Song Nhị
[ Thi Hữu | Nhắn Tin]


Từ Dòng Sông Trặng thơ Tuệ Nga

TỪ GIÒNG SÔNG TRĂNG
ĐỜI VÀ ĐẠO TRONG CÕI NHÂN SINH CỦA TUỆ NGA

Song Nhị

Trong văn học Trung Hoa, từ thời đại xa xưa, Chu Hy cho rằng “nhân chi sơ tính bản tĩnh”. Từ bản “tĩnh”, do cảm xúc của dục tính mà “tĩnh” chuyển sang “động”. Và một khi tâm đã động thì trí sẽ vận dụng đến suy tư, khi đã suy tư thì phải thốt lên bằng tiếng nói. Lời nói không đạt tới được cái tận cùng của cảm xúc nên sinh ra vịnh thán. Khi đã vịnh thán thì không thể không vận dụng đến tiết tấu tự nhiên từ mối rung động xốn xang... Và từ đó xuất hiện một thể tính cảm xúc. Người ta gọi đó là nguồn thơ.
Tất cả những người làm thơ đều có nguồn cảm xúc như nhau, giống nhau. Khác nhau là ở cái căn nguyên từ đối cảnh, đối tình của mối rung động. Nguồn cảm xúc ấy vượt lên trên, không chỉ là một tâm sự tách bạch. Một bài được gọi là thơ, diễn đạt một tâm trạng chưa hẳn là một bài thơ, đó không phải là nguồn thơ. Nguồn thơ là giòng chảy mênh mông bất tận, dẫu cho đến khi cuộc sống có mỏi mòn, thể xác kia có già nua thì nguồn thơ vẫn không tàn héo.
Tuệ Nga chưa hẳn đã đi tìm ngọn ngành của nguồn thơ như ý người xưa mà tôi vừa biện dẫn; Cũng không phải ngẫu nhiên để bà đặt tựa Từ Giòng Sông Trăng cho tập thơ này. Từ Giòng Sông Trăng là một tập hợp nhiều mối cảm xúc từ một nguồn thơ lai láng trong tâm hồn Tuệ Nga. Suốt chiều dọc “Từ Giòng Sông Trăng” nhà thơ trải lòng về Mẹ – một hình ảnh, một biểu tượng đẹp tự nhiên muôn thuở của nhân loại, nhất là đối với Á Đông, và với con người Việt Nam.
Mẹ - với Nhà thơ Tuệ Nga không còn trong phạm trù mẫu tử, Mẹ là vầng trăng vằng vặc, là đóa hoa tươi thắm, là làn hương thơm ngát, là thanh âm dịu ngọt:
Mẹ là trăng sáng, ơi trăng
Là hương hoa bưởi đêm rằm óng tơ
.........
À ơi tiếng mẹ ru hời
Tiếng ru ấm cả vùng trời hoa niên
(Sông Trăng Tình Mẹ)
Từ tình cảm mẫu tử thiêng liêng đằm thắm, dưới ngòi bút Tuệ Nga, mẹ đã hoá thân thành quê hương, hay đúng hơn quê hương đã hoá thân thành người mẹ, một sự đồng hóa chỉ có ở những tâm hồn dạt dào lòng yêu nước, yêu quê hương của mình. Với Tuệ Nga, hai hình ảnh – quê hương và mẹ đã hòa nhập thành một chủ thể cảm xúc trong tâm hồn nhà thơ: tình mẹ và tình quê. Mẹ và quê hương là một. Từ hình ảnh mẹ:
Dịu dàng - tiếng mẹ dịu dàng
Dịu dàng - tiếng mẹ chứa chan nghĩa tình
......
Dịu dàng hoa ngát mấy phương
Dịu dàng ơi những con đường thân quen
(Dịu dàng tiếng Mẹ)
đến hình ảnh quê hương:
Thơ tôi là những cụm ngâu
Ơi thơ là cả nỗi sầu quê xưa
Có chiều võng mẹ đong đưa
Có đêm trăng sáng gió lùa tầu cau
.........
Gió lùa ngọn cỏ hắt hiu
Mênh mông là nhớ ơi chiều quê xưa
Bài thơ lạc tứ bơ vơ
Về đâu nhung nhớ ơ hờ mây bay.
(Về Đâu Thương Nhớ)
Đọc những bài thơ Tuệ Nga nói về trăng, về quê, về mẹ mới thấy ở tâm hồn nhà thơ là cả một trời cảm xúc dạt dào, cả một nguồn cảm hoài lai láng về tình mẹ, về vầng trăng Việt nam, về con sông, về thành phố, về ruộng đồng: Bắc Ninh, Hà Nội, Huế, Sài Gòn... Từ nơi đây, trên quê người xứ lạ, nhà thơ chắt chiu từng hình ảnh, từng kỷ niệm để mà bâng khuâng, để mà hoài vọng:
Trăng ơi! Lòng vẫn mong chờ
Vầng trăng sáng rỡ đôi bờ quê hương.
(Quê Hương, Một Giòng Sông Trăng)
Từ hoài vọng đó nhà thơ ngồi soi rọi, nhìn vào tâm khảm để thấy, để biết mình có gì, còn gì và mong ước những gì:
Tôi ngồi đây mường tượng
Giòng sông ở quê nhà
(Ai Đi tìm Bản Ngã)
......
Chút gì cho nước cho non
Chút gì nghèn nghẹn đáy hồn bâng khuâng.
(Mùa Xuân Mơ Nắng Trời Viêỉt Nam)
để rồi tâm hồn ngập tràn nỗi nhớ:
Mưa rơi trong mảnh vườn con
Bỗng dưng lại nhớ nước non lạ lùng
Nhớ trời Hà Nội thu phong
Nhớ con phố nhỏ nắng hồng vương vương
(Nhớ Trời Hà Nội Thu Phong)
Như hầu hết những người Việt Nam lưu vong tỵ nạn, chưa một lần về thăm lại quê hương. Quê hương từ ngày
quay gót ra đi, đã bao lần ngoái nhìn về cố xứ, quê hương từ ngày “tiễn khách sầu xa quê”, “nhìn mây trời giăng mắc. Rừng xanh chắn nẻo về” hình như không bao giờ vơi nguôi trong đoái tưởng của nhà thơ.
Tại sao tác giả lại lấy hình ảnh rừng xanh để gán cho là thủ phạm ngăn chặn nẻo về của những người con lưu lạc? Rừng xanh là gì? Nếu không phải là ẩn dụ một quê hương còn nhiều nghịch lý, bất trắc, còn những tráo trở, bất an, chưa đủ an toàn cho một ngày sum họp hoan ca. Trong tâm hồn nhà thơ ước vọng một ngày về vẫn là “Nửa đời cơn mộng huyễn. Tuyết sương chắn nẻo về” (Vầng Trăng Cổ Độ), và cứ như thế quê hương và ngày về như một ray rứt, một ám ảnh không rời:
Trên dốc mòn năm tháng
Ai thấy cánh hoa lê
Trắng ngần trong tiềm thức
Rồi mơ một ngày về
(Em Đón Xuân Có Nhớ)
......
Mây ơi đừng chắn nẻo về
Bài thơ thả gió vô đề buồn tênh.
(Nhớ Trời Hà Nội Thu Phong)
Băn khoăn với những gì có hôm qua, với những gì mất hôm nay, thời gian và lẽ biến thiên của cuộc nhân sinh tại thế - quê hương đã xa, tuổi trẻ đã mất, người Phật tử thuần thành Tuệ Nga quán triệt cái giả tạm, cái vô thường của cuộc nhân sinh, thơ không còn là tiếng buồn của muộn phiền, ủy mị:
Ru đời trong giấc chiêm bao
Ru tôi tiếng nhạc ngọt ngào âm thanh
(Vô Ngôn)
.......
Bâng khuâng mỏi bước luân hồi
Bài thơ thả gió lên trời, thơ vui
(Bài thơ thả gió lên trời)
Nhà thơ nhìn lại cuộc đời, nhìn vào lẽ đạo để thấy một
thực tại phản chiếu:
Trong gương ai đó phải mình
Cái thân giả tạm, cái hình phù du
(Ai Người Vách Núi Đề Thơ)
để rồi thấy lòng thanh thoát, an nhiên tự tại, “bởi đã hiểu đời là quán tạm” trên “một chuyến xe đời”, “một vòng tử sinh”, một “bữa tiệc đủ đầy vị chua vị ngọt”, và có đủ tiếng chim hót, có nắng ban mai - thuở rộn ràng của thuở đầu đời hoa mộng, cho đến ngày sau, chặng cuối, có tiếng vọng đại hồng chung ngân dài, gọi con người tìm về hài hòa an lạc...
Tuy không được phân định có chủ ý, nhưng đọc suốt tập Từ Giòng Sông Trăng, bạn đọc có thể dễ dàng nhìn ra ba chủ đề chính: Thơ viết về Mẹ, Thơ viết về Quê Hương và thơ viết về Tâm Đạo. Ba chủ đề, ba nội dung này có khi trộn lẫn, chan hòa, xen kẽ vào nhau, nhưng bạn sẽ dễ dàng nhìn thấy trong từng bài thơ, trong từng chương đoạn, dù không được sắp xếp rạch ròi.
Trong phần Thơ Đạo, Tuệ Nga không đi tìm nguyên khởi của Đạo mà từ Đạo, chứng nghiệm lẽ đạo vào cuộc nhân sinh, vào nhân duyên nghiệp quả để “ngộ” lẽ vô thường, từ đó phóng vào cuộc sinh tồn lẽ sắc không thanh thản.
Tuệ Nga đã có trên mười tập thơ xuất bản, trong đó tập SUỐI đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật cuả Văn Học Miền Nam năm 1974; có hàng mấy chục bài thơ được phổ nhạc; từng cộng tác với nhiều tờ báo, tâỉp san, tạp chí tại hải ngoại. Về kỹ thuật, tưởng chỉ với lời nhận xét sau đây của thi sĩ Hà Thượng Nhân về thơ Tuệ Nga: “từ ngữ thật giản dị nhưng thật tài tình”... là một đúc kết đầy đủ.
Song Nhị
San Jose, 4.2005








Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả