Những Cô Gái Miền Sông HẬU
NHỮNG CÔ GÁI MIỀN SÔNG HẬU.
Mến tặng các bạn ở Boeing, Irving.
Mọi người đều do phụ nữ sinh ra và trong một chừng mực nào đó, thì đàn ông phải trả lại món nợ truyền kiếp này. Đó là quan niệm của một số người mang trong đầu họ sự chủ quan có tính cách ích kỷ. Họ còn cho rằng vì có khả năng sinh con nên phụ nữ luôn đựoc coi là quí giá hơn và đáng được bảo vệ hơn. Nói như vậy có nghĩa là đàn ông phải hy sinh thay cho phụ nữ, phải gánh vác những công việc nặng nhọc nhất từ một anh khu khuân vác cho đến những anh khoa bảng. Và từ đó, người đàn ông cố dành quyền bình đẳng với phụ nữ. Họ cho rằng phái nam luôn bị thiệt thòi trong cuộc sống… Và nữ giới là số một, đẻ rồi họ tự đặt để cho sự tồn tại của họ là để phục vụ cho chính bản thân họ mà thôi. Út không đồng ý với một kết luận quá hiện thực và hàm hồ, cứng ngắt như vậy của hai sử gia hiện đại Arne Hofmann người Đức và Martin Creveld người Do Thái, nếu như họ thấu hiểu thế nào là cuộc sống lứa đôi đã có ngay từ thuở khai thiên lập địa, khi mà con người còn ăn lông ở lỗ. Út ném cuốn sách vào vách tường nghe cái bụp. Một hành động hiếm thấy nơi người con gái miền sông Hậu, người con gái hiền lành của miền đất trải dài tình thương, trải dài niềm mơ ước hài hòa trên những cánh đồng bao la, bát ngát ngập tràn hương thơm ngào ngạt của những vụ lúa mới gặt.
Gần một năm sau ngày đám cưới, Út đặt chân lên đất Mỹ vào một buổi tối cuối Thu, lúc thành phố đã lên đèn sáng trưng như ban ngày, không như những buổi tối nơi quê nhà, nghĩ mà thương mà tủi cho đất nước vẫn con mang nhiều sắc thái lạc hậu, nghèo đói bởi sự kềm kẹp của một số người với tư tưởng hẹp hòi cùng một chủ thuyết không tưởng… Buổi sáng hôm nay cũng như những buổi sáng đã trôi qua hơn một tháng rồi, Út không thức dậy sớm như khi có Thành ở nhà, nàng cố nằm lì trên giường và dán mắt vào chiếc T.V để theo dõi những tin tức sốt dẻo từ chiến trường Iraq gởi về, những hình ảnh mới nhất của những chàng kỵ binh với gương mặt cháy nắng, bụi cát phủ mờ qua các cơn bão táp sa mạc đang tiến dần về thủ đô Baghdad từng giờ, từng phút. Thành, chồng của Út, anh có mặt trong đám chiến binh đó.Thành tốt nghiệp trường Sĩ Quan West Point gần một năm rồi, bây giờ anh đang là một Sĩ Quan Trung Đội Trưởng như bố của anh ngày nào. Đây là tâm nguyện của anh khi đặt chân lên miền đất tự do này, miền đất hứa của bất cứ ai trên hành tinh hiện nay. Thành mong mỏi rằng một ngày nào đó, anh hy vọng là không xa lắm đâu, cũng trên những con ngựa sắt này, anh hùng dũng tiến về thủ đô yêu dấu và về khắp mọi miền quê hương đất nước, trong đó mọi người dân đươc hít thở không khí trong lành của tự do, không bị ai kềm kẹp, chi phối và an cư lạc nghiệp. Anh hiểu đó là niềm hạnh phúc của bản thân anh và gia đình nói riêng, ngoài ra còn của mọi người con dân nước Việt nói chung. Bố của Thành được vinh dự gửi theo học ở West Point và đã tốt nghiệp với thứ hạng rất cao, anh không được như bố, nhưng ít ra anh cũng nối nghiệp bố với niềm hãnh diện của người lính mang trong tim lời thề bảo vệ non sông đất nước trước hiểm họa bị tấn công từ những kẻ thù đầu óc hẹp hòi, cực đoan, toan tính áp đặt thế giới dưới sự cai trị bằng bàn tay sắt máu, vô nhân đạo…
Út và Thành biết nhau từ hồi hai đứa chưa cắp sách đến trường, hàng ngày chạy qua, chạy lại chơi với nhau. Út và Thành coi nhau như anh em. Thành thường đứng ra bênh Út đôi khi bị những đứa trẻ trong xóm bắt nạt. Trái lai, Út luôn chăm sóc Thành mỗi khi Thành bị trầy trụa trong lúc chơi đùa với bè bạn. Bố của Út và bố của Thành là hai người bạn rất thân trong xóm. Hai người đều đậu Tú Tài 2 cùng một năm, đường công danh đang mở rộng đón chờ, nhưng đùng một cái, hai người tình nguyện đi Sĩ Quan Đà Lạt. Quyết định này làm mọi người từ những người thân trong gia đình cũng như bạn bè và bà con trong cái xóm bé tí teo của một tỉnh lỵ nhỏ miền sông Hậu, đi dăm bước lại về chốn cũ, ai nấy đều lấy làm ngạc nhiên. Dù rằng song thân của hai người cố ra sức khuyên răn, nhưng cuồi cùng đành phải nhường bước bởi sự quyết tâm của hai người. Đúng theo giáo lý của nhà Phật, con người sinh ra đều có cái duyên với cái này, nhưng lại không có duyên với cái khác. Bởi vậy, bố của Út thụ huấn tai quê nhà, riêng bố của Thành được đào tạo tại Mỹ. Nói cho cùng, nơi nào cũng vậy mà thôi, vì đại để chương trình huấn luyện giống nhau, có thể có một vài cái khác nhau vì thời điểm và vị trí…Ra trường, hai người đều là chiến sĩ Mũ Đỏ, nhưng ở hai tiểu đoàn khác nhau, tuy vậy vẫn thân thiết như ngày nào bằng những cánh thư kể cho nhau nghe những vui buồn của đời lính, những mối tình vụn vặt với các em gái hậu phương, những chiến trận mà họ mới trải qua, cùng trao đổi những kinh nghiệm cần thiết cho một cấp chỉ huy. Chắc đã có hẹn trước, nên khi đám cưới của hai người chỉ cách khoảng tuần trước, tuần sau, và một điều đặc biệt là hai cô dâu đều là hai cô gái bạn học cùng xóm. Kể ra thì cũng vui và ngộ nghĩnh.
Thế rồi tình thế biến đổi, thân phận của các nước nhược tiểu luôn nằm trên bàn cờ chính trị của những nước lớn, quân dân miền Nam Việt Nam đành phải chịu chung số phận đó. Bản thân dân Việt, ai nấy đều hiểu và biết điều đó, nhưng không làm sao xoay chuyển được, những người có tâm huyết trước tiền đồ của tổ quốc nhìn vận nước nổi trôi mà thấy đau lòng. Cả một chế độ đi vào dĩ vãng chỉ trong vài tháng sau cùng, một phần bởi sự quyết định thiếu sáng suốt của giới lãnh đạo miền Nam bằng một cuộc di tản không tiền khoáng hậu đầy hỗn độn, hổ lốn, vô tổ chức, cũng từ đó người lính miền Nam bị bức tử oan nghiệt, đẩy đưa họ vào tuyệt lộ, không lối thoát. Hình ảnh cương nghị, kiêu hùng cùng gương sáng ngời nơi Tướng, Tá, và những người lính “trơn” tự hủy mình để khỏi lọt vào tay địch, để khỏi nhìn thấy cảnh “Được làm vua. Thua làm giặc”, để khỏi nhìn thấy những bộ mặt vênh váo, trắng bệch phù thủng, thiếu ăn, thiếu ngủ, thiếu ánh sáng mặt trời qua những ngày đêm trốn chui, trốn nhủi nơi rừng thiêng nước độc, dốt đặc cán mai, nay trở về thành hưởng thụ vinh hoa phú quý, bằng những sự cướp bóc trắng trợn nơi người dân miền Nam từ thành thị đến thôn quê. Những trại cải tạo, những vùng kinh tế mới là những trại tù khổng lồ mọc lên khắp nơi cả ba miền đất nước để trả thù những người mà họ cho là chống đối họ trước kia. Thân sinh của Thành không tránh khỏi sư phũ phàng ấy. Bố đi cải tạo. Mẹ bị cưỡng bách trong khi bụng mang dạ chửa Thành đi khai khẩn vùng kinh tế mới, đó là vùng đất chết, khô cằn sỏi đá, muỗi mòng, rắn rết này đêm rình rập, sự chết luôn sẵn sàng rước đi lúc nào không hay. Cũng may, nhờ Ơn Trên phù hộ mẹ con Thành vượt thoát được hiểm nguy, nhưng mẹ của Thành khằn hẳn người, đôi bàn tay những vết rộp ban đầu, nay trở thành chai đá vì dãi dầu nắng sương ngày đêm bên luống rau, bụi sắn, Mẹ hết còn là cô nữ sinh duyên dáng, xinh tươi ngày nào. Gần mười năm trời mẹ tay bồng, tay bế Thành, một lòng chung thủy gồng gánh những bao quà trên đôi vai đi thăm chồng từ trại cải tạo này, đến trại cải tạo khác, mòn mỏi chờ ngày trở về của bố Thành. Riêng bố của Út vẫn biệt tăm sau ngày rã ngũ, chắc có lẽ ông đã gục ngã ở một nơi nào đó trong những trận đánh sau cùng của cuộc chiến. Mẹ của Út khóc hết nước mắt, đứa bé trong bụng chính là Út sẽ chẳng bao giờ thấy được cha của nó khi mở mắt chào đời. Mẹ cầu nguyện hằng đêm những mong một ngày nào đó bố của Út trở về, dù cho thân xác không còn nguyên vẹn, mẹ sẽ một lòng, một dạ nuôi chồng cho đến ngày cuối của cuộc đời. Thế nhưng bố đã không trở về như ý mẹ mong muốn, và rồi một lần nữa giòng đời oan nghiệt đã phủ lên đầu mẹ bằng cái chết đớn đau sau khi Út vừa biết o-oe cựa quậy và mới chợt nhận biết người thân chăm sóc mình hàng ngày được vài tháng, chưa kịp được phát lên tiếng gọi thân thương “Má ơi! Ba ơi!”, đã mồ côi cha, nay lại mồ côi mẹ. Số là trong xóm có một anh chàng thầm yêu trộm nhớ Hạnh, cô nữ sinh hoa khôi của trường trung học ngoài tỉnh. Anh chàng có tên gọi là Tư Lùn, cũng khá điển trai, nhưng chỉ có tội hơi lùn, chơi bời lêu lỏng, tụm năm túm ba đàn ca hát xướng tối ngày, chẳng lo học hành chi cả, do đó năm Đệ Tứ phải ở lại lớp. Buồn nản vì đường học vấn, phần khác vì cô nữ sinh Hạnh đã có chủ, người ấy không ai khác hơn là bố của Út sau này. Đột nhiên Tư Lùn biến mất, không còn hiện diện trong xóm, mới đầu người thì cho rằng Tư Lùn bỏ xứ lên Sài Gòn làm ăn, người thì bảo rằng Tư Lùn mê cô đào trong gánh hát một lần đến diễn tai chợ quận, cho nên đi theo đoàn hát đó rồi…Lâu dần chuyên TưLùn cũng đi vào lãng quên như trăm ngàn chuyện khác vì cuộc sống đầy bận rộn của mọi người. Bố của Út hiền lành, đẹp trai, học giỏi, cao ráo mà lại ăn nói có duyên, cho nên điều đương nhiên phải lòng Hạnh, cô đã gởi trọn tình cảm cho bố của Út. Ai cũng biết khi một bông hoa đẹp biết nói tỏa sáng và mời mọc bằng những hương thơm ngọt ngào như kêu goi ong bướm vờn quanh, lẽ dĩ nhiên có nhiều kẻ thương, kẻ thì thương thầm, kẻ thì thương ra mặt bằng những mảnh giấy vụn hay cánh thư dài bỏ cả ăn cả ngủ nắn nót từng chữ, từng câu những mong người đẹp đoái hoài đến mình. Chỉ tội nghiệp cho những anh chàng như Tư Lùn không đủ điều kiện ắt có và đủ để tranh đua như những chàng trai khác thì đành thương thầm mà thôi, đành ngậm bồ hòn, nín thinh, chỉ liếc nhìn Hạnh khi nàng đã đi qua, chứ không dám nhìn trực diện, và rồi đành giữ trong lòng mối tình câm nín.
Tình hình biến chuyển, vận nước xoay vần. Một cuộc đột biến, đổi đời vĩ đại đưa đẩy quân dân miền Nam xuống tận cùng đất đen. Ai nấy đều ngỡ ngàng, bàng hoàng vì sự thực xảy ra trước mắt họ một trăm phần trăm và không thể nào ngờ được những người chung quanh hàng ngày tiếp xúc một cách thân thiết, lại là những kẻ nằm vùng đã mấy chục năm. Mỗi lần nghĩ tới đó, họ cảm thấy rởn tóc gáy, vì không nhớ là mình có nói hớ cái gì không? Vạ mồm vạ miệng là bị liệt vào danh sách phản động, chống đối, đi cải tạo không có ngày về. Những kẻ nằm vùng, họ có mặt khắp nơi, khắp ngã. Từ hang cùng ngõ hẻm, chị gánh nước mướn xộc xệ, dụt dè, cạy miệng không nói được tiếng thứ hai ngày nào trở thành chủ tịch hội phụ nữ phường, nói năng vung vít, thao thao bất tuyệt chủ thuyết ruồi bu, lạc hậu, được lập đi lập lại như con vẹt không hơn, không kém. Bác xích lô già cần mẫn, anh chàng tắc xi mặt lúc nào cũng đỏ như gấc, nặc mùi bia, chú thợ giầy siêng năng…trở thành Chủ Tịch Phường, Chủ Tịch Quận…Bây giờ nói đến thành phần từ có một số vốn kiến thức nhỏ như sinh viên, học sinh, hạ sĩ quan và khá hơn một chút là sĩ quan cấp úy, rồi những kẻ khoa bảng như dược sĩ, bác sĩ, luật sư, giáo sư, kỹ sư, ký giả, thậm chí những tướng, tá phục vụ lâu năm trong quân đội đều lòi ra bộ mặt “ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản” trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Tư Lùn đeo bên hông là khẩu K54 chễm chệ ngồi trên chiếc xe Jeep lùn còn mới toanh mà quân ta bỏ lại. Ngồi bên cạnh hắn là tên tài xế của viên Thiếu Tá Quận Trưởng, ông bị bắn chết tại chỗ bởi ngay chính người tài xế mang đầy ơn nghĩa của mình hàng ngày chở mình đi chỗ này, chỗ nọ. Gia đình tên tài xế có cửa hàng bán vải ngoài tỉnh là nhờ ở tiền bạc của viên Thiếu Tá cho mới có được cuộc sống sung túc như vậy. Bây giờ cuộc sống của gia đình tên tài xế lại càng vươn lên đến tột đỉnh bởi hắn là Tỉnh Uỷ, còn Tư Út là Chính Trị Viên của Quận. Tất cả một ngày nào đó, chắc là không xa họ đều trở thành “tư bản đỏ” nhờ vơ vét của cải của dân chúng, nhờ tham nhũng, nhờ hối lộ. Chiếc xe Jeep thắng gấp trước nhà của Hạnh, bà con trong xóm lấm la lấm lét đưa những cặp mắt tò mò hướng về Tư Lùn, hắn ra vẻ thân mật chào hỏi từng người trong xóm, hắn đã thực sự trưởng thành bởi những bài học được nhồi sọ một cách kỹ lưỡng và kỷ luật tuyệt đối từ quân sự đến chính trị trong suốt thời gian gần mười năm ở trong bưng. Trong ánh mắt của hắn dù là đang thân mật nhưng ngầm chứa mọi sự dò xét về tình hình trong xã. Tư Lùn chậm rãi bước lên bậc thềm, bất chợt Hạnh ngẩng đầu lên sửng sốt và đặt Út nằm lại vào trong nôi, nàng đứng dậy chào hắn mà nàng không biết là ai. Hắn hỏi thăm nàng từng chi tiết đến nỗi Hạnh cứ ngỡ rằng đôi bên đã quen biết nhau từ lâu. Hắn nói chuyện về những người bạn học cũ, về ngôi trường thân yêu dạo nào. Đặc biệt khi nhắc đến Ngọc, chồng nàng, thì đôi mắt hắn chợt đăm chiêu. Hắn đang suy nghĩ một điều gì nàng không rõ, chỉ thấy hắn chép miệng rồi quay qua chuyện khác. Đến khi nàng cho hắn biết là Ngọc không thấy trở về sau cuộc chiến, tự nhiên mắt hắn thấy sáng hẳn lên. Nói chuyện trên trời dưới đất một lúc lâu cũng cạn đề tài, trước khi đứng dậy ra về, hắn tự giới thiệu về hắn, lúc này nàng mới bật ngửa ra và thầm nhớ lại gương mặt của Tư Lùn mà nàng có vài lần thấy bởi hành động ngang tàng, phá làng, phá xóm của hắn thuở nào. Hắn học cùng trường nhưng khác lớp với Hạnh, cho nên nàng cũng ít có dịp gặp, vả lại trong suốt thời gian đó, Tư Lùn chẳng có một cái gì đặc biệt để cho nàng phải bận tâm tới. Hạnh vẫn không hình dung được Tư Lùn, tuy nhiên vì phép lịch sự cũng như để cho hắn hài lòng, nàng ra vẻ đã nhớ lại rồi cho qua chuyện, bởi vì hắn quá nhiều thay đổi.
Bà Năm đong đưa ru đứa cháu nội trong chiếc võng mà bà chắt bót được ít tiền còn lại của bác Năm trai và mua ở ngoài chợ lúc ban chiều. Tội nghiệp cuộc chiến vừa tàn thì bác Năm trai cũng vừa mất, một phần vì già, một phần vì thương nhớ thằng con trai đọc nhất là Ngọc đã ra đi biệt tăm, không trở về nhà như những đứa khác ở trong xóm. Bà Năm hom hem hơn trước nhiều, niềm an ủi duy nhất hiện nay của bà Năm là Út và đứa con dâu ngoan ngoãn, hiếu thảo, mẹ của Út. Tiếng ru của bà Năm với giọng hò miền Nam chất phát vang xa nghe não nuột tưởng như đang mất mát một cái gì thương yêu nhất trên đời. Ngoài kia trời đã xế chiều, màu xanh da trời bắt đầu yếu đi, mặt trăng trở nên vàng hơn, và rồi trong vài khoảnh khắc sau đó mầu sắc của nó biến dạng gần như vàng tuyền. Thiếu phụ đang ngồi một mình bên giòng sông trong chiếc áo bà ba xanh lá cây đậm, có điểm những bông hoa tiềm ẩn nhưng lóng lánh sáng phản chiếu nhờ ánh trăng, mắt hướng về xa xa như chờ, như đợi ai đó ở miền miên viễn. Bây giờ thì hoàng hôn vừa tắt hẳn, trăng trở nên mầu trắng vàng hư ảo biến những cảnh vật chung quanh thành một khung cảnh thần tiên ở hạ giới, nhưng hàm chứa trong nó sự xa vắng vời vợi. Thiếu phụ đó không ai khác hơn chính là Hạnh. Nàng thường có những buổi chiều ra ngồi bên bờ sông, thả hồn về dĩ vãng, tìm lại những tháng ngày tràn đầy kỷ niệm, hạnh phúc bên người yêu, bên chồng. Cũng nơi đây, cũng bên giòng sông này vào một đêm trăng rằm ngày đó, Ngọc đã cho nàng nụ hôn đầu đời, ngọt lịm. Nàng như đắm chìm trong hạnh phúc, trong vòng tay xiết chặt, trong hơi ấm của tình yêu tỏa ra giữa hai người. Qua một thoáng giây ngỡ ngàng nhưng sung sướng, Hạnh trở nên chủ động trong sôi nổi và vụng về, nàng hôn anh nồng nhiệt, những sợi tóc mềm bay lõa xõa trên hai bờ má nhỏ nhắn. Ngọc yên lặng ngồi thụ động bên cạnh nàng, nhưng rồi anh kéo Hạnh nằm xuống bên bãi cỏ xanh mướt mặc kệ cho thời gian và không gian di chuyển lần vào trong bóng đêm… Giờ đây, cảnh vật chung quanh không thay đổi là bao, Hạnh thèm được đưa những ngón tay của nàng luồn vào trong mái tóc người yêu. Hạnh thèm được anh ôm lấy cơ thể bé bỏng của nàng. Hạnh thèm được mơn trớn trong vòng tay của anh trải dài trên thân thể nàng. Hạnh thầm cám ơn tạo hóa đã cho con người biết thế nào là tình yêu thương, sự rung động tột cùng của cảm giác, sự miên viễn của linh hồn. Hạnh từ từ dưa lưỡi liếm môi của mình như tiếc nuối, bỗng nàng cảm thấy một cái gì hơi mằn mặn trên vị giác, nàng đưa tay sờ lên má và hai hàng nước mắt tự nhiên chảy dài xuống lúc nào nàng cũng không hay. Hạnh mân mê tà áo. Nàng thật xinh đẹp trong chiếc áo bà ba muôn thuở có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chốn, từ buổi chợ quê đến những phố thị đông đúc, đâu đâu cũng thấp thoáng bóng hình chiếc áo bà ba, quyến rũ mà chân thật, dịu dàng của dân tộc. Tùy theo người mặc, riêng nàng tự nó tăng thêm vẻ thanh thoát, lả lướt, cao sang. Bên bờ sông vắng lặng, gió lạnh đuổi vào bờ những cơn sóng lăn tăn, loang loáng ánh vàng và bạc. Hạnh cứ để nước mắt tuôn rơi một cách thỏa thích, nàng không muốn ngăn nó lại, nàng muốn nó tuôn ra hết để lãng quên đi những cô đơn thường đến với nàng mỗi ngày mỗi đêm. Nỗi cô đơn chồng chất luôn sừng sững một cách đáng sợ trước mắt nàng. Có những lúc nàng mong muốn vô cùng những giây phút bên Ngọc, dù chỉ để lặng yên ngắm nhìn mông lung mọi thứ xoay vần chung quanh mình. Nàng cảm thấy đó chính là những giây phút hạnh phúc, giây phút quí báu trong đời. Nàng trân trọng nó, nâng niu nó hơn cả những viên ngọc quí trên trần gian này. Nàng thừa nhận một điều tuyệt đối là chỉ ở bên Ngọc, hạnh phúc tuyệt vời mà nàng cảm nhận thật trọn vẹn về điều đó. Hằng đêm có những cơn mơ đắm chìm trong hạnh phúc đến với nàng, để rồi nàng cảm thấy hụt hẫng khi tỉnh giấc, đôi tay nàng khoe khuẩy trong không khí như muốn níu kéo và bám víu một cái gì đó mà nàng tưởng là cái thành cầu bắc qua con rạch nhỏ trước khi ra đến dòng sông lặng lẳng chảy theo ngày tháng và trở mình lay động sau tiếng mái chèo khua lách cách của một vài ngư dân về chậm trong ngày. Nàng và Ngọc chẳng bao giờ nghĩ sẽ mất nhau vĩnh viễn, nhưng hạnh phúc đến đấy, rồi mất đấy, cát bụi trở về với cát bụi.
Mệt mỏi với những suy nghĩ Hạnh về đến nhà thì chiếc đèn “măng-xông” mà bác Năm vừa thắp sáng tỏa ra khắp căn phòng. Bên cạnh đó là Út đang thiêm thiếp giấc nồng trong chiếc nôi xinh xắn. Mâm cơm vẫn còn đó được chụp lên bởi chiếc lồng bàn bằng vải mùng để khỏi bụi và ruồi muỗi đậu vào. Hạnh thưa bác Năm là nàng mới về, bác nhìn nàng với đôi mắt trìu mến, xót thương cho phận đàn bà và nói khẽ “cơm đó, con ăn đi”. Hạnh vâng dạ rồi bước ra sau nhà.
Trăng vẫn giữ màu vàng sáng cho thời gian còn lại của màn đêm len lỏi qua khe hở của nhà bếp và quét trên nền nhà bằng gạch nung những vết sáng thẳng tắp như những lằn sáng của máy chiếu phim ở rạp xi nê. Gáo nước lạnh phủ lên toàn thân thể mát lạnh nõn nà dưới ánh trăng rằm xuyên qua vách của người thiếu phụ một con trông mòn con mắt, các cụ thường bảo thế. Hạnh thường có thói quen tắm về đêm trước khi đi ngủ. Ngọn đèn dầu nhỏ xíu với đóm lửa hồng nhỏ bằng hạt đậu bập bùng cháy trong chụp đèn thủy tinh đặt ở trên cái bàn vuông vắn gần bên bức màn mỏng ẩn hiện bóng dáng lồ lộ quyến rũ như nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã xuất thần mô tả những gì hiện thực nhất trong nguồn thi ca vô tận của bà. Bên ngoài, gió vi vu, xào xạc khua động những lá cây như dan díu vào nhau tạo thành một âm thanh nghe khắc khoải lòng người và đang chờ đón một sự việc quan trọng sắp sửa diễn ra trong khoảng không gian tối đen chung quanh căn nhà. Bóng đen bước thật nhanh nhẹn vào cửa sau, rón rén nép mình bên miếng ván, hơi thở hắn đập liên hồi nhưng cố gắng tối đa không phát ra tiếng động. Cứ như thế, ba phút rồi năm phút trôi qua, tiếng nước thoát ra từ chiếc gầu rơi đều đặn trên một bức tượng biết cảm nhận những gì mà tạo hóa ban cho. Một luồng gió mạnh thổi đến xuyên qua những khe vách và chiếc màn bật tung lên để lộ ra một tác phẩm tuyệt vời dưới ánh trăng…Qua kẽ hở nhìn vào và như cưỡng không nổi, hắn nhào tới ôm lấy trọn thân thể nàng. Thật quá bất ngờ, Hạnh la thất thanh và với bản năng tự vệ, nàng vùng vẫy bằng mọi cách xô đẩy ra khỏi vòng tay của hắn. Hạnh cào cấu trên gương mặt đầy nhướm máu của hắn. Hắn như điên cuồng không con biết đau đớn là gì, một phần do sự ham muốn cùng cực qua những cốc bia từ ban chiều không thể thiếu trong và sau mỗi tiệc nhậu, một phần vì quá yêu thầm trộm nhớ nàng từ lâu. Hắn hôn tứ tung trên mặt, trên cổ nàng và rồi môi của hắn dán chặt vào nàng. Mùi hơi rượu tỏa khắp làm Hạnh muốn buồn nôn, ghê sợ. Hắn vừa ôm vừa thều thào nói với nàng rằng đừng sợ gì cả, anh thương em mà. Hạnh muốn la thật lớn để mọi người đến tiếp cứu, nhưng vì quá đột ngột và sợ hãi, lưỡi nàng như ríu lại không bật thành tiếng. Môi của hắn bắt đầu dán chặt vào môi của nàng. Hạnh mím môi lại và không muốn để hắn tiến xa hơn nữa. Đột nhiên hắn la lên úi chà một tiếng thật lớn, đẩy Hạnh văng ra xa. Hắn xuýt xoa gào thét như con lợn bị thọc tiết. Một miếng môi trên của hắn còn trong hàm răng của nàng. Đến giờ phút này, nàng vẫn chưa hoàn hồn ngồi chết lặng trên sàn gỗ. Nhưng rồi cơn đau vẫn phải nhường bước bởi dục vọng chất chứa lâu ngày, hắn lại nhào tới một lần nữa, với phản ứng tự nhiên, Hạnh đưa tay xuờ xoạng chung quanh tìm kiếm một vật gì đó để chống đỡ tự vệ… Máu của hắn tuôn ra thành vòi từ trên ngưc trái loang lỗ tung tóe trên sàn phòng tắm. Hắn đã chết bởi cái vít mà nàng vô tình vớ được của bác thợ mộc ở cạnh nhà để quên hồi ban chiều khi qua sửa chữa dùm phòng tắm bị ngã đổ qua cơn giông hai ngày hôm trước. Hạnh đẩy thật mạnh hắn ngã bật về phía trước, sau khoảnh khắc hoàn hồn trở lại và mặc vội quần áo vào…Nàng ôm đầu thổn thức khóc cho số phận của mình. Nàng ôm đứa con vào lòng trong tiếng khóc nấc nghẹn vì tiếng gào thét của mẹ và tên dâm tặc cùng những khua động ồn ào vừa xảy ra trước đó. Nàng tủi thân. Nàng thấy không còn xứng đáng để sống, để chờ ngày bố của Út trở về. Nàng cảm thấy nhơ nhuốc dưới bàn tay thô bạo của hắn. Sau đó, Hạnh quyết định viết vài hàng trên trang giấy nhỏ trình bày sự việc xảy ra cùng gởi gấm Út cho bác Năm rồi cắn lưỡi tự kêt liễu đời mình vì bị làm nhục và quá xấu hổ bên cạnh đứa con còn nằm trên nôi. Đám tang Hạnh được bà con trong xóm giúp đỡ tổ chức thật lớn và trang trọng bên gốc cây xoài sau nhà mà ngày nào căp vợ chồng mới cưới cũng như mỗi lần Ngọc về phép thường ngồi bên nhau rất lâu đến tận khi vầng trăng bắt đầu rọi xuống vạn vật một màu sáng ngà…
Hắn cũng đươc chôn cất thật long trọng bởi cơ quan chính quyền sở tại. Hắn không ai khác chính là thằng Tư Lùn du thủ du thực ở trong xóm dạo nào và bây giờ trở thành Chính Trị Viên…
Hai bà cháu ôm nhau khóc thật lâu sau khi bác Năm chấm dứt câu chuyện tang thương đó. Út uất nghẹn theo từng tiếng nấc. Nàng cứ để mặc cho hai hàng nước mắt rơi rớt tả tơi xuống chiếc áo ngủ mà bác Năm may cho nàng. Đáng lý bác Năm muốn giấu chuyện này không kể cho Út nghe, nhưng không hiểu sao bác lại “bật mí” và nói với nàng rằng “nội- ngày cũng như đêm lúc nào cũng cầu nguyện Ơn Trên cho con, cũng mong bố mẹ của con che chở cho vợ chồng con được hạnh phúc như mọi người…”
Viết xong vào đêm Giáng Sinh 2004.