú Tùng không bao giờ quên lời dặn cuối cùng của Má trước khi con và Chú Tùng ra đi Má về chuyện không cho con đi xuống nước.

Má ơi! Má đâu biết là con đã nghe lén. Con đang trốn chơi dưới cầu thang khi Chú Tùng báo cho Má biết là chú có người bạn là chú Hải vừa làm xong chiếc tàu để đi vượt biên và chỉ còn chổ cho hai người thôi. Má không thể bỏ Bé Anh lại để đi với Chú Tùng nên Má và Chú Tùng quyết định để con đi theo chú. Con còn nghe Má lưu ý Chú Tùng là đừng bao giờ cho con đi tắm ao hồ.

Tại sao vậy Má?

Má ơi! Con đợi khi Má qua sẽ hỏi Má. Má có điềm gì báo trước chăng? Có phải con đã một lần súyt bị chết đuối dưới nước phải không mà sao đến bây giờ con vẫn không nhớ gì hết, trong khi những chuyện khác con lại nhớ rõ? Nếu con biết trước thì con đã cố gắng để khỏi bị mất bình tỉnh.

Má ơi! Khi đi vượt biên con cũng súyt bị chết trên biển, nhưng Má đừng bắt Chú Tùng phải kể chuyện này lại cho Má nghe nhé. Lúc con và Chú Tùng đến Cà Mau, nhiều người cũng biết tin chú Hải đã đóng tàu xong. Sau khi mọi người chen lấn, xô đẩy nhau lên tàu thì tổng cọng số người lên đến bảy mươi ba, kể cả hai mươi tám trẻ em. Trong khi đó Chú Hải dự tính có ba chục người thôi.

Khi ra đến cửa biển, con tàu bị sóng lớn đánh đến khi mọi người bị say sóng nằm la liệt. Khu vực hải phận này lại đang bị tàu Việt Cọng kiểm sóat chặt chẽ, nhưng cũng may là tàu con thóat được vì họ đang bận khám xét mấy chiếc tàu khác. Hay cũng có thể họ không nhìn thấy con tàu con vì nó quá nhỏ lại bị sóng lớn che khuất.

Những khi con không bị say sóng thì con lại bị đói. Trên tàu không ai đem theo đồ ăn, chỉ có một số người đem nước uống, nhưng qua ngày hôm sau thì cũng hết.

Ngày thứ ba thì sóng đánh lớn quá làm cho nước biển tràn vào tàu. Mọi người trong tàu lật đật dùng gáo múc nước, vỏ chai, hai tay để tát nước ra, nhưng ai cũng nghĩ là thế nào tàu cũng sẽ chìm. Con nghe Chú Tùng thì thầm tâm sự với một người trên tàu là chú mừng đã không đưa Má đi theo, lúc đó con biết là Chú Tùng nghĩ là chỉ có con đường chết.

Con sợ lắm, Má ơi!

Một lát chúng con thấy một chiếc thuyền buôn lớn đang đi về hướng tàu của chúng con. Mọi người trên tàu đứng lên la lớn, cởi áo làm cờ ra dấu hiệu cho tàu đến cấp cứu. Chiếc thuyền buôn có lá cờ Đức dừng lại, nó trông đồ sộ so với chiếc tàu bé bỏng của con. Hai người trên tàu nói tiếng Pháp với các thủy thủ trên thuyền Đức.

Vị thuyền trưởng Đức ra lệnh cho thủy thủ mang đồ ăn và thức uống thả xuống tàu con, nhưng không có vớt người nào vì họ không muốn chậm trể chuyến hàng của họ.

Chú Tùng đang bàn cãi với mấy người đàn ông trên tàu để tìm cách đối phó với tình thế hiện tại.

Một người đàn ông trong nhóm la lớn: "Tôi không thể để cho con tôi chết dưới biển được."

Nói xong ông ta móc súng, trước khi mọi người ngăn cản, bắn một lọat xuống sàn tàu, giữa hai bàn chân của ông. Bắn xong ông la lớn: "Bây giờ là tàu sắp chìm rồi. Theo luật hàng hải quốc tế, nó phải cứu vớt mình!" Rồi ông ta nói lớn bằng tiếng Anh, rồi tiếng Pháp.

Con đang sợ và bây giờ con lại càng sợ hơn khi thấy nước dưới sàn tàu bắn mạnh lên qua mấy lỗ lũng.

Má ơi, tại sao con sợ nước quá vậy, Má?

Chú Tùng nắm lấy tay con và đẩy con vào đám con nít được vớt lên trên thuyền buôn trước. Hầu hết mấy đứa nhỏ lên hết trên thuyền Đức trước khi con tàu bị chìm hẳn xuống nuớc, nhưng mấy người lớn phải bơi trên biển một hồi rồi mới được vớt. Con lo cho Chú Tùng quá. Một thủy thủ người Đức phải giữ con lại vì con cứ chạy đến thành thuyền để xem Chú Tùng có được cứu lên chưa, làm cản trở việc cứu vớt của họ. Khi Chú Tùng lên được trên thuyền, con mừng quá chạy đến đưa tay ôm chầm lấy chú khóc.

Má ơi! Chú Tùng săn sóc con chu đáo lắm. Con ước gì Má nghe được những lời con nói để Má hiểu.

Trong trại tị nạn, Chú Tùng lúc nào cũng dành phần nhiều cho con khi đồ ăn hay nước uống không có đầy đủ. Chú còn làm bộ ăn những món đồ hộp họ cấp một cách ngon lành để con thấy vậy mà ăn.

Sau khi đến Mỹ, năm đầu tiên Chú Tùng và con ở nhà của người em họ của Chú Hải tên là Minh. Nhà có đông người ở, từ mười người đến mười hai người, nên chúng con lúc nào cũng phải ngủ trên sàn nhà. Con làm quen với Anh Văn con của Chú Minh. Anh Văn qua Mỹ hơn một năm và giúp đở con nhiều lắm. Anh Văn mới mười bãy tuổi mà đã biết rành đường xá ở đây.

Má còn nhớ Anh Văn không? Anh Văn có vào phòng thăm Má và xin lỗi Má trong đêm đầu tiên Má về nhà đó.

Chú Tùng tìm được việc làm dọn dẹp và hút bụi văn phòng. Ban ngày con đi học thì Chú Tùng ở nhà ngủ, chú thường tâm sự với con nếu có Má và Bé Anh ở đây nữa thì cả nhà vui lắm. Làm được bao nhiêu tiền thì chú để dành và tám tháng sau Chú Tùng mướn được một chổ ở khu Việt Nam, trên đường Federal, để mở một tiệm bán heo và vịt quay. Tiệm làm cũng khá nên Chú Tùng mới ra riêng mướn nhà chung cư ở đây. Chú Tùng và con dự định sẽ dọn ra nhà vào bữa thứ Ba trước ngày Má đến để Má có chổ ở thỏai mái.

Má ơi! Thứ Hai hôm đó giữa tháng tám, thời tiết lại nóng nực như cái lò lửa. Anh Văn rủ con đi tắm hồ với anh ấy. Con nói Má không cho phép con đi, nhưng Anh Văn nói chắc tại con không biết bơi nên Má không cho đi chớ gì. Con cũng không biết lý do nào khác nữa.

Tại sao vậy, Má?

Anh Văn bảo là anh ta sẽ dạy con bơi và chừng nào Má qua thì Má sẽ không còn lo sợ cho con nữa. Anh Văn nói là sẽ coi chừng con. Và, trời lại nóng lắm, Má. Anh Văn nói nước mát sẽ làm mình dễ chịu. Con nghe lời đi theo. Con biết là Má không muốn con đi, nhưng con đã cải lời Má.

Hồ tắm hôm đó đông người. Con và Anh Văn đi xuống mấy bậc thang ở chổ cạn, và con lấy làm thích thú vì nước hồ quá mát. Chúng con tìm một chổ ít có con nít bơi và Anh Văn đở bụng con trên nước để con đạp hai chân cho người con nổi. Con dùng hai tay quạt nước mạnh, nhưng lúc nào con cũng thấy có hai tay của anh Văn đở vào bụng con. Nhưng một hồi Anh Văn rút hai tay lại. Đầu con chìm xuống nước, nước chảy vào mũi con. Con bị ngộp và sợ quá nên con vẫy đạp hai chân và mở miệng la lớn, nhưng nước lại vào miệng con. Anh Văn kéo người con lên. Nước trong hai lổ mũi chảy ra, nhưng con vẫn còn thấy nó rát và làm cho con ho sùi sụt.

Anh Văn bảo: "Mới học bơi vậy là giỏi đó, Mỹ. Thôi em ở đây chơi đi để anh đi bơi một vòng đã. Khi anh trở lại mình sẽ tập tiếp."

Má ơi! Con muốn đi lên liền lúc đó. Con không muốn học bơi nữa, con sợ ở dưới nước một mình không có Anh Văn trông con, nhưng con không muốn cho anh ta biết.

Con đứng dưới hồ nắm tay trên thành xi-măng chờ. Cái thành hồ cũng đã bị ướt và những viên đá nhỏ gắn trên đó đã mòn và láng bóng.

Một đám con nít Mễ đi theo hai người đàn bà đến. Ba đứa nhỏ đến ngồi trong bóng mát trên thành hồ ngay phía tay phải của con. Tụi nó đá chân vào mặt hồ làm nước bắn lên vào mặt con. Con dời người về hướng trái để tránh nước thì hai đứa khác trong nhóm đến ngồi xuống chổ con vừa đi. Tụi nó hợp lại dùng chân chơi tạt nước làm nước hồ bắn tung lên ngộp cả người con. Chịu hết nỗi nên con phải dời thêm một chút nữa. Nước hồ sâu quá làm con bị trợt, người con chơi vơi dưới nước vì hai chân con đã bị hụt.

Đầu con ngập dưới nước. Nước chảy vào miệng và hai tai. Con đạp mạnh hai chân để kháng cự và ráng cố sức kêu anh Văn. Con có cảm giác là nước đang xông vào phá nát phổi của con. Con biết nếu anh Văn đến không kịp chắc con sẽ chết. Một lát sau con nổi lên mặt nước lại, nổi lên cao hơn cả mặt hồ, cái rát khó chịu trong mũi đã hết, và hai đường dẫn hơi thở cũng ngừng họat động. Con thấy người con dịu đi, và lúc đó con mới biết dù con có vùng vẩy ở dưới nước cở nào cũng không ai thấy con được vì mấy đứa nhỏ Mễ vẫn còn chơi tạt nước.

Má ơi! Con không ngờ con có thể chết quá nhanh chóng như vậy. Nhưng trong lúc đó con vẫn còn nghĩ nếu anh Văn đến kịp lúc người ta có thể còn cứu con được. Anh Văn lại tìm kiếm con ở chổ con đứng hồi nãy, nhưng mấy người trong hồ, Mễ và Việt Nam, tóc ai cũng đen hết nên khó phân biệt.

Anh Văn bắt đầu bơi nhanh về hướng con, rồi đưa mắt nhìn lên chổ để khăn lông. Anh ta nhảy lên khỏi hồ, chạy vào phòng thay đồ rồi chạy ra trở lại. Anh tìm thấy con, anh ta nhảy xuống hồ và kéo người con lên. Anh ta la lớn gọi cấp cứu. Thình lình nguyên cả khu vực hồ tắm im lặng. Mấy đứa nhỏ Mễ nhảy lên khỏi hồ và chạy lại ôm mẹ nó.

Mấy người cấp cứu trong hồ lật ngửa người con lại, đẩy tay mạnh vào bụng cho nước chảy ra miệng và rồi họ làm hô hấp nhân tạo. Mỗi lần bàn tay họ đưa mạnh vào người con, con cảm thấy hồn mình được kéo vào xác lại, nhưng nó không đủ để giữ con ở lại, và hồn con cứ bay lên cao dần. Những người cấp cứu dùng miệng giúp con thở, họ xốc ngược người con lên, để đầu chúc xuống cho nước trong người con chảy ra hết nhưng vẫn không có hịêu quả. Con không nhập vào xác lại được.

Má ơi! Con đã cố gắng lắm!

Con không muốn chết. Nhưng trong phổi con vẫn còn quá nhiều nước, họ chưa cho ra hết được.

Anh Văn năn nỉ mấy người làm việc cấp cứu trong hồ cố gắng cứu lấy sinh mạng con. Anh ta vừa khóc vừa nắm hai tay đập vào nhau. Khi xe cấp cứu của bệnh viện đến, người ta bỏ xác con vào cái bọc nylon đen và đóng dây kéo lại. Anh Văn la lớn: "Lỗi tại tôi, tôi đã bỏ nó một mình..." Người ta kêu anh Văn mặc đồ vào và đi theo xe đến bệnh viện. Cảnh sát đến phỏng vấn anh ta để làm hồ sơ biên bản. Anh ta sợ quá muốn bỏ trốn đi. Anh không dám báo tin với Chú Tùng là đã đưa con đi tắm để con bị chết chìm.

Cảnh sát gọi điện thọai báo Chú Tùng. Chú Tùng lật đật đóng cửa tiệm và chạy đến nhà xác. Chú không muốn tin vào chuyện đã xãy ra và đòi xem xác. Chú hét lên một tiếng đau đớn vì tất cả hy vọng đã sụp đổ trước mắt chú cùng một lúc. Chú Tùng quỵ người xuống la lớn: "Trời ơi! Không, không thể nào..." Chú rên rỉ: "Con Mỹ ơi!... " Rồi chú kêu tên Má: "Thúy, em ơi! Anh làm sao bây giờ..."

Chú Tùng kêu tên Má cả ngàn lần. Chú trách chú và biết rằng Má sẽ trách chú. Nhưng Má ơi! Không phải lỗi tại Chú Tùng đâu, cũng không phải lỗi tại anh Văn, và cũng không phải lỗi tại Má. Mà lỗi là do con gây ra và con xin lỗi Má. Con chỉ muốn đi tắm cho mát thôi và con muốn học bơi để cho Má khỏi phải lo cho con.

Qua ngày hôm sau Chú Minh giúp Chú Tùng tìm được một nhà quàng từ thiện, nhưng họ chỉ còn một ngày trống duy nhất là thứ Tư, ngày Má qua.

Thứ Ba là ngày Chú Tùng dọn đến nhà mới với một số đồ đạc trong nhà mà chú vừa mua ở mấy tiệm đồ cũ để tạo cho Má một mái nhà ấm cúng. Tuy nhiên đêm đó Chú Tùng không ngủ ở đó được mà một mình đi bộ lang thang ngòai đường. Chú không biết làm sao để đối diện Má, và chú cũng không biết làm sao báo tin cho Má biết vì lúc đó Má đang ở tại phi trường nào đó ở Singapore để chờ chuyến bay sang Mỹ.

Nhiều người đến đưa tiễn con. Má sẽ thấy an ủi và hài lòng. Con không ngờ nhiều người biết con như vậy. Người ta rải nhiều hoa xung quanh cái huyệt. Họ liệm con trong cái quan tài màu trắng đơn giản và họ gắn lên mộ một cái bia nhỏ có khắc tên con.

Má ơi! Con biết là Má sẽ ra nghĩa trang thăm con, nhưng Má đừng có buồn. Chổ đó chỉ là cái xác nằm trong cái hộp thôi chứ không phải con đâu!

Ngày hôm sau tất cả bạn bè của Chú Tùng cùng đi với chú ra phi trường. Họ cố gắng kêu rủ nhiều người đàn bà đi, càng đông càng tốt. Khỏang năm chục người ngồi yên lặng trong phòng đợi chờ đón máy bay của Má và vài bà cũng đã bắt đầu khóc. Chú Tùng ngồi một góc, chống cùi chỏ lên bắp đùi, đan hai tay chặt vào nhau, và ủ rũ nhìn xuống sàn nhà. Máy bay của Má đến và mọi người hồi hộp nhìn đám hành khách bước ra ngòai.

Và rồi Má cũng bước ra, cười vui vẽ và đưa tay Bé Anh lên vẫy chào.

Má ơi! Con cố gắng không nhìn, nhưng con thấy hết tất cả, mặc dù con không muốn thấy.

Má chạy đến ôm Chú Tùng trước. Chú Tùng ôm Má thật chặt như không muốn cho Má thấy gương mặt của chú. Rồi Má buông Chú Tùng ra và đưa mắt nhìn xung quanh tìm kiếm. Nhiều khuôn mặt mới quá. Má đảo mắt khắp nơi mà vẫn chưa tìm thấy con. Má nhìn gương mặt đau khổ của Chú Tùng và Má có linh tính. Trong đôi mắt của Chú Tùng, Má đọc được hết những gì đã xãy ra. Con đã chết. Má hét lớn lên. Tiếng hét của Má lần này nghe đau đớn hơn tiếng hét lúc Má nhận được điện tín báo tin Ba chết.

Chú Tùng cố ôm Má vào lòng, che chở Má trong sự đau khổ, nhưng Má vùng vẫy ra và hét lớn. Nhưng tiếng hét của Má lần này có sự giận dữ và óan trách. Má đẩy người Chú Tùng ra, đưa hai tay đấm liên lục vào ngực chú và hét: "Ông đã giết con tôi, ông đã giết con tôi...!" Mấy người đàn bà kéo Má ra và xúm lại an ủi Má. Mọi người đều khóc.

Con thấy một điều mà người còn sống không thấy được. Khi mấy nguời đàn bà kéo Má ra khỏi người Chú Tùng, con thấy trái tim của chú bị tóet ra và rướm máu. Trong khi mọi người kéo nhau rời khỏi phòng đợi, Chú Tùng còn đứng lặng người một chổ. Một người bạn chòm xuống bồng Bé Anh lên, nó cũng đang khóc. Chú Tùng vẫn còn đứng đó bất động như một xác chết. Chú Hải phải trở lại kéo Chú Tùng đi.

Má đi theo một chiếc xe riêng về chung cư. Má ơi! Má có nhớ gì về đêm đó không? Má có biết đó là chổ ở mới của Má không?

Mấy người đàn bà đưa Má vào phòng ngủ và trấn an cho Má bình tĩnh lại. Họ kể Má nghe và bảo Má là chuyện rủi ro.

Anh Văn gõ cửa và bước vào. Mấy bà bỏ ra ngòai. Anh Văn quỳ xuống trước mặt Má. Má không thèm nhìn anh ta. Sau một hồi cố gắng thật lâu Anh Văn mới thốt ra tiếng: "Cô Thúy ơi!..." Anh ta khóc và nói ngập ngừng: "Con là người đã rủ Mỹ đi tắm hồ...Đừng đổ tội cho Chú Tùng. Chú đâu có biết." Má rút chân lại về hướng gường, xây lưng về phía Anh Văn. Anh Văn vẫn kiên nhẫn ấp úng: "Con sẽ ân hận suốt đời... Cô tha thứ cho con..." Thân hình Má không cử động, anh Văn âm thầm bước ra khỏi phòng ngoài và khép cánh cửa lại.

Sau đó mọi người ra về. Thấy Bé Anh bắt đầu khóc, Chú Tùng bồng nó vào phòng ngủ. Trong tư thế sẵn sàng làm bất cứ một cái gì để chuộc tội với Má. Chú gọi nhỏ:
"Thúy! Em..."

Nhưng Má lạnh lùng chặn lời chú Tùng: " Đi ra ngòai!" Một giọng nói của một người đã chết. Đó là câu cuối cùng Má nói với Chú Tùng.

Chú Tùng đặt Bé Anh trên gường sau lưng Má rồi bước ra ngòai. Má ngỏanh người lại bồng đứa con út lên và khóc nức nở.

Má còn nhớ không, Má? Má có biết Chú Tùng thương Má như thế nào không? Nếu Má đổ tội cho Chú Tùng thì Má có thể tha thứ cho chú được không?

oOo

Chú Tùng đi làm về, bước vào nhà bếp và phòng ngủ tìm Má tôi, nhưng thấy bà đang ở trong phòng của Bé Anh, nơi bà thường đến và ở đó cả ngày. Bà đang đứng gần cửa sổ, nghe tiếng Chú Tùng vào, bà quay người lại. Chú Tùng bước chậm rãi về hướng Má tôi trong tư thế sẵn sàng dừng lại nếu bà có một phản ứng không bằng lòng. Khi đến gần bên Má tôi, Chú Tùng quỳ xuống, đưa hai tay chòang ra ôm lấy người Má tôi. Má tôi cũng quỳ xuống trong vòng tay của chú Tùng. Hai người bật khóc.

Chú Tùng lặp đi lặp lại nhiều lần:

- Thúy ơi! Anh có lỗi với em, anh thật có lỗi với em...

Má tôi rên rỉ:

- Mỹ ơi! Con trai của tôi...

Chú Tùng vuốt nước mắt nói:

- Anh cũng thương nó lắm. Nếu có thể anh sẵn sàng chết thay nó.

Má tôi đứng lên bước lùi lại nhìn ra cây thông xanh ngòai cửa sổ. Hình như bà đang tìm một cái gì khác, ngòai bà và Chú Tùng, để đỗ lỗi:

- Chiến tranh đã làm cho đời sống mình tan nát mặc dù sau khi nó đã tàn. Tôi tưởng khi đến Mỹ rồi, tôi sẽ không còn thấy cái cảnh chết chóc này nữa.

- Thúy ơi! Xin em tha lỗi cho anh. Anh lúc nào cũng thương em.

Má tôi không trả lời. Bà ngước mặt nhìn Chú Tùng và tôi thấy hồn tôi đang đứng giữa hai người.

Má ơi! Làm lành lại với Chú Tùng đi, Má.

Đó là lỗi của con và con cũng sẽ không bao giờ thấy an lòng. Con không thể ra đi cho đến khi con biết Má tìm được lại hạnh phúc. Nhìn Chú Tùng đi Má. Chú Tùng đang cần Má. Má còn có thể sinh một đứa con trai khác để thay thế con mà.

Má ơi! Má phải để hồn con đi cho bình yên. Má ơi! Để con đi!

Trong một khoảng yên lặng Má tôi bỗng đưa hai tay ôm lấy Chú Tùng. Chú Tùng cũng ôm lại Má tôi và cả hai vẫn còn sùi sục khóc.

Hồn tôi đứng giữa hai người từ từ bay lên cao và hình ảnh của Má tôi và Chú Tùng đang ôm nhau cũng từ từ tan mờ dần dưới chân tôi.



Viết để thương tiếc Nguyễn Mỹ (4-02-1967 -- 8-21-1981)


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả