KẺ PHONG SƯƠNG...

Chương VI (Thuở hàn vi)
RẼ NGẢ

Năm 1967, cuộc chiến tranh vẫn tiếp diễn ngày một ác liệt hơn, tạo ra bao đau thương tang tóc, cướp đi bao nhiêu sinh mạng con người. Xã hội loạn lạc, lúc nào bầu trời cũng trùm lên một màu đen chết chốc, tù đày. Hàng vạn gia đình khốn khổ, lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Lúc này gia đình vợ chồng ông ấy chuyển về Dầu Giây, tiếp tục làm ăn sinh sống.

Chú bé Phong Trần chưa tròn bảy tuổi, một cái tuổi mà mọi vấn đề xã hội chưa hề biết, vậy mà phải tiếp tục chịu đựng, những nghiệt ngã đang chờ chú bé, phải xông pha bươn chãi khi còn nằm nôi. Đường đời không mấy lặng yên, gia đình chú bé từ đây lâm vào tình cảnh tan đàn sẩy nghé, chia ly mỗi người một ngả. Cha mẹ chú bé thì chọn nhà tù làm chỗ nương thân, chị hai chú bé xong pha bước vào tuyến lửa, anh ba chú bé đeo đuổi theo chú sống ở Cam ranh, chị tư chú bé buôn ba ở đợ khắp nơi, còn anh năm chú bé và chú bé phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Trên thân mình anh em chú bé chưa bao giờ có được những mảnh vải che thân lành lặn, không được bữa ăn no bụng. Lang thang nay đây, mai đó đi đâu cũng bị loài người từ chối, nên đành phải chấp nhận cảnh sống với bom mìn và muôn thú. Trên thân thể không còn chổ nào lành lặn, ghẻ lở mọc đầy thân thể.

Ban đầu đi lượm ve chai, một công việc cực kỳ nguy hiểm trong thời chiến tranh, có lần lượm cả ngòi nổ của bom đạn đi bán vì nhỏ không biết, sau đó nhờ các nhà thu mua nói cho mới biết. Việc mót lúa, mót khoai, mót sắn là nghề của hai chàng nhỏ. Việc bắn chim bằng nạng-ná, đơm sóc, bắt thú như đã tôi luyện từ bao đời. Việc vào rừng hái cây “chùm gởi” và nhựa chai rất thành thạo. Việc đi ăn xin là chuyện cơm bữa, có ngày chúng đi bộ hàng vài chục km. Đôi bàn chân trần chai sạn dày như mo cau, trên đầu không bao giờ có nón mủ, đi dưới mưa, dưới nắng, dưới bom, dưới dạn mà vẫn cứ sống.

Hai anh em chú bé đã đi qua nhiều nơi ở miền đông nam bộ, đi đâu nó cũng gặp những thương đau, qua đâu cũng để lại nhiều kỷ niệm, bất cứ chỗ nào chúng nó cũng quen thuộc, chổ nào cũng quê hương, chổ nào cũng mang những dấu ấn khó quên.

Ngày nay, trên các vách nhà kho, nhà ga và nơi công cộng nếu ai để ý thì cũng còn nhìn thấy những đấu ấn quậy phá khắc lên những bức tường hay thân cây cổ thụ. Vậy mà tại sao chúng vẫn sống được trong thời ly loạn ấy!?...Có lẽ đó là số kiếp và ý trời.

Mùa hè 1967, anh em chú bé tá túc tại một vựa trái cây ở Dầu giây, cạnh ấp chiến lược ngay đầu cổng vào ấp Phan Bội Châu, là một lều tranh nhỏ ở trong có lá chuối và rơm khô, những thứ đó cũng đủ ấm cho hai thân trần qua hàng đêm dài lạnh buốt. Thường là gà chưa gáy sáng chúng nó phải thức dậy, nhường chổ lại cho những người thu mua trái cây đi bán ở Sài gòn, thế là chúng nó phải rời nơi ấy, cứ đi, đi mãi cho đến khi trời sáng.

Hàng ngày, trên vai hai anh em nó lúc nào cũng quảy cái bao cát rách, một tay níu miệng chiếc bao khệ nệ, một tay thì cầm cây sắt nhọn chỉa từng bọc nilon. Lúc thì lom khon nhặt từng mảnh vỡ ve chai, lúc thì luồn qua cống rãnh, hàng rào nhặt những thứ có thể nhặt, còn bán được hay không thì về tới vựa ve chai mới biết. Nhặt được những bao cát chúng mừng nhất, coi như được một vật hộ thân vậy. Mỗi lần nhặt được anh em chúng như vừa thêm được một tài sản quý gía cuộc đời, đem về giặt sạch sẽ xếp cất hẳn hoi...

Anh em nó tá túc nơi này chủ yếu là ban đêm, còn ban ngày phải vật lộn với đời bất cứ nơi nào có thể. Cuộc sống ban đêm trong thời chiến, với hoàn cảnh như vậy thì coi như cách biệt với xã hội loài người còn gì. Mơ mãi cũng không có lấy một bạn nhỏ để chơi đùa tâm sự, chia sẻ với nhau trong cảnh đời đen bạc. Tội thằng anh nó lắm, hàng đêm trong mái lều tranh vắng lạnh, hoang vu dưới ngọn đèn đầu tự chế bằng lon sữa bò leo lét. Một mình vừa lo cho thằng em có giấc ngủ ngon, vừa tháo các bao cát ra, rồi lấy chính những sợi chỉ của nó kết các mảnh bao cát lại làm chăn đắp, làm khố che thân. Chú bé còn nhỏ không biết gì, chỉ biết mình có những chiếc khố quấn sẳn trên người khi thức dậy mà thôi. Có lần anh chú bé kết cho chú bé một cái quần đùi, chú bé mừng lắm và rất hãnh diện về điều đó.

Đến mùa cao su rụng hạt, hai anh em chú bé chuyển nghề đi lượm hạt cao su bán, anh em họ cũng không biết một kg bán được bao nhiêu nữa, chỉ biết lượm bán có tiền mà thôi. Lúc này những mảnh khố quấn quanh người rách tả tơi, còn cái quần đùi có thêm năm bảy cái túm buộc bằng dây thun, chúng mải mê đi lượm lặt, không có thúng mủng, cho nên khi lượm hạt cao su phải vén khố lên làm túi, rồi nhặt từng hạt đựng vào đó. Nhặt được nhiều nhưng đem đến nơi cất giữ chẳng được bao nhiêu, vì khố rách làm rơi vãi dọc đường gần hết, cứ như vậy hai con "dã tràng xe hạt cao su", miệt mài đến chiều tối cũng được một đóng kha khá, quá nan giải phải không?

Trời tối hồi nào không hay, hai anh em nó đói rã rời, khát nước khô cả cổ nhưng không dám về nơi ẩn náu, vì sợ vướng mìn, cho nên đành ôm nhau nằm bên đóng hạt cao su chờ trời sáng. Cái đêm kẹt lại giữa rừng là một kinh hoàng đối với chúng. Xa xa những phát pháo sáng bắn lên đì đùng, ánh sáng trắng lóe mắt trùm lên rừng cao su chói chang, từ từ gọi xuống làm di chuyển các bóng cây như chúng biết đi, sau đó tắt lịm để lại bầu trời đen ngòm rờn rợn. Tiếp theo tiếng pháo kích ầm ầm, ran trời lở đất, điếc tai nơi nào đó không xác định được, từng hồi, từng hồi rồi kết thúc, dứt tiếng pháo kích rừng lại im lặng đến rợn người.

Dưới làn gió đêm hoang vu lạnh gáy, tiếng chim cú kêu, tiếng côn trùng muôn ngàn âm thanh trộn lại, tiếng muỗi vo ve rì rào như cả đàn ong. Vừa sợ, vừa lạnh nên chú bé bị sốt cao, anh chú bé cũng còn quá nhỏ cho nên cũng không biết phải lo cho nó như thế nào, như vậy thì chỉ còn cách mặc cho số phận thôi, suốt đêm anh nó thức trắng, còn nó ngất và thiếp đi trong vòng tay của anh nó cho đến khi trời sáng.
-Dậy em, trời sáng rồi em nằm đây anh vào làng kêu người bán hạt cao su và kiếm "cái gì đó" cho em ăn nhé!
Nói xong anh nó buông nó ra, để đầu nó tựa trên đóng hạt cao su, nhẹ nhàng rút tay ra, hơi ấm trong vòng tay anh ấy lúc này được thay vào cái lạnh tê tái của buổi sáng đầy sương, mắt nó lờ đờ nhìn thấy một khoảng trời trắng xát, tai mơ màng nghe tiếng hạt cao su tuôn xuống phủ lên đầu, rồi nó thiếp đi một lần nữa hồi nào không biết.

Khi anh nó quay về cầm trên tay một củ mì nướng, một lon sữa bò nước mưa của nhà ai đó, đưa cho nó và bảo nó ăn đi kẻo đói trong tiếng nói ngập ngừng, rưng rưng nước mắt mặt buồn hiu. Thế là nó đã hiểu điều gì đã xảy ra với anh nó rồi, vì cuộc sống đã dạy cho anh em nó một cảm nghĩ mà chỉ có ai nằm trong hoàn cảnh đó mới hiểu được thôi. Anh nó muốn nói thêm điều gì nữa nhưng do uất ức không thốt ra lời, đành ôm chầm vào nó khóc nức nở, thét gào giữa rừng cao su bạc ngàn gió buốt. Tiếng vọng vang xa, xa mãi lan truyền về nơi chân trời thăm thẳm, không biết nơi đó cha mẹ, anh chi nó có nghe thấy được gì không!?
Thoạt nhiên anh nó nín lặng, cắn chặt răng nuốt chửng tiếng nấc nghẹn ngào, đưa tay lên lau nước mắt gường gượng nhẹ nói:
-Ông chủ không vào đây mua vì sợ VC, còn mình thì làm sao đem ra đó được, thôi anh em mình đi!

(Vâng! Với hai thân gầy bé bỏng của chúng nó thì làm sao làm được chuyện lớn lao như thế cơ chứ!?) Nói xong, anh nó ngồi xuống cõng xóc nó trên lưng, đứng dậy, xóc nẩy một cái nữa, cho nó níu chặt vào lưng, rồi anh nó lầm lỳ cứ như vậy tiến thẳng vào chân trời bất tận...

Còn tiếp…


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả