KẺ PHONG SƯƠNG
Chương I
LẬP NGHIỆP TRONG THỜI LOẠN LẠC
VỚI CUỘC ĐỜI KHỐN KHỔ CỦA KẺ PHONG SƯƠNG
Có một vợ chồng quê hương miền trung, sống bằng nghề nông, trên mảnh đất nói đúng nghĩa của nó, là mảnh đất bị bom cày, đạn xới trên từng centimeter vuông. Cuộc sống cơ cực, nghiền ngẫm rễ khoai sắn qua ngày. Mặc dù một người xuất thân từ gia đình phú nông, một người xuất thân từ con nhà giáo. Nhưng trớ trêu, cả hai đều lâm vào cuộc sống lầm than, cơ cực bởi chiến tranh, bởi những con người đương đại mất nhân tính. Họ phải rời bỏ quê hương, đem theo bốn đứa con nhỏ, với vỏn vẹn mấy cục đất bếp nung(1) lên tàu hỏa xuôi về Nam.
Năm 1959, theo làn sống di dân vào định cư lập nghiệp tại dinh điền cao su Cẩm Đường cũ, thuộc vùng miền đông nam bộ Việt Nam. Nay huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Nơi miền đất mới, trên vùng đất đỏ ba-zan màu mỡ, mưa thuận gió hòa hai mùa rõ rệt. Đường lô ngang dọc, vuông vắn bao quanh những rừng cao su non xanh thẳng tắp của người Pháp. Tiếp theo là những ngọn đồi thoai thoải phủ đầy màu sắc xanh, đỏ, tím của giống cây “canh-ky-náp”(2), làm choáng ngợp những người tha hương.
Mùa mưa thường hay lầy lội trên những con đường be(3), chạy vòng vèo quanh những rẻo(4) đất nhấp nhô, lẫn lộn cỏ xanh và rừng chồi. Với các dòng suối nước trong veo có nhiều cá lội, cạnh bìa rừng nguyên sinh rậm rạp. Muôn thú hát ca hòa chung cảnh trời, tạo nên bức tranh thảo nguyên thật sinh động, bởi những đàn chim rừng, đàn kéc bay về nườm nượp qua những nương ngô, báo hiệu cho mỗi buổi chiều về.
Mùa nắng bụi mù phủ lấp đầy mái tranh trong làng, quyện lấy người với mọi vật một màu đỏ tươi, quấn lấy đôi chân tất bật của những nông phu gấp bước trên đường, vươn lên đôi vai của họ đang vác những nông cụ như rìu, rựa, gùi, gánh, cuốc xẻng một màu đỏ au.
Với cái nắng hanh hanh giữa rừng chồi cháy trơ trụi lộ ra những gò mối, xa xa còn lẫn những gốc cây đang ngún khói, tỏa ra những mùi thơm thoang thoảng, nhẹ nhàng giống tựa trầm hương. Ánh lên những hy vọng cuồng nhiệt của họ, như muốn ôm tất cả thiên nhiên vào lòng, quang cảnh diệu kỳ ấy thực sự đã có một lực hút hấp dẫn, cuốn hồn người vào miền đất mới bao la. Với những sự ưu đãi tuyệt vời của thiên nhiên, họ hăng say hơn, lòng tràn đầy nhiệt huyết hòa mình trong thế giới mới, miền đất mới, quên đi những cảnh đời bạc bẽo và ngày tháng gian khổ ở quê nhà.
Ban đầu mới vào, vợ chồng họ gặp rất nhiều khó khăn, nhưng những khó khăn đó vẫn đỡ hơn ngàn lần ở tại quê. Nói như vậy, không phải là phủ nhận tất cả những gì có ở quê hương, nhưng để minh chứng một điều, việc ra đi là đúng đắn. Chứ xa nơi mảnh đất tổ tiên đã tạo dựng từ thời Nguyễn Hoàng cũng buồn lắm chứ! Ai mà muốn xa mảnh đất chôn nhau cắt rốn bao giờ.
Năm đầu vợ chồng ấy rất tất bật, bằng những cơ bắp của mình, chăm chỉ miệt mài chặt rừng, phá rẫy trồng tỉa quên cả bản thân. Chuyện con cái phó thác cho đất trời, không còn thời gian để ngó ngàng đến chúng, đứa lớn chăm sóc đứa bé được chừng nào thì hay chừng đó, thôi thì trời sinh voi sinh cỏ chứ biết làm sao! Họ mải mê làm ăn đến nỗi có thai cũng không hề biết, mang thai sắp đến ngày sinh nở mới hay. Qua một năm cật lực làm lụng, lăn lộn với thiên nhiên, với đôi thân trần gầy gò, gân guốc. Trong tay là những nông cụ thô sơ, nhưng nhờ lòng kiên nhẫn, quyết tâm cao, bây giờ cuộc sống đã dần dần ổn định, đủ ăn, đủ mặc, gia đình ngày càng khắm khá. Có nhà cửa đàng hoàng, đồ đạc tươm tất, nông cụ tạm đầy đủ và sinh thêm một đứa con trai bụ bẫm dễ thương.
Ngôi nhà sàn đơn sơ xinh xắn của họ, cột kèo làm bằng cây rừng, rui mè làm bằng tre bện bằng mây, lợp tranh, sàn nhà cao hơn đầu người rất thoáng mát. Tọa lạc trên khu đất rộng chừng năm hecta, bên dòng suối quanh co cách biệt với quần cư làng xã, quay lưng tựa vào triền đồi thoai thoải. Bên dòng suối xanh là những bờ mía mượt mà mát ngọt, với những luống rau đủ loại, đủ màu mát mắt thơm ngon. Với những giàn mướp, giàn bầu, giàn bí trái say nặng trĩu. Có ao nuôi cá ở nơi hang mội(5) sinh sôi nảy nở ăn không hết. Gia cầm vật nuôi đủ loại quấn quýt chân người. Dưới suối có nhiều tôm cá, ba ba, óc, lươn, chem chép... tha hồ bắt. Trong rừng có nhiều nấm, trái cây rừng ăn được tha hồ hái. Thú rừng như vượn, dộc, khỉ, nai, heo, mễn, chồn, nhím, kỳ đà, công, gà, sóc, sên, rùa, trăn, rắn...bẫy ăn ê chề. Chim rừng như kéc, nhồng, sáo, bìm bịp, cu, cú, khứu, chào mào, chèo bẻo... nhiều vô số kể. Còn thú dữ như voi, cọp, hổ, báo chim đại bàng... thì xuất hiện nhan nhản giữa ban ngày không hề sợ. Sau vườn thì mới trồng nhiều loại cây ăn trái đang đâm chồi nảy tược, cùng với cây cỏ mơn mởn đua nhau khoe sắc, tỏa hương ngào ngạt tạo nên một bức tranh kỳ diệu của đất trời. Hòa lẫn với thiên nhiên hoang sơ, dưới bầu trời xanh đầy hy vọng, làm cho cuộc sống tự cung tự cấp của họ khá vững vàng, thú vị biết chừng nào.
Đứa con mang thai không hề biết đó, nó đã cất tiếng khóc chào đời nơi đây. Nơi vùng đất mới phong sương, gió bụi với khung cảnh thiên nhiên hiền hòa, cùng muôn thú reo ca. Nó chuẩn bị đón nhận một môi trường mới, một cảnh đời mới và một thế giới mới. Hy vọng rằng nó có thể thoát khỏi những đau thương, khổ ải như cha mẹ nó ở quê nhà... Vợ chồng họ mừng lắm, đặt cho nó một cái tên là Phong Trần và coi đây là quê hương của nó.
-------------------------------------------------------------------
(1): Đất ôngTáo. Ngày xưa, có tục lệ khi rời xa quê hương ai cũng mang theo cục đất ông Táo, khi đến nơi rừng thiêng nước độc bỏ vào trong nước nấu uống cho khỏi sốt rét.
(2): Canh-ky-náp: Giống cây đay trồng trên cạn để làm bao bao bố.
(3): Đường be: Đường xe chở gỗ rừng,hai lằn bánh xe lún sâu xuống đất để lại hai rảnh hai bên.
(4): Rẻo: Là những cánh rừng còn lại, thế đất thường ở giữa là suối chung quanh là đồi. Không bằng phẳng người Pháp không dùng trồng cao su, cho nên người ta được khai thác trồng trọt
(5): Mội: là nơi mạch nước ngầm tự nhiên phun lên từ lòng đất.
--------------------------------------------------------------------
Chương II
HOẠN NẠN ĐẦU ĐỜI
Bé Phong Trần chỉ mới hai tháng tuổi, cha mẹ phải phó thác cho các anh chị nó, vất lăn lóc trên chiết chõng tre ở góc nhà ôm mút cái bẹ chuối lim nhim ngủ, ruồi muỗi phủ phê mà chẳng hề hấn gì. Các anh chị nó cũng phải làm lụng tất bật, đứa thì lo việc bếp núc heo gà, đứa thì xay lúa giã gạo chà bắp lột đậu, đứa thì cỏ rác quanh vườn, cho nên có lúc chúng quên đi thằng nhỏ. Không khi nào nó nằm trong nôi được ru đưa nhẹ nhàng, mà bị kéo thả bất thình lình thật mạnh, va đập tứ tung vào tường, vào cột làm thằng nhỏ thường giật mình... Do vậy, cha mẹ nó không yên tâm, chưa tròn ba tháng tuổi, Phong Trần hàng ngày phải nằn trong gùi, theo cha mẹ vào rừng khai phá mở rộng đất đai để trồng thêm cây trái. Đất mới khai phá thì trồng hoa màu(1), đất cũ thì để trồng cây lâu năm(2).
Cách mảnh vườn và ngôi nhà sàn đang ở về phía tây nửa giờ đi bộ, họ đã chọn một lô đất đỏ màu mỡ, bên triền đồi tiếp giáp với vực suối sâu cạnh cánh rừng già. Họ đang chặt phá dở dang một khu rừng rất rộng lớn chừng tám hecta, bằng những nông cụ thô sơ như cưa tay, rìu, rựa. Và cũng chỉ bằng đôi bàn tay trần trục của hai vợ chồng họ, đã làm cây cối ngã ngổn ngang che kín hết mặt đất trên cả một vùng bao la bát ngát.
Mùa khô đến, dưới cái nắng chói chang, hanh nóng của khu rừng vừa mới khai phá, cây cối chặt xuống ngổn ngang còn dôn dốt(3). Cái gùi mang Phong Trần trong đó được treo lên gốc cây to gần cái chòi tạm, lúc thì nó cựa quậy, lúc thì nó nằm yên, lúc thì ngủ thiếp đi, chỉ được uống nước và bú dặm khi nó o oe nếu mẹ nó ở cạnh đó nghe, còn nếu như mẹ bé mải mê làm lụng xa hơn thì nó o oe chán rồi ngủ tiếp, nó dễ dãi vô cùng.
Có một chuyện xảy ra kỳ lạ không thể tin được! Đó là, có một chú khỉ to lớn thấy bé Phong Trần ngo ngoe trong gùi một mình, con khỉ ấy lạ lẫm tò mò men đến làm quen, chọc ghẹo. Với cái tính tinh nghịch của loài khỉ thì không biết đâu mà lường, con khỉ vuốt ve vờn giỡn với bé suốt buổi. Bất chợt mẹ bé về tới thấy cảnh tượng như vậy, la cũng lỡ, đuổi cũng lỡ sợ tái cả mặt, người đứng như trời trồng chẳng biết làm chi. Chú khỉ vẫn biết có sự hiện diện của mẹ bé, nhưng vẫn ôm bé trong lòng không có phản ứng gì, vẫn cứ vuốt ve bình thường. Trong lòng bà ấy nghĩ dại...nếu mà la lên một tiếng thì con khỉ nó chạy rồi ôm luôn thằng bé đi thì chết dở! Cho nên bà đứng lặng thinh. Cuối cùng, có lẽ chú khỉ cũng hiểu, phải nhường phần chăm sóc thằng bé lại cho mẹ nó thôi!? Con khỉ để bé nằm lại trong gùi, rời gốc cây ấy rồi từ từ đi vào trong rừng ngang qua trảng cỏ lẫn chồi lúp xúp, nó nhón người đi thẳng còn ngoái đầu lại nhiều lần, trong ánh mắt của nó như tỏ ý muốn làm bạn để chơi đùa với thằng bé, chứ chẳng có ác ý chi, người mẹ nghĩ như vậy! Sau đó mẹ bé nhẹ cả người, liền đến lấy gùi xuống, ôm con ra, vạch khắp người xem xét, coi chú khỉ có làm trầy xước con mình chổ nào không? Không! Thật lành lặn! Ngạc nhiên quá! Chẳng những không có vết trầy xước nào, mà thấy chú bé sạch sẽ hơn, thơm tho hơn và vui tươi hơn. Không ngờ giữa chốn rừng xanh với muôn thú, cũng có một vú nuôi thiên nhiên tuyệt vời như vậy. Đó là người bạn thân thương nhất, người bạn đầu đời và là người vú nuôi của bé Phong Trần. Cứ như vậy, những ngày tiếp theo, bé Phong Trần đều được sự chăm sóc của vú nuôi. Cha mẹ chú bé ban đầu thấy cũng sợ, nhưng sau đó riết cũng quen. Dần dần chú khỉ đã cảm hóa được con người lạ quá! Lẽ ra ngược lại mới đúng. Từ đây vợ chồng họ xem chú khỉ như một thành viên trong gia đình, cảm mến, yêu thương, tôn trọng nó như con người. Và đặt tên cho nó là “Vú nuôi”.
Mùa khô đi qua hơn một nửa thời gian, không khí trở nên nóng gay gắt, nhưng cây rừng chưa đủ độ khô để đốt(3) cháy sạch. Trời đã chuyển mùa, cái nắng ui ui, mây từng đám trôi qua nặng nề có lúc che khuất mặt trời, gió lặng hơi nóng đã vắt kiệt những hạt mồ hôi của con người đến mất sức. Như thường lệ thì cái gùi vẫn móc ở trên gốc cây đó, rồi vợ chồng họ vội vã đi giải quyết nốt chòm rừng còn lại tận mãi dưới vực, để kịp khô đốt trước khi mùa mưa đến, công việc hối thúc quên cả ăn bữa lỡ(4). Gần đến trưa, nắng càng gắt thêm, sức nóng làm ngợp thở choáng người. Mẹ bé Phong Trần thả cây rựa xuống, cầm chiếc khăn quàng cổ lau vạt mồ hôi trên mặt, lấy bình nước đưa lên miệng chưa kịp uống, thì không ngờ thấy lửa khói nghi ngút trùm cả khu vực chòi, nơi có cái gùi mà bé Phong Trần đang nằm trong đó. Bà ấy thét lên thất thanh! Thất thần cùng chồng rướn người chạy ngay lập tức! Vượt qua gai gốc, cây rừng chằng chịt ngổn ngang lao lên vực nhanh như tên bắn, xuyên qua rừng lửa hướng về phía con mình. Quá hoảng hốt! Khi thấy khu vực ấy bị lửa thiêu rụi, bà ấy té ngất đi đè trên đống lửa rừng, chồng bà thấy vậy tâm thần hỗn loạn. Một phần thì vợ nằm trên đống lửa, một phần thì phải chạy cứu con. Làm sao đây!? Bất chấp lửa cháy, ông ấy đành kéo người vợ ra khu đất trống để đó, rồi lập tức chạy một mạch tới khu vực chòi! Không còn gì cả! Chỉ là những đám lửa than rực hồng! Không còn một dấu vết gì về bé Phong Trần. Ông ấy chỉ biết kêu trời! Nắm chặt hai tay gồng cong lên, ngước mặt lên trời, nghiến răng, cứng miệng, không thét lên được. Ông liền vội quay lại cõng vợ chạy về nhà, trên đường ông ấy cũng ngất luôn vì bỏng quá nhiều. Được người đàn ông dân tộc Châu-ro cứu đem về nhà cả hai, ông ấy dùng thuốc gia truyền, mỡ trăn, mật ong rừng và thảo dược chữa trị. Khi tỉnh dậy, họ như những người điên, nhưng nhờ người dân tộc anh em tốt bụng, vừa chữa trị, vừa lo ăn uống và an ủi, nằm đó hết bốn ngày mới hồi phục. Ở nhà con cái cũng hoảng hốt, chia nhau ra đi tìm cha mẹ khắp nơi.
Sau khi vợ chồng ông ấy quay về nhà, con cái đứa nào khi thấy cha mẹ cũng đều òa lên khóc, làm náo loạn cả nhà. Trong cảnh đau thương mất mát như vậy, vợ chồng ông ấy, dù có lành lặn thì cuộc sống cũng chẳng có ý nghĩa chi. Tính tình trở nên trầm lặng, thường ngồi quay mặt ra dòng suối trông ngóng viển vông, khắc khoải một điều gì đó không biết được... Tiếp theo, dưới cái nóng oi bức của buổi trưa và tiết trời giao mùa khó chịu. Lâu lâu có làn gió thoang thoảng khô khô, hơi nóng hắt lên mặt mọi người ủ rũ. Chung quanh vườn, cây cỏ trở nên vàng úa. Dòng suối nhỏ chỉ còn ít nước chảy róc rách từ trong mội ra. Cảnh rừng, cây cối im lặng thưa tiếng chim reo, lâu lâu nghe vài tiếng cú kêu xa xa buồn thảm. Gia đình vợ chồng ông ấy rười rượi thê lương. Không muốn ăn, không muốn uống mọi người héo hon, thiểu não. Chó mèo, heo gà vịt, ngỗng ngan cũng im phăng phắc!... Bỗng nhiên! Tiếng hét thất thanh của ai đó bên đồi vọng lại, làm cho khu rừng yên tĩnh trở nên xao động. Tiếng vỗ cánh hoảng loạn của đôi bìm bịp bay lên từ luống mía, cùng đàn vịt ùa bay theo ra khỏi chuồng, ngan ngỗng cũng vỗ cánh kêu la. Heo trong chuồng nhảy sổng ra ngoài, đàn gà con đua nhau lủi vào thân mẹ, được che chở bởi đôi cánh xòe to. Con chó Đốm phóng ra nhanh như chớp, táng vào tay cầm cầu thang bằng tre của hành lang rung bần bật, cùng với con Lem sủa dai dẳng liên hồi không ngớt. Con mèo tam thể nhảy thót lên cái vựa bên hè, chui nhanh vào trong tấm đệm, làm lúa vung vãi khắp nơi. Cả tụi nhỏ hú vía đơ người, mắt xoe tròn nhìn ra ngoài không chớp. Vợ chồng ông ấy giật thót cả người, vội chạy ra thì nhìn thấy một thanh niên(5) mặt cắt không còn miếng máu, chạy cuống về phía nhà ông bà. Thót qua con suối rộng rơi xuống giữa dòng nước, nhanh đến nỗi bàn chân đạp nước lùa ra hai bên, lật tung những mảng rau muống nổi lềnh bềnh trên mặt nước trơ cả rễ, làm động cá nhảy lung tung, khi thanh niên ấy chạy tới trong nhà mà nước chưa kịp hồi lại. Thanh niên ấy thở hổn hển nói không ra lời, nách một bó lá nhàu nát lem luốc, trong đó có gói một đứa bé nhỏ trạc tuổi Phong Trần mặt nhem nhuốc. Vợ chồng ông ấy vừa thấy chiếc yếm và miếng bùa đeo trên cổ! Không! Họ không tin vào mắt mình nữa! Bà ấy một lần nữa té lăn ra xỉu, chưa kịp nghe chàng thanh niên ấy nói lại điều gì. Chàng thanh niên trợn tròng trắng lên, nói thều thào mấy chữ: “Nước...sữa...cho...nó...” đứt quãng một tý, rồi gượng nói tiếp: “Con... khỉ”. Chồng bà ấy la lên! “Thì ra là Vú nuôi!!!? Vú nuôi đâu rồi!? Vú nuôi đâu rồi!?” Liền lúc đó, ông ấy tiếp đỡ đứa bé từ tay chàng thanh niên, cũng là lúc chàng thanh niên lạnh người quỵ xuống vì kiệt sức. Sợ thằng bé chết đói, thanh niên ấy đã cố chạy thật nhanh từ trong rừng sâu về để kịp cho thằng bé bú sữa và uống nước.
Với cảnh hỗn độn, trong nhà cùng một lúc hai người ngất xỉu, một đứa bé thoi thóp không biết đứt hơi lúc nào, con cái hoảng vía khóc la thảm thiết. Bà con từ trên làng nghe vậy kéo xuống mỗi lúc mỗi đông. Ông ấy vội bỏ đứa bé nằm trên sàn nhà, vọt thót xuống đất, moi trên chái bếp(6) có một bọc sắn dây, mở ra vội vàng làm tung tóe khắp nơi. Ông ấy đổ bừa vào trong gáo nước lạnh khuấy đại ra, rồi ngậm vào miệng mớm cho thằng bé cấp kỳ, miệng nó dường như bất động, không nuốt được làm ông ấy thêm hoảng hốt. Còn bà vợ và chàng thanh niên thì được bà con chườm bóp liên hồi. Đám nhỏ thút thít vẫn còn hoảng sợ. Dưới hiên, mọi người hồi hộp chờ đợi thì thầm với nhau, trong cảnh kêu la hỗn loạn của đám gia cầm.
Trời đã xế chiều, làn mây che lấp ánh dương bên đồi, bầu trời màu vàng từ từ ngả sang màu xám, xuất hiện một vài cánh chim lạ lác đác bay qua. Không khí trở nên mát dịu, cảnh hỗn loạn bây giờ đã yên tĩnh, nỗi suy tư lo nghĩ của mọi người bây giờ được nhẹ hơn. Bà ấy đã tỉnh dậy, ôm chầm lấy con cho nó bú liền, miệng chú bé bú liên hồi, sức hút yếu ớt, bà càng lo lắng nước mắt tuôn dàn dụa, nức nở nghẹn ngào. Tay bà luôn vuốt ve, vạch chân, vạch tay, vạch lưng, vạch cổ ra xem không thấy trầy xước tí nào cả, bà nhẹ cả người trong nỗi khắc khoải lo âu. Bà đưa tay lên lau nước mắt, rồi hất mái tóc ra sau lưng rưng rưng nói: “Ơn trời! Có ông bà phù hộ! Nhờ Vú nuôi giúp đỡ! Che chở cho con tôi, hú ba hồn bảy vía!”. Đứa bé vừa bú vừa thiếp đi trong vòng tay của mẹ. Mặt bà ấy bây giờ có phần tươi tỉnh, ôm chặt lấy con hôn mãi không thôi. Lúc này chàng thanh niên tỉnh dậy thều thào: “Thằng nhỏ ra sao rồi chú thím!?
Tối đến, ông ấy sai tụi nhỏ bắt gà làm thịt, trước là để cúng thổ thần đất đai, sau để cúng tổ tiên ông bà trả lễ. Đồng thời bồi dưỡng cho người cháu họ mất sức cả ngày nay và cùng mời bà con ăn mừng luôn thể.
Người cháu họ bây giờ ngồi kể lại:
-Sáng nay, cháu vào rừng rất sớm để đi thăm bẫy, trên lưng mang gùi tay cầm cái cung tên, tay cầm cây rựa. Len qua cánh rừng xuôi về phía nam gần giáp ranh Long Thành, cách đây khoảng bốn giờ đi bộ theo đường mòn. Khi đi sắp tới vừa leo lên khỏi vực suối, thấy một con khỉ to đang nằm ẹp dưới đất ở gốc cây bằng lăng to. Lông lá cháy khét, mồm mép sùi bọt, ruồi nhặng bu đầy, nó gần như bất động trợn trắng tròng mắt ôm trong tay bó lá này đây, hình như lúc đó nó còn run rẩy thoi thóp.
-Cháu liền ngồi xuống lật bó lá ra xem, thì thấy trong đó có thằng bé này, cháu biết ngay là thằng con chú thím. Nhưng cháu không tin vào mắt mình nữa, đột nhiên lạnh gáy toát mồ hôi hột, lại lấy tay vạch bó lá ra xem một lần nữa thì mắt hoa đom đóm. Cháu liền phun một miếng nước bọt vào bàn tay, thoa lên mặt cháu và quẹt lên mặt thằng bé thấy âm ấm. Thấy nó cụ cựa, nhúc nhích và nó ọ ẹ tiếng nho nhỏ.
-Thấy nó còn sống mừng quá! Cháu liền hất con khỉ ra và ôm chầm lấy nó bỏ mặc con khỉ chạy về đây một mạch, cố gắng càng nhanh càng tốt, không kịp lo gì cho con khỉ trong lòng áy náy và thấy tội nó làm sao! Cũng không có cách nào khác vì mạng sống của em mình đang bị đe dọa, cho nên cháu cứ chạy, cứ chạy mãi về đây. May sao không bị vấp té lần nào.
-Nhưng vì quá sợ hãi, cho nên không tìm được đường mòn, mà nhắm hướng chạy tắt về đây, nhưng không ngờ lạc mãi lạc mãi. Thường bị cắt ngang bởi rừng mây rậm rạp, dây leo chằng chịt và những vực sâu ngăn cách đường chạy về.
-Bí lối loay hoay mãi, cố tìm đường thoát về đây, mặc cho bao nhiêu trắc trở cháu vẫn cố ôm nó trong lòng, không bao giờ nghe nó khóc. Nghĩ dại...cứ mỗi lần nghĩ vậy, vừa chạy vừa rờ tay lên trán nó, thấy âm ấm. Yên tâm chạy tiếp, rồi lại nghĩ dại, rờ tiếp vẫn thấy ấm nhưng những lần sau cháu có cảm giác không bằng lúc trước, không tin vào tay mình nữa, lo lắng rồi cứ chạy cuống cả chân, hụt hơi mấy lần nhưng cháu vẫn cố gắng gượng dậy chạy về đây.
-Vì vậy mà cháu quên béng đi kiếm nước trún(7) cho nó uống, ừ! Sao mình ngu quá hè!(8) May sao bây giờ thằng bé còn sống, chứ có bề gì cháu hối hận suốt đời.
-Khi chạy về tới đây, thấy chú thím có ở nhà cháu mừng và yên tâm thiếp đi, không cần gượng lại nữa. Còn trên đường chạy, đạp biết bao nhiêu gai gốc cũng không thấy đau, trầy xước bao nhiêu lần cũng không thấy rát, bây giờ về đây tỉnh lại mới thấy ê chề.
Nói xong người cháu họ lờ đờ con mắt, phờ phạc ngáp dài một cái rồi nghiêng lưng dựa vào vách nứa gục xuống ngủ li bì cùng tụi nhỏ.
Nghe người cháu họ kể lại say sưa, mọi người ngồi nghe im phăng phắc, nhưng rồi sau đó ai cũng tuôn trào nước mắt, thút thít liên hồi làm ngôi nhà về khuya càng thêm ảm đạm. Thằng nhỏ lúc này thức dậy tròn xoe đôi mắt chăm chú nhìn ngọn đèn dầu, đôi mắt lờ đờ, tay quơ quơ, chân đạp đạp và tè ra một vũng tỉnh queo.
Kết thúc câu chuyện thì gà cũng đã gáy sáng, mọi người uể oải ra về trong im lặng, nhưng cảnh vật lại bị khuấy động bởi những chú gia cầm bị đánh thức bởi những chuyện bất đắc dĩ.
Ông ấy tiễn khách, quay vào không xập cửa lại, ngồi trên sạp tre, bên cây đèn dầu, tim nó sắp rụi, dầu cũng đã gần cạn. Ông quấn điếu thuốc rê vụng về tay còn run run, ông lè lưỡi liếm một cái xoay tròn điếu thuốc rồi ngậm nó vào miệng cúi đầu xuống cây đèn, liền lúc ấy nghe một tiếng xẹt mùi khen khét của tóc bốc lên, ông giật mình lập tức bật người lên, sau đó ông rút cái đóm tre bên vách tay cầm run run làm ông thò vào bóng đèn ba bốn lần mới đốt được. Ông châm thuốc, miệng bặp bặp ba lần xong rít điếu thuốc một hơi thật dài, rồi ngước cổ lên nóc nhà nhả khói nhè nhẹ thấy ngon lành, làn khói bay lên yếu ớt hòa quyện với khói đèn dầu từ từ bay qua cửa sổ làm thời gian dường như chậm hẳn lại. Rồi ông ấy nhìn qua vợ không nói lời nào, ông cùng vợ im lặng ngắm nhìn thằng con từ cõi chết trở về cho đến sáng. Còn tụi nhỏ, cùng người cháu họ ngổn ngang trên sàn nhà, cùng hòa nhịp điệu hò kéo xe nhiều âm thanh trộn lại nghe cũng vui tai.
Trời vừa hé sáng, hai chú cháu tức tốc cùng nhau băng rừng lội suối đi tìm Vú nuôi đem về chữa trị nhưng quá muộn. Khi vào tới nơi thì thấy Vú nuôi nằm xoải người thanh thản, mắt nhắm im lìm bên chiếc gùi cùng đồ đạc của chàng trai. Đống mối phủ lên gần hết thân thể của Vú, hai chú cháu lực bất tòng tâm ngồi xuống bên cạnh rưng rưng nước mắt hồi lâu rồi quyết định. Thôi thì vun thêm nấm đất thật to, lấy đá chèn chung quanh thành nấm mồ, khắc cho Vú một cái tên “người mẹ vĩ đại của núi rừng”. Gởi Vú lại nơi đây cùng giấc ngủ thiên thu, để được về với thiên nhiên hoang dã, bước qua thế giới mới mong rằng nơi đó Vú có được một kiếp sống tươi đẹp hơn. Hai chú cháu buồn bã ra về trong tâm trạng thương tiếc và buồn nhớ vô bờ.
Cuộc đời của gia đình họ từ đây đã khắc ghi, hằn sâu thêm nhiều kỷ niệm với thiên nhiên, cùng núi rừng muôn thú nơi miền đất mới, bé Phong Trần là một dấu ấn đậm đà không bao giờ nhạt phai, thân phận nó may mắn được quay về từ cõi chết, thoát khỏi hoạn nạn đầu đời quả là một kỳ tích.
(Còn tiếp...)
-------------------------------------------------------------------
(1): Hoa màu ở đây ý nói là cây ngắn ngày như: lúa nương, bắp, các loại đậu, mè, sắn khoai...
(2): Cây lâu năm là những cây như: Chôm chôm, sầu riêng, mít, ổi, xoài, cam quýt, bồng bưởi...
(3): Dôn dốt: Chưa khô hẳn.Cây rừng chặt xuống chưa khô đến độ đốt cháy hết.
(4): Bữa lỡ: Bữa ăn dặm khoảng 9 giờ sáng.
(5): Thanh niên ấy là người cháu họ, người sống bằng nghề săn thú ở tận rừng sâu để sống.
(6): Chái bếp: Sàn bếp.
(7): Trún:ngậm nước mớm cho người khác.
(8): Hè là từ địa phương(miền trung).Ngu quá hè:giống như ngu quá nhỉ, ngu quá vậy.
--------------------------------------------------------------------
Ngược xuôi đời đã về chiều,
Đường qua, lối lại vấp nhiều chông gai.