Trần Trọng Minh
[ Thi Hữu | Nhắn Tin]


Mẹ Lính

MẸ LÍNH

Nước mắt người mẹ nhỏ xuống chiếc quan tài phủ lá quốc kỳ VNCH trong lần đến BTL/SĐ để nhận xác thằng con trai út mà bà đã đặt hết kỳ vọng vào nó. Thái, nó là thằng em trai của tôi, nó đă vĩnh viễn ra đi để lại những xót thương, những đớn đau cho mẹ _ cho những người thân trong gia đình _ cho những thằng bạn thân và cho những nàng con gái đã đi qua trong đời nó…
Ngày mẹ tôi nhận được hung tin từ vị sĩ quan hậu cứ của đơn vị thằng em trai tôi và cũng là ngày tôi về đến nhà. Đây cũng là cái “duyên” đưa đẩy bởi vì lắm khi về phép mà tôi có mặt ở nhà cả ngày, thường thì tôi lang thang đây đó ở một góc phòng nào đó hú hí với các em gái hậu phương _ những kỹ nữ chuyên sống về đêm tại các phòng trà ca nhạc _ những thằng bạn thân còn đang tiếp tục bên giảng đường tại một quán cà phê mịt mù khói thuốc trước khi ghé lại nhà dăm ba phút để vòi thêm chút tiền của mẹ.
Tiếng nấc nghẹn hòa vào trong dòng nước mắt trên gương mặt đầy những vết nhăn bởi thời gian và suy tưởng của mẹ
“Mẹ không ngờ con đã đi trước mẹ. Mẹ thật vô phước con ạ!”. Mẹ tôi lầm bầm trong miệng. Bên cạnh mẹ tôi còn nghe văng vẳng tiếng nhạc từ một câu lạc bộ gần đó tiếng hát hình như của Duy Khánh trong cái radio cũ kỹ “Một ngày tôi đi qua trại lính ngang nhà, thấy một lá cờ với một vòng hoa. Chung quanh đây có ai đâu đưa tiễn anh về - đưa tiễn anh về với lòng đất sâu…Hỏi ra mới biết anh là lính trẻ xa nhà, chết trận đêm qua. Hỏi ra anh có mẹ già, anh có mẹ già ở tận nơi xa. Mẹ chẳng kịp về đưa tiễn anh đi. Mẹ chẳng kịp về đưa tiễn anh đi. Tôi thấy tôi buồn. Tôi thấy tôi buồn…Một ngày tôi đi qua trại lính ngang nhà, thấy một mẹ già đi tìm con thơ. Hay tin con, nước mắt tuôn rơi. Mẹ của anh buồn. Mẹ của anh buồn với dòng lệ tuôn…” Trong lúc đó những chiếc trực thăng đủ loại vần vũ lên xuống nhịp nhàng mang những người lính đến vùng lửa đạn đang tranh chấp và chuyên chở những cuộn poncho gói xác người hoặc những thương binh về bệnh xá sư đoàn. Phía trước hỏa châu thắp sáng cả một vùng trời đang ì ầm tiếng trọng pháo từ xa dội về. Thấy đó rồi lại bay xa khỏi tầm với, em tôi đã đi vào chiến trận và không về nữa. Tôi còn nhớ ngày nó ra trường mà tôi có dịp tham dự, với nét mặt rạng rỡ hân hoan tung chiếc nón lên bầu trời trong xanh sau khi nghe tiếng “TÂN SĨ QUAN ĐỨNG DẬY” tai trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Chợt một thoáng tôi đã thấy được hết lẽ vô thường của trời đất!
Mẹ tôi là người con gái đôc nhất được sinh ra trong một gia đình nho giáo khoa bảng. Ông ngoại tôi đã từ quan ra đi theo tiếng gọi của non sông đất nước trong phong trào VNQDĐ của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học. Ông bị đày đi tù ở Côn Đảo gần 10 năm. Trước khi được thả về, thực dân Pháp đã chích cho một ống thuốc không biết là thuốc gì và ông đã quằn quại đau đớn trên đôi cánh tay của bà ngoại, để rồi ra đi trong nỗi uất hận của một chiến sĩ sáng ngày mùng ba Tết. Bà ngoại vì thương nhớ chồng cũng mang bệnh nặng và từ giã dương thế khi mẹ tôi được sáu tuổi. Ngược dòng thời gian _ đi lùi lại lịch sử, nhìn qua phong tục tập quán cùng những suy nghĩ hẹp hòi lạc hậu của ông cha ta việc đối xử với tha nhân, kể cả với họ hàng thân thuộc. Mẹ tôi trở thành côi cút không nơi nương tựa. Nào là chú thím cô dì, hết gia đình này đến gia đình khác đều muốn nhận nuôi nấng mẹ tôi. Cuối cùng em của bà ngoại tôi đã dành được quyền ấy với gia sản đồ sộ bao gồm những cánh đồng ruộng cò bay thẳng cánh, phu thợ lên đến mấy chục người làm việc ngoài đồng, những dãy nhà cho mướn ở bến cảng Hải Phòng…Tưởng rằng mẹ tôi sẽ sung sướng và hạnh phúc trong gia đình mới. Nhưng không phải như thế, mọi sự đều diễn tiến trái ngược, mẹ tôi bị ngược đãi kỳ thị về mọi mặt từ những đứa con của dì. Mẹ tôi được dì cho ngủ tại một căn phòng chứa những dụng cụ gần bếp. Hàng ngày ngoài những thời gian học hành, mẹ tôi phải dọn dẹp, giặt giũ, nấu nướng cho cả gia đình. Đầu tắt mặt tối như vậy cũng chưa vừa lòng bà dì. Dì của mẹ miệng lúc nào cũng ngòm ngoèm miếng trầu đay nghiến mẹ tôi như kẻ ăn người ở trong nhà chứ không phải là đứa cháu côi cút của mình. Bận bịu như vậy cho nên đâu có thì giờ học bài và bị chê là ngu đần, cuối cùng thì không cho mẹ tôi đi học nữa. Dì của mẹ cố tình đối xử tệ bạc để dì không phải mướn thêm người làm nấu nướng, tắm rửa cho mấy đứa con nhỏ của dì…Năm 16 tuổi vì chịu không nổi những hà khắc của dì, mẹ tôi gom góp chút ít tiền dành dụm từ bấy lâu nay và một ít quần áo rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn ra Hà Nội ở với chú thím. Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa, thật là “mắm sốp bớp”. Ông chú vì thương cháu côi cút nên gặp riêng mẹ tôi tỏ ý giúp đỡ, nhưng bà thím thì cũng không khác chi bà dì. Đàn bà có khác! Mẹ tôi lại một phen chịu đựng dù rằng mẹ tôi khá đẹp với mũi cao giống bố, gương mặt trái soan cùng với đôi mắt buồn và hàng mi hơi cong dài giống mẹ. Từ đó có nhiều đám kể cả bác sĩ, kỹ sư đến đánh tiếng dạm hỏi nhưng đều bị bà thím dèm pha không nhận. Tất cả chỉ vì bản tánh ghen tị và sợ mất quyền lợi. Ghen tị là sợ sau này mẹ tôi trở thành bà này bà kia. Mất quyền lợi là vì phải mướn người ở đợ khác. Sau này mỗi lần mẹ tôi tâm sự với các con là mỗi lần mẹ tôi nhớm nước mắt bởi mẹ không đựoc hưởng những tình cảm sâu lắng cùng sự chăm sóc tận tình của ông bà ngoại như chúng tôi đã và đang có đầy đủ. Năm 20 tuổi mẹ tôi lấy chồng bất chấp sự phản đối kịch liệt của thím. Đám cưới thật đơn giản, dĩ nhiên không có sự tham dự của hai bà dì và thím. Mẹ được sự chú ý của bố tôi nhân một chuyến đi Chùa Hương. Sau cuộc hành hương đó, bố tôi lẽo đẽo theo sát mẹ về tới Hà Nội và cố gắng gợi chuyện làm quen. Phải thành thật mà nói rằng mẹ tôi không thích và rất ghét bố với gương mặt sáng dạn dầy của một tay anh chị, tóc húi “cua” chải ngược về phía sau bóng bẩy bởi chất “brillantine” để giữ tóc. Mỗi lần đón đường mẹ là ông chưng diện thật bảnh trắng toát từ trên xuống dưới trong áo “sơ mi” trắng ngắn tay, quần “sọc” trắng trên đầu gối, đôi giầy cùng vớ trắng thắt nút lơ lửng gọn ghẽ và đặc biệt cỡi chiếc xe đạp “cuộc” giống xe đạp đua bây giờ. Mốt thời thượng của những chàng trai đất Hà Thành lúc ấy! Bố theo đuổi riết rồi mẹ cũng phải xiêu lòng một phần lớn bởi bố tôi cũng mồ côi từ khi mới chập chững biết đi và mẹ tôi không phải làm dâu, cái mà mẹ sợ nhất. Cuộc gặp gỡ giữa bố mẹ là một cuộc tao phùng giữa hai con người cô đơn, lạc lõng không tình thương ruột thịt nơi xứ người. Trái tim của mỗi người đươc sưởi ấm len lỏi qua ngọn lửa kẻ khác phái tạo dựng nên một giá trị và ý nghĩa xác thực trong cuộc sống mà bố mẹ phải góp nhận chân lý ắt có và đủ của nó. Có những lúc vui chuyện mẹ thường nói “Bố rất khéo tay trong mọi công việc, tay nghề rất vững vàng và là một trong những người thợ giầy giỏi hiếm hoi của Hà Nội. Nhưng có điều rất tiếc là bố không có tay cầm quân, cho nên đụng vào đâu là thất bại đến đó…”. Bố tôi chỉ nhoẻn miệng cười cầu tài mỗi lần mẹ nói với chúng tôi như vậy. Thật vậy, biết bao lần bố đứng tên làm chủ thì y như rằng không chóng thì chầy tiệm ấy sẽ đi đong mất tiêu. Bởi thế sau này mẹ luôn đứng tên mọi cơ sở thương mại. Do đó, mẹ rất ư là mệt thay chồng quán xuyến mọi việc từ trong ra ngoài. Được thể, bố phè phỡn ăn chơi nhậu nhẹt ngoài việc chỉ bảo coi sóc đám thợ làm việc. Hà Nội và Sài Gòn đều có một tiệm giầy do bố mẹ làm chủ. Bố mẹ đi ra đi vô giữa hai thành phố sầm uất chính của cả nước như đi chợ và từ đó tôi cũng như ông anh cả của tôi được chào đời tại Sài Gòn nhưng bố mẹ gởi chúng tôi ra Hà Nội ăn học cho đến khi chuyến máy bay cuối cùng trong đợt di tản tìm tự do của hơn một triệu nhân dân miền Bắc đầu năm 1955 để vào miền Nam và bản thân tôi chưa một lần trở lại thăm ngôi nhà thân thương mà tôi chỉ nhìn thấy qua tấm hình cũ kỹ lúc tôi ở trần với độc nhất chiếc quần “xà lỏng” rộng thùng thình ngồi trên bậc thềm trước nhà, miệng đang gặm cái gì đó…
Hết rồi cái thời “phu xướng phụ tùy” và “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”…xa xưa. Hết rồi cái thời người đàn bà sinh ra thì luôn thụ động đựoc dạy là phải hiền ngoan, phải đứng sau cánh cửa nhà bếp, phải chui vào xó bếp, lo công việc tề gia nội trợ, sau đó phục vụ đức ông chồng khi cần thiết và cuối cùng làm bổn phận đẻ con để nối dõi tông đường cho gia đình chồng. Đó là hình ảnh thực tế nhất mà tôi thấy được qua mẹ. Bà là khuôn mẫu của một người mẹ Việt Nam hiện nay. Hình tượng về người mẹ Viêt Nam nhỏ bé, lam lũ, ít học nhưng khôn ngoan và tấm lòng thì bao la dạt dào như biển Thái Bình, từ người mẹ mọi người ra đời được nuôi nấng rồi trưởng thành làm ra những điều vĩ đại trong cuộc sống, đặc biệt là trong chiến tranh. Mẹ là bóng cả cho tôi hơn năm mươi năm làm người. Mẹ sống và sinh tôi ra trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Mẹ tiễn đưa tôi đến tận cổng Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ trong bước rẽ thứ nhứt cuộc đời lính của tôi. Tôi đã nhìn thấy trong ánh mắt sâu thẳm đượm một chút ươn ướt của mẹ những lời nhắn nhủ. Mẹ đã đến thăm tôi trong những tuần lễ huấn nhục. Mẹ chia xẻ với nỗi hân hoan của tôi trong ngày lễ gắn alpha trên đôi cầu vai. Mẹ cũng mừng vui tham dự ngày mãn khóa đưa con trai vào đời và tôi đã thực sự dấn thân làm nhiệm vụ của người con trong thời chiến. Mẹ đến thăm tôi trong những vùng xôi đậu đưa tôi từ sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng rồi mừng tủi bởi nơi đó chiến trường đang sôi động khi mà không nhận được một lá thư hoặc về phép của tôi. Những lúc ấy tôi cảm thấy rất lo lắng cho sự an toàn của mẹ nhưng mẹ đã không màng tới dù rằng đạn bom rất ư là vô tình không chừa một ai…Rồi mẹ hoang mang lo sợ cho đám con của mẹ trong những ngày cuối tháng 4 đen. Mẹ luôn cầu nguyện ơn trên gia hộ cho con, cho mọi người, cho đất nước nhưng vận nước đen đủi cho mảnh đất còn lại đã bị nhuộm đỏ bởi lũ người vô luân, vô tổ quốc chuyên phục vụ cho một tư tưởng ngoại lai hẹp hòi đưa nước nhà lâm vào cảnh nghèo đói khổ cực trở về thời kỳ đồ đá. Từ ngày miền Nam bị phản bội của đồng minh và bị cưỡng chiếm một cách thô bạo vi phạm bản hiệp định Ba Lê vừa ký chưa ráo mực của những người anh em cùng tổ quốc nhưng lỡ lầm nghe theo chủ thuyết vô thần, bố mẹ tôi đành phải dẹp hết các cửa tiệm đang có, vì bố mẹ đã có kinh nghiệm về họ quá nhiều để rồi không chóng thì chay họ sẽ tịch thu tất cả như họ đã làm đối với nhân dân miền Bắc sau khi thực dân Pháp rút lui. Tất cả chỉ vì họ muốn bần cùng hóa nhân dân để dễ dàng cai trị. Tấm thân mẹ càng ngày càng xơ xác, tóc bạc phơ vì lo lắng cho ngày mai – cho những đứa con đang ở trong các trại tập trung cải tạo được mô tả như những trại tập trung người Do Thái của Đức Quốc Xã thời thế chiến thứ 2, hoặc những trại cải tạo Gulag của Liên Bang Sô Viết dạo nào với mục đích trả thù một cách đê tiện là cho chết dần chết mòn theo năm tháng vì đói rách, hoặc là tẩy não nếu như những người của đối phương trước kia còn may mắn sống sót mà thế giới thường dùng một cụm từ rất ư đúng nghĩa xác thực của nó “brain-washing”. Đã vậy mà có thoát khỏi đâu, họ cố tình đánh cho xụm luôn những người có chút ít của cải bằng cách đánh “tư sản mại bản” vào năm 1979. Họ niêm phong và tịch thu tất cả nhưng cũng may mẹ tôi nhanh trí dấu được một chút ít, có nghĩa là gia đình tôi đã bị mất đi 2/3 của cải bao gồm tiền bạc, vàng ngọc, vải vóc…Họ đọc một bản cáo trạng dài thườn thượt không biết họ đã viết tự lúc nào như kiếm lợi nhuận trên xương máu của nhân dân…, ăn cắp tài sản quốc gia…, đủ thứ “hầm bà lằng”…Mẹ tôi như lặng người nhìn những thứ do mồ hôi nước mắt từ mấy chục năm qua dành dụm được bay vào túi tham không đáy của bọn “tư bản đỏ”. Bà càng hom hem hơn khi lặn lội băng rừng vượt suối gồng gánh những bao qùa cùng bố vào thăm tôi ở rừng Kà Tum sát với biên giới Việt-Miên thuộc vùng oanh kích tự do trong suốt cuộc chiến. Họ bắt gia đình tôi phải đi vùng kinh tế mới nhưng mẹ tôi thà chết tại chỗ chứ không chịu rời bỏ thành phố để đi vào chỗ chết. Cuối cùng thì họ cũng đành chào thua vì lòng cương quyết của mẹ và một phần lớn có lẽ do sự nhiệm mầu ơn trên che chở, ai cũng nghĩ vậy bởi vì không một ai thoát khỏi sự cưỡng bách đó. Thấy bố mẹ, lòng tôi cảm thấy xốn xao, từng giọt nước mắt rơi lả tả lúc nào không hay. Cả ba người đều khóc mặc cho tên cán bộ đứng gần đó la mắng hăm dọa cúp thăm nuôi. Tôi thật không ngờ bố mẹ lại hiện diện ở chốn đèo heo hút gió này. Tất cả chỉ thấy nơi tấm lòng thương con vô bờ bến của bố mẹ. Bố mẹ đã vượt lên trên tất cả những gian truân vạn dặm của con đường thăm nuôi. Bất kể mọi thay đổi của thời thế, của đất trời, con vẫn mãi mãi là con của bố mẹ…Thế rồi lại một lần nữa từ giã mẹ ra đi để lo cho tương lai cho bản thân mình và cho con cháu sau này. Nước mắt mẹ lại rơi trong một đêm gần như không ngủ. Ra đi là phó mặc mạng sống cho bão táp phong ba của biển cả mênh mông với chiếc ghe nhỏ bé chỉ hy vọng đến được vùng đất tự do là một phần ngàn…Ra đi là bỏ lại sau lưng những gì thân thương nhất vì không còn con đường sống…Họ đã không cho tôi một chọn lựa nào khác hơn… Và sau 17 năm lưu lạc nơi xứ người, tôi phải khăn gói trở về quê nhà nhưng trong lòng hoàn toàn không muốn vì họ vẫn còn đó chễm chệ ngồi mát ăn bát vàng trên sự đau khổ quằn quại của hơn 70 triệu đồng bào cũng bởi vì một câu nói nghẹn ngào của mẹ qua hình ảnh video mà ông anh tôi mang qua. Mẹ đang chờ tôi về mà tôi có thể đoan quyết rằng một linh cảm nào đó là cả hai muốn gặp mặt nhau lần cuối. Những giọt nước mắt lại rơi như tuôn không một chút e dè dấu diếm với mớ tuổi gần lục tuần của tôi và mẹ già tròm trèm 80. Tôi ôm chầm lấy mẹ khi trên vai còn đeo túi hành trang. Tôi thực sự khóc như một đứa con nít. Hai tay mẹ run rẩy vòng qua đầu tôi và mẹ đang truyền hơi ấm cho tôi như thủa nào còn bé tí teo. Hạnh phúc nào bằng giây phút này mà tôi nghĩ đây là lần đầu tiên tôi có được và cũng có lẽ là lần sau cùng.
Sáu tháng sau được tin mẹ mất trên đôi tay cô em gái lớn và tôi bay về ngay để tiễn đưa mẹ về nơi cõi vĩnh hằng. Lần này tôi không có một giọt nước nào chảy ra trên gương mặt già nua của tôi mà chỉ cảm thấy chênh vênh, hụt hẫng vì mẹ đã không còn nữa trên cõi đời này để tôi được dựa dẫm và để tôi được chào đón bằng hai cánh tay luôn rộng mở – chào đón bằng cả một tấm lòng ưu ái nhân hậu của mẹ.
Mother’s Day 2005.


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả