Một ngày trong nông trại
Khi người tị nạn Việt Nam tới Thụy Sĩ vào đầu thập niên 80, họ được người bản xứ mở rộng vòng tay đón nhận. Việc đầu tiên mà không ai trong chúng ta có thể tưởng được là "Tắm Chào". Từng người được đưa vào phòng tắm, cởi hết quần áo rồi các bà mẹ Thụy Sĩ (trên 50 tuổi) vào với xà bông, bọt biển và khăn tắm, họ kỳ cọ tắm gội vô cùng thận trọng. Phụ nữ, trẻ con thì không sao, còn các ông Việt Nam thì ngượng chín người. Từ khi thành người lớn có bao giờ các ông "bị người ta đè ra tắm" như vậy đâu?
Sau "lễ tắm gội" người ta được đưa vào trại tị nạn tập trung, học tiếng, học ít nhiều văn hoá Thụy Sĩ và khoảng 6 tháng sau đó được những gia đình hảo tâm đến nhận, bảo lãnh về nhà và giúp họ hội nhập vào đời sống mới. Những người bảo trợ này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hướng tương lai cho người tị nạn. Những gia đình Việt Nam may mắn, được bảo trợ là những người Thụy Sĩ có học thức, có tầm nhìn chiến lược giúp đỡ, họ dễ dàng thành công hoặc được học những nghành nghề hữu dụng trong đời. Còn gặp gia đình nông dân hảo tâm làm bảo trợ, thì người tị nạn nếu không muốn trở thành nông dân, cũng sẽ chỉ được học những nghề tay chân như thợ sửa đồng hồ, hầu bàn, dọn phòng khách sạn hoặc thợ máy.
Ngày ấy, mẹ tôi được gia đình nông dân bảo trợ. Gia đình Suhner vô cùng dễ thương, nhưng khả năng chỉ có vậy, họ đã đưa mẹ tôi tới một lò bánh mì để học nghề. Bà đường đường là cựu sinh viên đại học văn khoa Sài Gòn, nay bị gửi đi lau chùi quét dọn, làm bánh suốt ngày, cực nhọc lắm mà không biết kêu với ai. Ông bà bảo trợ đã lớn tuổi, nên họ khá bảo thủ, họ bảo mẹ tôi: Con từ một nước cực kỳ nghèo khó đến đây, con chỉ có thể trong vào đôi bàn tay của mình để kiếm sống. Hãy học cho được nghề làm bánh, rồi sau này cũng đủ sống ung dung.
Cả hai ông bà chăm sóc mẹ tôi rất kỹ, coi như con gái họ, nhưng mẹ tôi vô cùng thất vọng mà không làm sao làm trái ý được ông bà. Sau 2 năm làm quen với Thụy Sĩ, với chút vốn liếng Đức Ngữ, bà đã rời bỏ ngôi làng Herisau của ông bà bảo trợ để lên thành phố St. Gallen kiếm việc trong một công ty sản xuất thời trang. Tuy vậy, ân nghĩa đầu tiên với gia đình nông dân này vẫn được bà trân trọng và đi lại thăm hỏi thường xuyên.
Ngày tôi đến Thụy Sĩ, mẹ tôi có dắt tôi đến thăm ông bà Suhner, người tôi gọi là Oma (bà) và Opa (ông). Ông bà Suhner có ngôi nhà nằm trên đồi cao, được bao bọc bởi một nông trại rộng khoảng 3 hecta trồng cỏ, trong nông trại, ông bà có khoảng 100 con cừu, 30 con gà tây, 50 con gà mái đẻ, 2 con công, 20 con vịt + ngan, 15 con bò sữa. Ngoài ra ông bà còn có một nhà máy nghiền các dược liệu cho gia súc. Trong vườn ông bà có rất nhiều loại cây ăn trái, táo, nho, dâu, rất nhiều loại rau và thật nhiều hoa. Ngày đó tôi rất lạ lẫm với đời sống trong nông trại, đâu đâu cũng ngửi thấy đồng nội. Tôi cũng không hiểu tại sao họ lại ở trên đồi cao, một xứ hóc bò tó như vậy, trong khi ngoài thành phố náo nhiệt biết bao nhiêu họ lại không ở. Ông bà Suhner rất hãnh diện về nông trại của mình, bà đã luôn miệng kể cho tôi câu chuyện của mỗi gốc cây, con bò nhà bà (bà nói tiếng Anh rất khá, hồi đó tôi chưa biết một câu tiếng Đức). Tôi thì chán ngắt, chỉ thích mấy cây táo với những trái chín vàng ươm, mọng đỏ.
Ông bà bảo ba mẹ tôi cho tôi xuống ở với ông bà một tháng trong mùa hè để học tiếng Đức. Ba mẹ tôi rất cảm ơn và mùa hè năm ấy (tôi đang theo học lớp tiếng Đức tại trường thông dịch), tôi đã phải khăn gói về quê ở với ông bà bảo trợ. Hằng ngày tôi có thể ngồi học bài trong một căn phòng sáng sủa vào buổi sáng, buổi chiều tôi phụ ông cắt cỏ, phơi cỏ, đóng cỏ khô thành bánh bỏ vào kho để cho bò cừu ăn vào mùa đông, phụ bà làm vườn, hái trái làm mứt, ép nước... Vừa làm ông bà vừa dạy cho tôi những chữ chỉ nông cụ, các loại cây trong vườn, các cách làm nông trại. Nhờ sự ưu ái của ông bà Suhner từ từ tôi yêu công việc nhà nông. Thế mới hay cho sự huân tập của con người. Có lẽ ông bà định giúp cho tôi trở thành nông dân thứ thiệt.
Ông bà hỏi tôi: Mai mốt cháu học xong tiếng Đức, cháu muốn làm gì?
Tôi trình bày với ông bà ước vọng của mình, là học college và sau đó học trong đại học. Ông bà đã nhìn tôi như nhìn quái vật. Họ thành thật khuyên tôi nên bỏ những ước vọng điên cuồng đó đi, vì ông bà có 3 người con, người con trai của họ đã nối nghiệp cha mẹ, mua một nông trại cách đó không xa. Người con gái cả học tới tú tài rồi đi học ngành y tá, cô út học xong lớp 9 cũng theo ngành điều dưỡng. Ông bà khẳng định rằng người Thụy Sĩ nói tiếng Đức là tiếng mẹ đẻ mà còn không học nổi đại học, như trường hợp con gái lớn của ông bà. Tôi không biết phải nói ra sao, chỉ nói rằng: Thưa ông bà, cháu nghĩ khi mình muốn làm gì mình cố gắng hết sức mình, thể nào cũng làm được.
Những năm sau, tôi đi học ở xa về, thỉnh thoảng vẫn ghé thăm ông bà. Tôi vẫn ra vườn giúp bà, hoặc giúp ông cắt lông cừu.
Chiều nay tôi trở lại với ông bà, 18 năm đã trôi qua, ông bà đã già nhiều. Ông bà rất mừng những gì tôi đạt được trong những năm qua. Trong bữa cơm tối với đại gia đình, ông bà nói với con cháu của ông bà về sự suy nghĩ về tôi, đối với ông bà, phép lạ đã xảy ra cho một người tị nạn. Các con của ông bà cũng bày tỏ lòng chia vui, chúc mừng. Tôi chợt thấy bối rối, vì thật ra cuộc sống của tôi quá nhiều xáo trộn. Nhìn hình ảnh chân chất, nhàn nhã của cặp vợ chồng già và đời sống rất gần gũi với thiên nhiên của ông bà, tôi chợt thấy thèm muốn cuộc sống lành mạnh này. Ông bà hỏi tôi, sau này tôi có ý định làm gì, khi tôi đã đạt được tất cả mọi ước vọng. Tôi đã thành thực thưa ông bà rằng tôi chỉ ước mong rằng... một ngày kia có thể mua một nông trại nho nhỏ để trồng nho, nuôi cừu, bò và nuôi ong lấy mật.
Gate gate paragate parasansgate bodhi svaha