Bao Giờ Nguôi

Bao Giờ Nguôi

Hà Đan

Mùa đông năm ấy, hội người Việt ở cái thành phố lạnh nhất Canada này bận rộn với những hoạt động sửa soạn đón cái Tết tha hương thứ tám sau ngày miền Nam đổi chế độ.

Với dân số khoảng năm ngàn người Việt, những sinh hoạt cộng đồng là một điều không thể thiếu và hội đoàn là kết quả tự nhiên của những sinh họat đó. Sống nơi xứ sở mới, ngôn ngữ, phong tục, lối sống đều mới lạ, người ta cảm thấy lạc lõng nên khi có cơ hội là tìm đến với nhau để chia xẻ niềm vui, nỗi buồn với những người đồng hương của mình.

Tôi đến đây đã hơn hai tháng, đang dần dần làm quen với những sinh hoạt của cộng đồng người Việt và của Hội. Hội trưởng là anh Bích, một cựu quân nhân, chỉ có một thân một mình ở Canada, như hoàn cảnh của một số người khác. Có một điều về anh mà tôi còn nhớ mãi cho đến bây giờ, đó là anh không bao giờ nhắc tới gia đình, nên tôi không biết anh có những thân nhân nào còn ở lại Việt Nam, chỉ biết một cách rất mơ hồ là hình như anh cũng đã có gia đình trước khi qua đây. Tôi chưa hề nghe anh nói đến việc tìm cách giúp đỡ những thân nhân của anh còn ở lại, một việc mà hầu hết những người khác thường làm. Tôi nhận định rằng anh không phải là người ích kỷ không nghĩ tới người thân còn ở Việt Nam, và cũng không phải là người cố ý độc thân "by default" để dễ có những liên hệ tình cảm hơn. Trong sự cương quyết không tìm cách liên lạc giúp đỡ thân nhân, phản ảnh một lối nghĩ riêng của anh. Dường như đối với anh, việc tìm cách giúp đỡ hay liên lạc với thân nhân sẽ đưa đến những việc làm mà anh cho là có tính cách nhượng bộ đối với những kẻ thù bên kia chiến tuyến của anh. Một vài lần gợi chuyện về vợ con, cha mẹ, anh em của anh đều không đem lại kết quả nên tôi biết là anh coi đó là những điều anh muốn giữ cho riêng anh, và từ đó tôi không đả động đến nữa.

Phó hội trưởng là anh Nhân, một cựu đại uý. Anh Nhân cũng một thân một mình như anh Bích, nhưng có vẻ "bình thường" hơn anh Bích về phương diện tình cảm. Thỉnh thoảng anh nói đến vợ con và những thân nhân khác còn kẹt lại Việt Nam mà hồi đó, chỉ mới mấy năm sau ngày miền Nam mất, không ai dám hi vọng đoàn tụ. Cũng như anh Bích, chủ trương chống Cộng của anh cũng tỏ ra rất mạnh mẽ.

Tổng Thư Ký kiêm trưởng ban văn nghệ, kiêm trưởng ban báo chí của Hội là Trung, một người mà trước khi tôi đến, đảm trách nhiều việc từ trong ra ngoài cho Hội. Trong những dịp sinh hoạt cộng đồng quan trọng nhất trong năm như thế này, sự kiêm nhiệm của anh càng khiến anh bận rộn gấp bội.

Khi tôi đến, phần ngoại vụ được giao cho tôi, nên những vấn đề liên quan đến tài chính của hội, tài trợ của chính phủ, hoặc những vấn đề về tương quan giữa cộng đồng Việt và những cộng đồng khác, vấn đề liên lạc với báo chí, bây giờ do tôi phụ trách.

Bây giờ khi ngày họp mặt và nhạc hội cuối năm của cộng đồng đã gần kề, tôi lại giữ thêm vai trò MC, một vai trò mà tôi … thích hơn cả, vì mỗi tối, và nhất là mỗi cuối tuần, tôi lại đến Hội coi tập dượt văn nghệ để sửa soạn phần giới thiệu.

Chừng đó anh em, với sự giúp đỡ của các hội viên khác, có vô số việc phải làm cho cuộc họp mặt mừng Xuân: việc làm báo Xuân, việc tập dượt văn nghệ cho buổi nhạc hội Tết, việc phát hình hàng tuần trên đài truyền hình địa phương, việc tìm địa điểm cho buổi văn nghệ, việc mời quan khách, nhất là những nhân vật trong chính quyền hay giới chính trị đứng sau những tài trợ cho Hội, việc cung cấp các món ẩm thực cho buổi họp mặt, việc bán vé gây quĩ, v.v... Riêng việc phát hành tờ báo Xuân đúng đêm văn nghệ, cũng đòi hỏi rất nhiều thời giờ, thức khuya dậy sớm, đánh máy, trình bày, mời quảng cáo, v.v... cộng thêm những rắc rối phụ thuộc khác. Tác giả bài thơ này khiếu nại “tại sao bài thơ của em anh không đăng số Xuân mà định để dành cho số sau?”, ta’c giả bài viết kia phàn nàn “tại sao bài bình luận chính trị công phu như thế của tôi mà anh chặt chỗ này, bỏ chỗ kia chẳng còn ra cái hình thù gì?” v.v… Việc tổ chức trình diễn văn nghệ cũng gay go lắm. Thành lập ban nhạc, mua nhạc cụ, mời ca sĩ, giải quyê’t những xung đột phát xuất từ những tình cảm hỉ nộ ái ố thường lệ, cô này hờn vì chỉ được hát một bài, cô kia dỗi vì bị hát sau, cô khác vùng vằng doạ rút lui vì anh nhạc sĩ mà mình thích không chịu khẩy đờn cho mình mà lại cứ nhất định khẩy đờn cho cô ca sĩ khác, v.v... Việc nấu nướng những món ăn Việt Nam nếu không được sự hăng hái tận tình, nhưng âm thầm, của các chị em hội viên, thì đào đâu ra cả nghìn cái chả giò, bánh chưng, bánh cuốn, v.v... vì khi ấy chưa có tiệm ăn Việt Nam nào để đặt mua, ngoài mấy tiệm bánh cuốn, phở, cháo bán trong nhà, ai biết thì đến.

Thời gian đó tôi bận rộn lắm. Chiều đi làm về, ăn xong là chạy đến trụ sở Hội, không họp hành, cũng là việc dượt vai MC cùng ban văn nghệ, khuya về viết bài đăng báo Hội, hay bài đọc trên truyền hình. Ngay cả ban ngày lúc đi làm, vì là công chức, tôi cũng thỉnh thoảng xin nghỉ để lo việc Hội với lý do chính đáng là công tác liên quan đến vấn đề "đa văn hóa" đang được chính phủ cổ xúy lúc đó.

Những sinh hoạt đó đòi hỏi nhiều thì giờ và công sức, nhưng dường như bầu không khí đón Tết rất vui nhộn làm cho mọi người không cảm thấy mệt mỏi chút nào. Tôi cũng thế. Thức đêm thức hôm viết lách, sửa soạn những bài nói chuyện đâu có gì đáng kể so với cái thoả mãn tinh thần là hôm sau được xuất hiện trước đám đông, hay khán giả truyền hình nói nọ nói kia. Bỏ thì giờ ra sửa soạn cho phần giới thiệu văn nghệ trong vai trò MC cũng không nghĩa lý gì so với việc có cơ hội gần gũi các người đẹp ca sĩ, vừa được nghe hát, vừa được ngắm, vừa được nói chuyện, vừa được các nàng nhõng nhẽo. Cái phần thưởng hấp dẫn như vậy thì có xá gì một chút “thì giờ”! Rốt cuộc mình trở thành một celebrity, ra đường, mình không biết người ta, nhưng người biết mình ghé lại chào hỏi vui vẻ, thích lắm chứ. Và dĩ nhiên mình cũng phải đóng vai khiêm nhường cho đúng tác phong celebrity! Phần thưởng như vậy ai mà xá gì chút “thì giờ”, ai mà không hăng hái “phục vụ cộng đồng”. Vâng, lúc đó tôi vui lắm, hăng hái lắm vì được làm những việc mình thích.

Tôi tự hỏi những người khác có dịp tham dự những sinh hoạt cộng đồng có cảm thấy như tôi không? Họ mãn nguyện thuần túy vì thấy mình làm những công việc hữu ích cho cộng đồng, hay mãn nguyện vì lòng tự ái được thỏa mãn? Có phải lòng ham danh là điều tự nhiên đối với mọi người, dù chỉ là cái danh trong một cái cộng đồng nho nhỏ? Cái danh là sự nhận diện mà người ta dành cho mình trong đám đông, nó có phải là động lực cho những sinh họat cộng đồng hay không? Thật khó mà phân biệt được lòng ham danh và tinh thần vị tha, phục vụ cộng đồng. Những danh từ cao quí đó chỉ đáng được dành cho một thiểu số người, thường được người ta lạm dụng như một thứ áo choàng đẹp đẽ để choàng lên vai những người cùng phe nhóm với mình. Phe ta cao quí thì ta cũng thơm lây.

Trong những tường trình về hoạt động của Hội, anh chủ tịch Bích bao giờ cũng liệt kê các thành tích của Hội và những đóng góp tích cực của các anh em trong Ban Chấp Hành. Dĩ nhiên là anh Bích “tụng” họ rất kỹ. Riêng dành cho tôi thì ôi thôi đủ những lời khen nghe còn khóai cho đến hai mươi mấy năm sau. Qua những lời khen đó, tôi là một Trưởng Ban Ngoại Vụ trẻ tuổi, tận tụy với cộng đồng, không ngại bỏ thì giờ quí báu làm việc Hội, và có đủ những đức tính hiếm hoi của một người vi nghĩa quên mình.

Người ta thường ca tụng lẫn nhau khi người ta cùng thuộc về một nhóm thân hữu, như một nhu cầu đoàn kết, nhu cầu sống còn. Người trong một nước bắt buộc phải “tụng nhau”, nâng tinh thần nhau để chống ngoại xâm, đảng viên của một đảng chính trị “tụng nhau” để dành phần thắng đối với đảng đối lập, một đám con nít cùng xóm “tụng nhau”, bênh nhau, đánh lộn với bọn con nít xóm khác.

Điều sai quấy mà những hội đoàn thường phạm phải phát sinh từ đầu óc thiển cận, hẹp hòi của những người hoặc bất tài, hoặc vô đức, hoặc vừa bất tài vừa vô đức, nhưng cũng đua chen làm lãnh tụ. Có người làm lãnh tụ vì chính họ biết nắm lấy cơ hội thuận tiện, nhưng cũng có người may mắn hơn, cơ hội được đặt trên đĩa vàng đưa đến cho họ, lá cờ được đưa đến tận tay họ nhờ họ phất. Nhưng dù là ngườI biết nắm cơ hội, hay cơ hội đến với họ vì may mắn, họ quên rằng ngoài họ ra còn biết bao nhiêu người có khả năng khác cũng có thể làm được những việc y như việc họ đang làm. Họ tự cách biệt họ, không dám đón nhận những người còn đứng ngoài vào hợp tác, hay không dám tạo cơ hội cho sự hợp tác có cơ hội nảy mầm, không vươn ra đón lấy những nhân tài mới, chỉ vì sợ phải chia chác cái danh nhỏ bé với người khác. Họat động trên căn bản tự mãn, tự cho là mình bất khả bại, không sớm thì muộn sẽ thất bại.

Ngay cả rất nhiều nhà tu hành đạo đức cũng không thóat khỏi nghiệp chướng, để cho cái bản ngã tầm thường, lòng tự ái chế ngự mình. Một vị sư hay một linh mục dạy những Phật tử hay con chiên phải chế ngự lòng sân si, ích kỷ, chính họ rất thường rơi vào vòng sân si ích kỷ không khác gì những tín đồ của họ. Có khác chăng là khác về đề tài, khác về mục tiêu. Có vị tu hành nào chịu để cho một vị tu hành kha’c qua mặt mình, bác bỏ lý thuyết của mình một cách trực tiếp hay gián tiếp. Chấp nhận sự chỉ trích của một vị tu hành khác, có khác nào chấp nhận đạo lý của mình chưa đạt, có khác nào xui tín đồ mình đi tìm thày khác. Mất tín đồ thì còn đâu là thày tu? Thế là thay vì hướng dẫn tín đồ, các ngài quay ra “choảng” nhau để chứng minh là mình đúng, “nó” sai. Dạy cho người khác những điều cao đẹp rất dễ khi chính mình không bị ràng buộc, bủa vây bởi hoàn cảnh như người đó.

Muốn đoàn thể của mình thành công và và tồn tại lâu dài, không phải chỉ không gây thù chuốc óan với người khác là đủ, mà cần phải biết nhìn xa, tức là biết mở rộng vòng tay đón nhận những người còn đứng bên ngoài vào. Phải đón nhận với sự cởi mở thành thật để ngườI gia nhập thực sự cảm thấy tiếng nói của họ được nghe. Càng nhiều người gia nhập càng làm giảm đi cơ hội cho những người đứng ngoài trở thành đố kỵ, ganh ghét, rồi chống phá và cuối cùng thành kẻ thù. Người ta đố kỵ, ganh ghét vì đoàn thể không biểu lộ được tinh thần cởi mở, mà chỉ tỏ ra phục vụ những nhu cầu cá nhân của những người trong nhóm. Sự cởi mở đón nhận người ngoài hợp tác cần phải làm trong lúc đoàn thể mình đang mạnh mẽ, chứ không phải đến lúc nó đang dãy chết mới cố gắng kêu gọi người ngoài tham dự. Việc làm trong lúc tuyệt vong, với hi vọng đảo ngược tình thế, khó gấp trăm lần lúc đoàn thể còn đang mạnh, và có khi quá muộn để đem lại một thay đổi khả quan.

Một năm trước, khi tôi chưa đến thành phố này, nơi thành phố tôi ở, các Phật tử người Việt họp lại thành lập Hội Phật Giáo, chung nhau đóng góp để thuê, rồi mua một ngôi nhà nhỏ làm niệm phật đường cho Phật tử đồng hương. Hội và Niệm Phật Đường chỉ mới thành lập được mấy tháng, người đại diện cho một giáo đường lớn trong thành phố gửi người tìm đến Hội Phật Giáo của chúng tôi, xin được tìm hiểu về Phật Giáo. Họ mời Hội gửi người đại diện đến nói chuyện về vài khía cạnh của đạo Phật tại một buổi giảng giáo lý Thiên Chúa giáo. Một trong những khía cạnh mà họ muốn tìm hiểu là sinh hoạt trong đời sống thường ngày của một người theo đạo Phật. Tôi còn nhớ, câu hỏi rất cụ thể của họ là: “What did it feel like growing up in a Buddhist family?”. Tôi đại diện Hội, sửa soạn bài nói chuyện về đề tài đó, đến dự buổi họp mặt của họ. Bài nói chuyện chỉ là những câu chuyện phiếm dài nửa giờ, nhưng họ tỏ ra chăm chú nghe và nêu nhiều câu hỏi.

Sau buổi nói chuyện, tôi ra về trong lòng cảm phục sự cởi mở, sự nhìn xa thấy rộng của họ trong việc quảng bá đạo giáo của họ. Họ làm vậy có phải vì họ thấy sự sống còn của tôn giáo của họ đang bị đe doạ hay không? Dĩ nhiên là không, tín ngưỡng của họ rất mạnh mẽ, nhưng họ vẫn phóng tầm nhìn thật xa để tìm hiểu về một đạo giáo xa lạ đối với họ. Có lẽ tinh thần cởi mở và sự biết nhìn xa đó chính là lý do cho sự bền vững của tôn giáo họ. Tôn giáo thường đòi hỏi lòng tin tưởng tuyệt đối, tránh xa những giáo điều của tôn giáo khác, vậy mà họ không ngần ngại cho những tín hữu của họ có dịp nghe những điều thuộc về tôn giáo khác, hiển nhiên họ có cái nhìn xa, và tinh thần rất cởi mở.

Trong khi đó, những đoàn thể của cộng đồng ngườI Việt, còn trong giai đoạn phôi thai, đã tỏ ra không biết lợi dụng sự nhộn nhịp, hăng hái, tinh thần đang lên cao của các thành viên để thu nạp ngườI tài vào hợp tác, ngược lại để cho lòng hẹp hòi, ích kỷ, tự mãn chế ngự sinh hoạt của đoàn thể. Chính vì vậy đoàn thể này, tổ chức kia mọc lên như nấm chỉ để phục vụ nhu cầu, hay quyền lợi, hay vui thú của một nhóm nhỏ bất tài, chẳng đem lại lợi ích thiết thực nào cho đa số.

Tết năm đó là giai đoạn cực thịnh của Hội, và theo tôi, chính là lúc Hội cần cởi mở để thêm hội viên và tạo uy tín cho Hội, nhưng tiếc rằng sự hẹp hòi của các anh em khác trong ban Chấp Hành khiến cho những lực chống đối càng ngày càng tạo thêm khó khăn cho Hội, dù không đủ để làm Hội tan rã, nhưng cũng đủ khiến Hội không đạt được thành quả tốt đẹp hơn. Không những thế, giữa những người trong ban Chấp Hành cũng xảy ra những xung đột nội bộ phát sinh từ lòng tự ái, thiển cận, khiến cho sinh hoạt trở nên bện hoạn, không tiến xa được, chỉ dậm chân tại chỗ.

Quay lại với cuộc chuẩn bị mừng Xuân năm đó, một chiều thứ Bảy, tôi đến văn phòng Hội để coi ban văn nghệ hát và tập kịch. Trụ Sở Hội là một apartment lớn trong một building cũ kỹ bốn tầng, trong đó toàn là những gia đình Việt Nam. Tôi đi xuyên qua phòng khách, nơi trưng bày lá cờ ba sọc đỏ trên tường, và những hình ảnh sinh hoạt hội của những năm qua, và cũng là nơi đặt bàn giấy của anh Bích, và đi vào phòng rất lớn bên trong, nơi được dùng để tập văn nghệ. Đi ngang một phòng khác, được dùng làm studio cho anh chàng hoạ sĩ trẻ của Hội, tôi dừng lại khi thấy anh chàng đang ngắm nghía bức tranh vẽ dở, cọ trên tay, áo quần lem luốc, dụng cụ vẽ nằm bừa bãi trên sàn nhà. Tôi nhìn bức tranh một người con gái đang thành hình, hỏi:

- Vẽ ai vậy Hồ?

Hồ quay lại:

- A, tôi đang vẽ Trâm.

- Trâm là ai?

Hồ mỉm cười:

- Trâm có hai em nữa, và cả ba chị em là ca sĩ trong ban văn nghệ. Cô ấy không hay đến Hội nên anh chưa gặp.

- Hôm nay cô ấy có đến không?

- Có, đang hát phía bên kia, hồi nãy mới ngồi đây làm người mẫu cho tôi vẽ. Tôi dùng hình để vẽ, nhưng cũng cần cô ấy ngồi để tôi thêm vào những nét không có trong hình.

Vừa nói, Hồ vừa chỉ vào một bức hình 3x5 gắn trên đầu khung vải. Tôi đến gần nhìn vào chân dung người con gái có mái tóc ngang vai, xinh, hiền, cặp môi như hờn giận. Ý nghĩ đó thoáng qua trong đầu tôi. Hồ là hoạ sĩ và là nhân vật then chốt trong vấn đề trang hoàng sân khấu và vẽ phông cảnh trong những dịp lễ như thế này. Anh ta cũng là một trong những tay đàn guitar trong ban nhạc của Hội. Hôm nay chàng nghệ sĩ này tạm gác công việc làm phông cho mấy màn nhạc cảnh, và vẽ những khẩu hiệu mừng Xuân, để chăm chú vào việc hoàn thành bức hoạ, một việc chắc chắn là thú vị hơn nhiều! Dầu sao, anh chàng cũng gây cho tôi một chút tò mò muốn biết người con gái này như thế nào. Tôi để Hồ tiếp tục với bức hoạ của anh quay ra, vừa lúc anh Bích từ ngoài cửa đi vào. Anh Bích nói với tôi:

- Anh Huy à, tôi phôn anh từ sáng đến giờ mà không được. Ông Parker sẽ đến họp với mình chút nữa đây lúc 3 giờ thay vì ngày mai, như đã định. May quá, anh có ở đây.

Tôi đáp:

- Vậy cũng được. Hôm nọ tôi đã đưa anh một copy của tập đơn xin trợ cấp, trong đó có phần tóm lược về những sinh hoạt phù hợp với mục đích của chương trình tài trợ văn hoá của chính phủ. Ngoài ra tôi cũng đã đính kèm một bản budget giản dị của Hội theo đòi hỏi của họ. Thực ra họ chỉ đòi cho có lệ để cho đầy đủ hồ sơ, chứ thế nào họ cũng chấp nhận. Cuộc họp hôm nay chỉ để cho ông ta có cơ hội duyệt qua những điều khoản trong đơn của mình cho đúng tiêu chuẩn tài trợ. Anh có sẵn hồ sơ đó không?

- Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng rồi. Anh Nhân cũng sắp đến, anh Trung thì đã ở đây rồi, đang điều khiển phần tập dượt văn nghệ trong kia.

Anh Bích và tôi ngồi nói chuyện ngoài phòng khách, trong lúc chờ đợi ông Parker, đại diện cho Bộ Di Dân của chính phủ liên bang đến. Thời gian đó chính phủ liên bang do đảng Tự Do nă‘m quyền, và ông Bộ Trưởng Di Dân Liên Bang lại sinh trưởng tại thành phố này nên ông ta hay tài trợ một ca’ch rộng rãi cho ca’c đoàn thể văn hoa’ sinh hoạt trong tỉnh này, trong số đó có Hội NgườI Việt. Ngoài những chương trình tài trợ liên bang, năm nay là năm bầu cử của tỉnh, nên chính phủ tỉnh đương thời cũng rất chú tâm làm vừa lòng các hội đoàn. Hội người Việt tận dụng những cơ hội về tài trợ của chính phủ thuộc đủ tầng lớp, từ liên bang đến tỉnh, đến thành phố, để có tiền điều hành Hội. Điều kiện tiên quyết là các hoạt đông phải có tính cách văn hoá, tuyệt đối không được liên quan đến chính trị. Chúng tôi ai cũng biết điều đó, và dĩ nhiên Hội không phải là một đoàn thể chính trị, hay đảng phái. Tuy nhiên, giữa ngườI Việt với nhau, chủ trương chính trị của Hội tất nhiên là chống cộng.

Anh Nhân và anh Trung cũng lần lượt vào và không lâu sau đó, ông Parker đến. Chúng tôi giới thiệu nhau và bắt đầu bàn với ông ta về những điều khoản trong tập đơn xin trợ cấp tài chánh.

Anh Bích nói tóm lược về hoạt động của Hội và những mục tiêu mà Hội hi vọng đạt được trong năm mới rồi nhường cho tôi đi vào chi tiết những yêu cầu của chúng tôi.

- Như ông thấy, số đồng bào của chúng tôi đến thành phố này càng ngày càng đông, và Hội chúng tôi cũng càng ngày càng bành trướng với những hội viên mới. Hội là nơi các đồng bào của chúng tôi tìm đến ngay sau khi đặt chân đến xứ sở mới này. Mặc dầu chính phủ có những cơ quan chuyên lo cho những người mới đến, nhưng những người đồng hương mới của chúng tôi vẫn cảm thấy thoải mái hơn khi nhận được sự tương trợ chủa Hội chúng tôi. Chính phủ giúp đỡ họ về mặt tài chánh, chúng tôi giúp đỡ họ về mặt tinh thần, tương trợ lẫn nhau, làm cho việc hội nhập vào xã hội mới được dễ dàng hơn.

Tôi cười và nói tiếp:

- Mới hôm qua, tôi được một cặp cô dâu, chú rể mới yêu cầu đứng làm ... chủ hôn cho hôn lễ của họ, mặc dù tôi cũng chỉ ngang tuổi cô dâu chú rể! Thật là cảm động vì đó là một bằng chứng cụ thể về lòng tin cậy và quí mến của những người đồng hương dành cho Hội chúng tôi. Để đi thẳng vào vấn đề, Hội chúng tôi dự định sẽ tìm một trụ sở mới rộng rãi hơn và thuận tiện hơn cho phù hợp với những nhu cầu mới về dịch vụ chúng tôi cung cấp cho cộng đồng. Tiền thuê trụ sở mới chắc chắn sẽ cao hơn và đó là một trong những lý do chúng tôi yêu cầu chính phủ tài trợ thêm. Khoản thứ hai là vấn đề dạy tiếng Anh cho các đồng bào ngay tại trụ sở Hội. Chúng tôi mong muốn là việc này sẽ tiếp tục được tài trợ như hiện thời. Bầu không khí thân quen của Hội khiến cho học viên thấy dễ chịu và học hành hăng hái hơn. Những điều yêu cầu khác cũng quan trọng không kém, đó là việc trang bị cho Hội một ban nhạc để phát huy văn hoá Việt Nam. Hiện thời chúng tôi phải nhờ nơi thiện chí của những người tình nguyện, và ban nhạc phải dùng nhạc cụ của chính các thành viên mang đến, hoặc thuê với giá đắt. Chúng tôi yêu cầu tài trợ để trang bị cho ban nhạc những nhạc cụ cần thiết. Các bạn trẻ sẽ có cơ hội họp mặt sinh họat văn nghệ tại trụ sở Hội để vừa giải trí hữu ích vừa đóng góp vào việc bảo tồn văn hoá Việt Nam.

Sau khi tôi nói xong, ông Parker lên tiếng:

- Tôi rất đồng ý với anh về vai trò quan trọng của Hội Người Việt và những khoản đề nghị trong tập đơn hầu hết đều phù hợp với mục tiêu của chương trình tài trợ. Vấn đề trang bị cho ban nhạc có phần hơi gương ép, tuy nhiên tôi sẽ thuyết phục cấp trên của tôi về tính cách đặc biệt quan trọng của những hoạt động văn nghệ của Hội Người Việt. Hội cũng có thể được coi là một trung tâm cộng đồng cho những người trẻ lui tới sinh họat. Tôi tin rằng, ngân khoản tài trợ sẽ được chấp thuận.

Ông ta ngưng lại một chút rồi tiếp:

- Hôm nay tôi đến đây còn vì một lý do khác nữa. Chính vì tính cách khá khẩn cấp của sự việc mà tôi đã yêu cầu các ông họp với tôi sớm hơn, thay vì ngày mai.

Anh Bích và tôi nhìn nhau và chúng tôi cũng dường như đã đoán ra lý do đó. Cái lý do mà người đại diện chính quyền này sắp nêu ra chắc chắn có liên quan đến một nhóm nhỏ gồm một số cựu quân nhân, trước đây cũng là thành viên ban Chấp Hành của Hội, hoặc vẫn lui tới Hội, bây giờ tách riêng thành một nhóm. Cầm đầu nhóm là anh Hải, một "cựu đại uý thuỷ quân lục chiến". Có lần khi nghe thấy tôi nhắc nhở đến chức đại uý của anh Hải, anh Bích cười khẩy:

- Đại uý gì mà đại uý. Anh ta tưởng không ai biết nên nói phét lác như vậy. Xưa kia chỉ là một thứ lính đào ngũ ở Biên Hoà, làm một thứ anh chị đứng bến, sang đây vẫn là hạng vô tư cách. Có lần anh ta bị một bà hàng xóm làm rùm beng lên vì đục lỗ buồng tắm nhà bà ta dòm lén! May là bà ta không kêu cảnh sát.

Anh Bích lắc đầu nói tiếp:

- Cả nhóm đó chỉ chừng mười người, mà chẳng ai ra hồn. Rồi anh gặp sẽ biết. Vậy mà dám lấy một cái tên rất oai phong là "Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam Phục Quốc". "Phục" cái con mẹ gì!

Sau khi nghe anh Bích bình phẩm về nhóm "Phục Quốc", tôi còn nghe những lời tương tự của anh Nhân, anh Trung và những người khác. Tuy nhiên khi gặp những người trong nhóm đó, tôi vẫn bình thản chào hỏi. Tôi còn sẵn lòng giúp anh Hải dịch ra tiếng Anh những bản bố cáo hay vài thứ giấy tờ lặt vặt. Tôi cũng nói cho anh Bích và các anh em khác trong Hội là tôi biết nhóm "Phục Quốc" chống lại Hội, nhưng riêng tôi, vai trò ôn hoà của tôi sẽ chỉ có lợi cho sinh hoạt cộng đồng chứ không có hại. Khi nào họ có thái độ gì xấu với tôi thì tính sau. Thái độ ôn hoà của tôi cũng giữ hoà khí giữa hai hội được một thời gian nhiều tháng, nhưng lần hồi, Hội "Phục Quốc" không phát triển thêm được nên bắt đầu tỏ ra bất cần và họ bắt đầu nhắc đến tôi trong những lời chỉ trích của họ về Hội.

Thực ra việc một số người tách rời khỏi Hội để lập ra hội "Phục Quốc" để rồi trở thành đối nghịch gần như thù địch với Hội một phần phát sinh từ sự thiển cận của những người trong ban Điều Hành Hội Người Việt. Sự đố kỵ rất cao độ ngày càng trầm trọng thêm mà tôi dù ôn hoà đến đâu cũng không cứu vãn được. Anh Bích, anh Nhân còn tỏ ra bất mãn khi thấy tôi giúp Hội Phục Quốc. Hôm đó tôi cùng một vài người trong Hội đi họp chung một xe do anh Sáu, một hội viên sốt xắng tình nguyện làm tài xế. Xe đến đón tôi và ghé đón thêm một người nữa trên đường đi đến trụ sở Hội. Người này ở cùng building với anh Lương Phó Chủ Tịch Hội Phục Quốc. Trong lúc chờ đợi tôi trông thấy anh Lương, đang đứng nói chuyện với một ngườI nữa trong nhóm của anh ta trước cửa building đó, tôi mở cửa xe tiến lại bắt tay hỏi mấy câu xã giao vui vẻ. Chỉ có vậy mà mấy hôm sau anh Bích cũng hỏi tôi:

- Hôm nọ có phải thằng cha Lương kêu anh lại nói chuyện phải không?

Đó là lần đầu tiên tôi nhận ra đầu óc hẹp hòi của anh Bích, và tôi càng thêm bực mình vì sự cố ý xuyên tạc sự việc để có cớ trách tôI sao lại thân thiện vơi nhóm kia.

Tôi đáp:

- Tôi trông thấy anh ta, tôi lại nói chuyện, vì tôi đã từng giúp đỡ họ. Sao lại có người lắm chuyện nào nói vậy? Dù anh Lương có kêu tôi lại thì đã sao?

Sau đó tôi biết mấy anh em trong Hội chúng tôi còn tìm cách làm cho Hội Phục Quốc ghét cả tôi, chỉ trích tôi, khiến tôi không có lý do gì giúp đỡ họ nữa.

Vào khoảng thời gian đó, chính trị gia danh tiếng, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đang vận động cho phong trào cứu nước của ông ta với chủ trương coi các cựu quân nhân hải ngoại là thành phần nồng cốt. Quan niệm của ông ta là nếu trong vòng mười năm sau ngày mất nước cho cộng sản, nếu người Việt hải ngoại không khôi phục lại được đất nước, thì sẽ không có hi vọng gì sau đó. Sự “tiên đoán” của chính trị gia này dĩ nhiên là có mục đích khích lệ người ta mau mau gia nhập phong trào của ông ta. Ông ta chẳng cần phải tiên đoán gì hết, sự thất bại cũng vẫn xảy ra, bởI vì trong vòng mười năm đầu, ai cũng lo vấn đề sinh nhai, dù muô’n dù không ai cũng phải lăn xả vào xã hội mới, tranh đua với những người di dân khác, đâu có đủ sức lực, tiền tàI để thực sự ủng hộ các lãnh tụ và những phong trào của họ, ngoài sự ủng hộ xuông lúc cuối tuần, sau đó ai về nhà nấy, để hôm sau bắt đầu một tuần đi cày tiếp. Với chủ trương "phải thành công trong vòng mười năm" của ông, ông còn gây khó khăn thêm cho những ai muốn tranh đấu sau khi ông đã thất bại.

Từ bên Mỹ qua, ông Nguyễn Ngọc Huy ở tại thành phố của chúng tôi ba ngày. Việc đầu tiên ông ta làm là họp với năm mười anh em quân nhân "Phục Quốc" mà ông ta cho là nồng cốt của cuộc tranh đấu, và quên rằng đa số cựu quân nhân không thuộc về nhóm đó. Họp xong với Hội Phục Quốc, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy ghé Hội chúng tôi với thái độ rất lạnh nhạt không gây được một chút khích lệ nào và không để lại trong chúng tôi một cảm tưởng tốt nào về ông mà chỉ cho thấy ông là một thứ chính trị gia không hiểu thời thế và cũng không biết nhận xét người. Sau khi ông Nguyễn Ngọc Huy đi khỏi, các anh em "Phục Quốc" đột nhiên cảm thấy phải làm một cái gì đó để gây tiếng vang. Thế là sáu bảy người trong nhóm chạy ra chỗ bán đồ cũ Salvation Army, kiếm cho mỗi người một bộ đồ rằn ri (chẳng biết có phải vì cái chữ “Army” mà mấy ông ấy nghĩ là có liên quan đến quân đội rồi đến đó mua hay không), bắn tin nhà báo địa phương đến chụp hình tuyên bố lập hội về giải phóng quê hương. Khi nhà báo hỏi một câu:

- Thế quí vị có nghĩ đến việc trang bị vũ khí cho công cuộc giải phóng của quí vị không?

Anh "cựu đại uý thuỷ quân lục chiến" tuyên bố mạnh mẽ:

- Ồ có chứ! Sớm muộn gì, chúng tôi cũng sẽ phải làm việc đó. Phải có vũ khí mới tranh đấu được!

Bài báo in ra kèm tấm hình các cựu quân nhân, thật có, giả có, trong bộ đồ tác chiến, gây sôi nổi trong cộng đồng Việt kiều, và tạo sự chú ý cho nhà cầm quyền địa phương vì câu tuyên bố "vũ trang để tranh đấu". Canada là xứ không cho phép tư nhân mang vũ khí, vậy mà ca’c ông ấy tuyên bố vung vít như vậy, chúng tôi cũng đã tiên đoán được là chính quyền thế nào cũng cảm thấy lo ngại và chắc sẽ tìm hiểu cho ra lẽ. Hôm nay ông Parker này hốt hoảng đến đây có lẽ muốn biết xem nhóm anh em chủ trương vũ trang kia có dính dáng gì tới Hội hay không.

Anh Bích hướng về phía ông Parker nói:

- Xin ông cứ tiếp tục.

- Vâng, điều mà tôi muốn nói có liên quan đến một bài báo xuất bản hôm thứ Năm về một tổ chức mang tên Hội Quân Nhân Phục Quốc. Chúng tôi rất quan tâm đến những lời tuyên bố của nhóm này về chủ trương dùng vũ khí để tranh đấu. Họ có liên quan gì đến Hội của các ông hay không? Hội Người Việt có ủng hộ Hội Phục Quốc về bất cứ phương diện nào hay không?

Anh Bích trả lời:

- Không, Hội chúng tôi hoàn toàn không có liên quan gì đến nhóm đó. Thực ra cũng không có gì đáng ngại đâu. Chúng tôi hiểu họ quá mà! Họ thích được báo chí đăng hình ảnh, gây sôi nổi chứ họ có tranh đấu gì đâu, và cũng không dám làm gì bậy bạ đâu.

Tôi tiếp lời anh Bích:

- Chúng tôi là người Việt tự do, chống cộng. Với tư cách cá nhân, tôi ngưỡng mộ những người dám đứng ra đương đầu với bạo lực độc tài. Chúng tôi sẽ ủng hộ việc đấu tranh của bất cứ nhóm nào có chủ trương chính đáng, trong phạm vi luật pháp. Chúng tôi không ủng hộ nhóm của các anh em đó vì họ không có kế hoạch gì. Tôi nghĩ là ông nên tiếp xúc thẳng với họ để tìm hiểu thêm.

Ông Parker trả lời tôi:

- Vâng, tất nhiên là chúng tôi sẽ tiếp xúc họ. Như các ông đã biết, tàng trữ vũ khí là bất hợp pháp. Nếu quả thực đó là chủ trương của họ, chúng tôi sẽ nghiêm chỉnh cảnh giác họ. Tôi đến gặp các ông để xem ý kiến các ông thế nào trước khi gặp họ. Việc này có thể liên quan đến cảnh sát chứ không phải chuyện thường.

Sau khi nói thêm vài câu, ông Parker ra về. Còn lại mấy người chúng tôi, các công việc của ngày Tết sắp đến được mang ra bàn. Chúng tôi cảm thấy phấn khởi vì vấn đề tài chánh của Hội trong năm mới có vẻ tiến hành tốt đẹp. Riêng về buổi văn nghệ Xuân, vé vào cửa bán được gần hết. Chúng tôi đã ấn định giá vé vào cửa rất tượng trưng đủ cho những chi phí cần thiết về trang phục văn nghệ, và đồ ăn cho mọi người. Mỗi năm vào dịp này, các anh chị em tình nguyện nấu nướng đều ra công ngày đêm quấn chả giò, gói bánh chưng, nấu xôi liên miên! Một điều quan trọng mà chúng tôi không thể bỏ qua trong buổi văn nghệ là việc mời quan khách vì đây là dịp để cộng đồng người Việt nhắc nhở những nhân vật có thẩm quyền trong chính phủ về vai trò hỗ trợ của mình trong xã hội Canada để tiếng nói của cộng đồng người Việt có hiệu quả mỗi khi cần. Không phải chỉ những nhân vật trong chính phủ đương thời mà cả những dân biểu đảng đối lập. Chúng tôi đã gởi thư mời và hầu hết đều đã nhận lời, hoặc đích thân tham dự, hoặc cử người đại diện. Một việc quan trọng thứ hai là mời phóng viên của hai đài truyền hình, đài CBC địa phương, và đài truyền hình cộng đồng. Đài CBC sẽ đưa vào phần tin tức và đài cộng đồng sẽ quay phim và sẽ chiếu lại trên đài truyền hình trọn buổi văn nghệ dài hai ba tiếng đồng hồ của chúng tôi. Còn tờ báo Xuân của Hội nữa. Báo đã in xong, hình thức, nội dung đều phong phú. Cây bút nữ trẻ Nguyễn thị T.V. góp mặt với những bài thơ và văn trữ tình của cô. Nhà thơ quân đội họ Lâm, với những bài thơ hay "dựng tóc gáy" như tôi thường nói đùa với anh!

Tôi không còn nghe tiếng đàn tiếng hát từ phòng tập phía sau đưa ra nữa, có lẽ buổi tập dượt văn nghệ đã chấm dứt. Tôi ngẩng lên khi nghe thấy tiếng con gái nói cười xôn xao. Bốn năm cô gái, người áo dài, người quần nâu áo vải, và một cô trong chiếc áo tứ thân, khăn mỏ quạ. Tôi nhận ra Trâm. Một thoáng vui nhẹ nhàng. Ngày hội Xuân của thời xa xưa, thanh bình và thơ mộng, như đang được làm sống lại trong tiếng cười trong trẻo, trong tà áo quê quấn quít. Nàng nhìn về phía chúng tôi, một thoáng nhận diện, rồi nàng lại tiếp tục ríu rít cùng các bạn. Nhóm con gái đang sửa soạn ra về. Khi đi ngang chỗ chúng tôi, "nàng" nhìn anh Bích nói:

- Tụi em đi về nghe anh Bích. Chiều mai tụi em sẽ đến tập tiếp.

Chúng tôi nhìn nhau cùng gật đầu chào. Vừa lúc đó anh Bích giới thiệu:

- Đây là Trâm và hai em, Thanh, Hà. Còn đây là anh Huy.

Tôi nói đùa:

- Vâng, tôi đã được giới thiệu với cô ấy rồi!

Nàng tròn mắt nhìn tôi. Tôi nói tiếp:

- Anh Hồ đã cho tôi "gặp" bức hoạ của Trâm trong kia!

Nàng hiểu ra, và bật cười cùng mọi người.

Thế rồi chúng tôi quen nhau ...

Hôm sau và những lần tập văn nghệ kế tiếp, chúng tôi có nhiều cơ hội để nói chuyện với nhau. Những ngày sửa soạn cho ngày Tết năm đó thật vui nhộn, thích thú. Những buổi tập kéo dài đến khuya, kết thúc bằng pizza, hay các món do các anh chị tình nguyện mang đến. Trụ sở Hội lúc nào cũng tấp nập với những sinh hoạt. Người ta đến vì có vai trò trong ban tổ chức cũng có mà đến vì muốn chuyện trò, xem tập dượt văn nghệ cũng có. Mỗi khi không có Trâm, tôi cảm thấy thiếu vắng. Một hôm, Trâm không có mặt, tôi điện thoại cho nàng.

- Sao hôm nay không đến Hội, Trâm khoẻ không?

- Trâm bị bịnh. Tiếng nàng pha giọng nghẹt mũi.

- Hôm nay không có Trâm hát, thấy nhớ nhớ ...

- Vậy hả? Muốn Trâm hát cho anh nghe không?

Tôi mừng như bắt được vàng:

- Hát đi! Hát đi Trâm!

- Đau cổ nhưng cũng ráng, anh nghe Trâm hát không được cười nghe không?

- Ai mà dám cười! Anh đang đợi đây ...

Thế rồi nàng hát một cách tự nhiên. Đó là lần đầu tiên tôi được một người hát cho nghe qua điện thoại và tôi nói với nàng điều đó.

oOo

Ngày Tết mà chúng tôi sửa soạn bấy lâu nay rồi cũng đến, rộn rã, tưng bừng như tâm hồn tội. Năm nay, có một điều đặc biệt hơn mọi năm, đó là lần đầu tiên, cộng đồng người Việt sẽ có buổi lễ treo lá cờ vàng ba sọc đỏ trên kỳ đài Toà Thị Chính. Chúng tôi đã lợi dụng một thông lệ mới của thành phố cho các hội đoàn được nộp đơn xin thị trưởng tuyên bố một ngày nào đó trong năm là ngày của riêng cộng đồng mình. Hội người Việt làm đơn yêu cầu. Tôi nhớ buổi đêm khuya hôm đó, được sự phụ giúp của mấy anh em khác trong Ban Chấp Hành, tôi loay hoay soạn bản Tuyên Ngôn đính kèm tờ đơn gửi cho ông Thị Trưởng thành phố để ông ta dùng chính bản tuyên ngôn đó công bố ngày Tết là “Ngày Việt Nam.” Ông thị Trưởng chấp nhận, và dùng chính bản tuyên ngôn của chúng tôi, công bố ngày mùng Một Tết là “Ngày Việt Nam”. Lá cờ vàng ba sọc đỏ sẽ được kéo lên tại toà Thị Chính vào ngày mùng một Tết, và một đường gần trụ sở Hội sẽ được đổi tên thành đường Nguyễn Huệ trong một tuần. Việc làm giản dị đó của chúng tôi không ngờ được coi là một sáng kiến gây tiếng vang trong cộng đồng người Việt trên toàn Canada và mở đầu một tiền lệ cho các hội đoàn Việt các nơi khác làm theo sau này. Từ đó, hàng năm, lá cờ vàng ba sọc đỏ được kéo lên ở nhiều toà thị chínhkha('p nơi trong dịp Tết.

Buổi lễ đổi tên đường và lễ chào cờ tại Toà Thị Chính vào ngày mùng Một Tết diễn ra thật cảm động. Có những giọt nước mắt rưng rưng theo tiếng bài quốc ca. Sau đó buổi văn nghệ mừng Xuân được tổ chức vào ban đêm. Năm nay cũng như mọi năm, chúng tôi mượn được một thính đường lớn của Nha Học Vụ. Chúng tôi sẽ không phải trả tiền thuê mà chỉ phải cam đoan trả lại thính đường trong tình trạng sạch sẽ.

Tôi và Trâm thân nhau từ đó. Sau ngày Tết, hoạt đông của Hội bình thường trở lại, nhưng vẫn có những sinh hoạt định kỳ như buổi thu hình chương trình Việt Nam hàng tuần, chương trình phát thanh hàng tuần, những buổi họp với các cơ quan chính quyền, những buổi hội thảo văn hoá, v. v... Trâm thường xuyên dự vào những buổi trình diễn trên truyền hình và chỗ nào có Trâm thì có tôi. Hôm tôi dọn nhà, nàng đến giúp tôi dọn dẹp và gói ghém, dù đồ đạc của một gã con trai độc thân chẳng có gì. Tôi lặng lẽ ngắm nàng loay hoay bỏ những thứ lặt vặt của tôi vào mấy chiếc thùng giấy và nhẹ nhàng đến sau lưng Trâm vòng tay ôm lấy nàng. Trâm để yên, và tôi xoay người nàng lại. Nàng nghiêng mặt tránh né cái hôn của tôi, nhưng rồi cũng nhượng bộ. Nụ hôn đầu tiên dù chỉ là vài giây ngắn ngủi, nhưng thật ngọt mềm. Trâm áp mặt vào cổ tôi nói khe khẽ:

- Huy ơi, đừng bao giờ thay đổi nghe. Nếu sau này phải xa nhau, chắc em khổ lắm.

Kể từ lúc thân nhau, nàng có lối gọi tôi bằng tên xưng em như vậy . Có một cái gì đó thật thiết tha trong lối xưng hô đó. Ôm thân hình run nhè nhẹ của Trâm, tôi nói khẽ vào tai nàng:

- Không, anh sẽ không bao giờ thay đổi ...

Trâm có một anh lớn có gia đình ở riêng, ba chị em Trâm và hai đứa em họ ở chung một nhà. Trách nhiệm của người chủ gia đình đè nặng lên vai người chị trẻ, và các em đều ngoan ngoãn vâng lời, dù chúng đều ở vào tuổi mới bắt đầu thành người lớn. Cha mẹ ở Việt Nam mù khơi, không biết ngày nào đoàn tụ, may mắn thay, các chị em sống thật an vui, hoà thuận. Trâm học xong trung học, đi làm để cho các em đi học. Tôi so sánh gia đình nàng và gia đình tôi và có một nhận xét rằng mấy anh em tôi, trừ ông anh lớn, chẳng đứa nào ... sợ đứa nào! Mấy thằng em tôi coi tôi như bạn, chẳng nể sợ chút nào! Bà chị lớn thì hiền lành nhất nhà, chuyên môn bị mấy thằng em bắt nạt, chọc ghẹo, nhiều lúc tức đến phát khóc, vậy mà vẫn hỏi ý kiến tụi em về bất cứ việc gì, và còn lấy làm hãnh diện với bạn bè là có mấy thằng em như vậy! Tuy hay bị các em bắt nạt, chị tôi có một thứ vũ khí đặc biệt dành cho tôi. Khi tôi còn ở vào tuổi mới lớn, biết tôi "có cảm tình" với mấy chị bạn xinh đẹp của mình, chị tôi cứ dùng những câu chuyện về các bạn của chị ấy như một thứ cà-rốt treo trước mũi một con lừa ngây thơ để dụ và sai bảo tôi! Một dạo thì chuyên môn nói về chị Thể, một dạo thì chuyên môn nói về chị Nguyệt để cho tôi há hốc mồm ngồi nghe và mơ mộng về các chị, để sau đó chị tôi tha hồ sai bảo. "Chị Nguyệt cũng có sở thích giống chị Ngọc như thế này nè", "Chị Thể hay làm thế này nè Huy, làm hộ chị Ngọc nghe!", thê’ là tôi làm theo răm rắp. Chỉ sau này tôi mới biết mình là thằng ... dại gái từ đời nào rồi! Bị chính chị ruột mình xỏ mũi mà không biết! Chị tôi phải dùng kế để sai bảo tôi chứ Trâm thì trái lại, được các em nể sợ lắm, nghe lời không dám cãi.

Trâm kể cho tôi nghe chuyến vượt biên, dù rất cam go lúc đầu ở Việt Nam, nhưng rất êm xuôi sau đó, và cả mấy anh chị em được một nhà thờ bảo trợ qua đến Canada mau lẹ. Mấy anh em còn mang theo được đầy đủ của cải vàng bạc bố mẹ giao cho trước khi đi. Tuy công việc salesclerk của nàng và của đứa em họ đem lại tiền lương khiêm nhượng, nhưng mấy chị em ở chung nhà, chủ nhà lại là một trong những người bảo trợ lấy tiền thuê nhà rất hạ, nên mấy chị em sống sung túc và còn dành dụm được nữa. Năm ấy, Việt Nam còn xa vời lắm, ước mơ của Trâm là một ngày nào đó cha mẹ và người chị còn ở Việt Nam sẽ qua xum họp, và các em nàng học hành đến nơi đến chốn.

Chúng tôi chia xẻ với nhau những ngày sung sướng. Những buổi picnic Hội tổ chức, những buổi trình diễn văn nghệ của cộng đồng Việt trong ngày hội mùa Hè của thành phố trong đó có tất cả các cộng đồng khác, những chuyến đi tàu trên sông về đêm, tất cả như gieo mầm kỷ niệm cho chúng tôi.

Một sáng thứ Bảy, chúng tôi nằm bên nhau, Trâm đang dùng ngón tay trỏ vẽ vẽ trên ngực tôi nghịch ngợm thì điện thoại reo. Đầu giây kia, Thuý cất tiếng:

- Thuý định hỏi xem anh có rảnh Chủ Nhật ngày mai không, lại nhà Thuý ăn trưa, nhân tiện Thuý mới dọn nhà, có mấy thứ nặng Thúy làm một mình không được, nhờ anh giúp một tay.

Thuý là sinh viên đại học ngành sư phạm, hai năm nữa thành cô giáo. Thuý thỉnh thoảng đến Hội giúp việc này việc kia và tôi đã gặp qua những lần sinh hoạt của Hội. Tôi bịt ống nghe, nhướng mắt nói khẽ với Trâm: "Thuý!", rồi nói vào ống điện thoại:

- Ngày mai mắc bận Thuý ạ Thuý dọn đến đâu vậy?

Ngày chủ nhật là một trong hai ngày quí báu trong tuần của tôi và Trâm, đi lại nhà một cô gái vừa đẹp vừa sắc sảo như Thuý để cho mà chết à!? Làm sao mà tôi yên thân được, giỡn hoài! Đầu giây bên kia, Thuý nói:

- Anh không đến được hả Thuý dọn đến chỗ này gần trường hơn, có thể đi bộ được, không cần đi bus. Lâu nay anh và chị Trâm ra sao rồi?

Trâm vẫn nằm kê đầu lên tay tôi, tay vẽ vẽ từ nãy giờ, vẫn theo dõi câu chuyện, vì tiếng Thuý từ ống nghe vang ra rất rõ, bây giờ chống một tay vào má nhìn tôi, tay kia nhéo tôi một cái đau điếng! Tôi nén tiếng xuýt xoa, trả lời Thuý, mắt nhìn Trâm cố ý chọc nàng:

- Thì cũng vậy vậy ...

Lại thêm một cái nhéo đau điếng, trong lúc Thuý không tha:

- "Vậy vậy" là sao ?

- À, Trâm và anh vẫn gặp nhau thường.

Trâm gật gật ra vẻ như hài lòng với câu nói "hợp pháp" của tôi, tay xoa xoa chỗ đau cho tôi. Thuý và tôi nói thêm mấy câu về nghỉ hè, về công việc, rồi chúng tôi gác máy. Tôi choàng tay kéo Trâm vào ngực:

- Làm gì mà nhéo người ta đau vậy hả?

Trâm không nói, lại nhéo thêm cái nữa! Một chốc, Trâm nhớ ra một điều:

- Huy này, em quên chưa nói với Huy. Hôm qua có một cô phôn em, nói những điều lạ lắm cơ. Cô ta không xưng tên, nhưng đòi nói chuyện với em, rồi đem chuyện của hai đứa mình ra nói. Cô ấy nói với em là gia đình Huy theo đạo Phật, còn em đạo công giáo, chắc thế nào em cũng không được gia đình Huy chấp nhận đâu. Nhập đề là cô ấy nói liên tục không cần biết em nói gì.

Tôi rất ngạc nhiên, cố nghĩ xem ai có thể làm việc chọc phá đó, nhưng đành chịu không đoán được. Tôi đành nói Trâm quên chuyện đó đi.

Những ngày cuối tuần, Trâm thường ở lại với tôi cả ngày, cùng tôi xuống phố, rồi lại quay về nghe nhạc, xem truyền hình. Thỉnh thoảng nàng gọi về nhà nói chuyện với các em. Thường thường chúng nó hay lại nhà người anh lớn vào cuối tuần hoặc đi mua sắm.

Thỉnh thoảng tôi cũng đi lễ nhà thờ với mấy chị em Trâm. Tôi hình dung sau này nếu chúng tôi lấy nhau, đạo ai nấy giữ, không một thắc mắc, và tôi không thể hiểu tại sao có những cặp vợ chồng có thể xung đột với nhau về sự khác biệt tôn giáo. Gia đình tôi theo đạo Phật rất thuần thành, nhưng tôi coi rất nhẹ việc khác biệt tôn giáo, và thực sự không lo ngại về điều đó một chút nào khi quen Trâm. Đi lễ, tôi cũng làm theo mọi người, lúc quì, lúc ngồi, lúc đọc kinh, và sau cùng cũng xếp hàng nhận bánh thánh từ vị linh mục.

Ngày nào có tôi đi lễ cùng, Trâm thường rủ tôi về nhà nàng rồi Trâm và các em thường làm những món ăn. Những lần làm bánh xèo, bánh cuốn, tôi hay lẩn quẩn cạnh nàng coi nàng đổ đổ, tráng tráng, bỏ tôm bỏ giá, thật thú vị.

Có lần tôi nói với Trâm:

- Em biết không, khi anh để hết tâm hồn của anh vào việc làm bếp, anh làm cũng khá lắm đó!

- Vậy hả? Vậy Huy "để hết tâm hồn" tráng một cái bánh cho em coi nào!

Tôi sốt sắng chen vào cầm lấy cái chảo và cũng đổ bột, gắp các món nhân bánh đặt lên, vừa làm vừa nói ra vẻ thành thạo lắm, mặc dù đó là lần đầu tiên tôi tráng bánh xèo:

- Đây này, em thấy không, anh "để cả tâm hồn" vào việc múc bột nè. Múc đúng hai muỗng đổ vào chảo một cách ... âu yếm như làm một công việc nghệ thuật, gắp thịt âu yếm đặt lên, gắp tôm bỏ vào một cách trân trọng ...

Rốt cuộc tôi cũng tráng được một cái bánh trông còn đẹp hơn cả mấy cái của nàng! Trâm đành phải khen:

- Khá lắm! Mai mốt em nhờ được!

Tôi đáp:

- Em à, anh coi nấu ăn là một nghệ thuật, mà làm nghệ thuật phải có ... cảm hứng chứ!

Một hôm cuối tuần, Trâm và tôi đang ngồi nói chuyện ở nhà Trâm thì điện thoại reo. Trâm nhấc ống nghe lên:

- Hello.

Tôi thấy nàng lắng nghe một chút rồi nói:

- Trâm đây. Ai đang nói chuyện với Trâm vậy?

Sau đó nàng vẫy tay vội vàng ra dấu cho tôi lại gần. Tôi bước đến và nàng bịt ống nói thì thào:

- Người mà em nói với Huy hôm nọ lại gọi trêu chọc em...

Tôi ghé lại gần ống nghe nàng đang cầm và nghe vọng ra từ đầu giây bên kia tiếng nói quen thuộc cuả một người con gái. Sau vài giây, tôi nhận ra giọng cuả Liên, một cô gái làm ở cơ quan có tên là Trung Tâm Quốc Tế, một cơ quan giúp đỡ những người dân di cư mới đến. Tôi quen Liên từ trước khi tôi biết Trâm, trong một lần lo công việc Hội, tiếp xúc với nàng về vấn đề thông dịch cho một số người đồng hương mới đến. Liên mời tôi về nhà nàng một lần. Chúng tôi uống trà nói chuyện. Nàng có một em trai ở cùng nhà. Câu chuyện giữa chúng tôi hoàn toàn không có một chút gì về tình cảm. Tôi từ giã Liên ra về, và từ đó đến nay đã sáu tháng trời không liên lạc. Hôm nay, thật là bất ngờ khi bắt gặp Liên, gọi điện thoại nặc danh, nói chuyện với người yêu cuả tôi! Từ đầu giây kia tôi nghe Liên nói:

- Chị Trâm à, hôm nọ tôi nói với chị về sự khác biệt tôn giáo giữa chị và anh Huy…

Tôi ra dấu cho Trâm đặt điện thoại xuống. Trâm làm theo, sau khi nói:

- Đây là việc riêng cuả Trâm, Trâm không muốn mất thì giờ nói chuyện với chị.

Tôi nói với Trâm:

- Cô ta tên là Liên. Anh quen cô ta qua công việc và có đến nhà cô ta một lần từ sáu tháng trước. Anh rất ngạc nhiên không hiểu tại sao cô ta hành động như vậy!

- Không có lửa, sao có khói hở? Trâm ngó tôi làm bộ nghi ngờ.

Tôi đáp:

- Ai biết được . Nhưng anh biết chắc chắn là anh không nói gì để cô ta có thể hiểu lầm anh. Gọi điện thoại nặc danh như vậy thật là tệ quá. Lần sau nếu cô ấy gọi nữa, em nói cho cô ấy biết là em biết tên cô ấy là Liên, cô ấy sẽ không dám gọi nữa đâu.

Trâm gật đầu rồi nói tiếp:

- Huy ơi, em thương Huy mà sao nhiều người ghét em quá vậy? Lại còn hôm nọ nữa chứ. Em đến Royal Bank rút tiền mà cũng bị cái cô Việt Nam làm ở đấy nói mấy câu miả mai về việc em quen Huy.

Tôi nói:

- Đừng thèm để ý đến những người lắm chuyện đó.

Thấy trời gần tối, tôi đứng lên nói:

- Thôi anh về, tối anh gọi em. Anh muốn nói chuyện với anh Bích và anh Nhân về một vài công việc Hội.

Tôi ra về, lòng rất thắc mắc về người con gái tên Liên đó và thấy thương Trâm hơn.

Tối hôm đó lại một chuyện khác xảy ra. Lần này là việc Hội.

Buổi tối, tôi ghé lại văn phòng Hội để gặp anh Bích lấy một số giấy tờ cho phiên họp ngắn hôm sau vào giờ ăn trưa với một nhóm tổ chức hội thảo về tương quan chủng tộc. Khi tôi đến, cả hai anh Bích và Nhân đều có ở đó. Anh Bích đưa giấy tờ cho tôi xong, tôi định ra về thì anh Nhân nói:

- Tôi nghe nói anh quen với tên Công phải không? Cái thằng cộng sản đó mình nên tránh xa thì hơn. Hôm nọ nghe đâu anh còn định mời nó đi dự văn nghệ Xuân của Hội nữa.

Công là một người công khai bênh vực cộng sản, có vợ là một bác sĩ người Canada gốc Ạnh. Trường hợp của Công khá đặc biệt là anh ta không biết nói tiếng Anh, hay nói rất ít, được vợ sang Việt Nam làm việc, gặp, rồi cưới mang về Canada. Người vợ bác sĩ này chịu khó học tiếng Việt, nói tiếng Việt rất giỏi và chỉ dùng tiếng Việt nói chuyện với chồng. Bố mẹ của chị ta lại là một trong những gia đình thuộc nhóm bảo trợ chị em Trâm và cho mấy chị em thuê nhà. Thật là oái oăm.

Nghe anh Nhân nói vậy tôi giải thích:

- À, anh ta là con rể của chủ nhà cho Trâm thuê nhà nên thỉnh thoảng tôi gặp anh ta khi đến thăm Trâm. Tôi có nói chuyện bâng quơ với anh ta mấy lần. Còn việc mời đi dự văn nghệ thực ra tôi không "mời" mà là Trâm bán vé dùm cho Hội, nhân tiện gặp anh ta nên hỏi anh ta có mua không. Hôm đó có tôi ở đó và còn có anh Thu ở đó nữa. Tôi nghĩ dù anh ta là Việt cộng, nếu anh ta muốn đi dự văn nghệ của Hội mình cũng không sao, nên tôi không cản Trâm đừng bán vé cho anh ta. Dầu sao anh ta cũng đâu có dám đi, nên từ chối không mua vé. Chuyện chỉ có vậy thôi, không lẽ anh Thu về kể lại với các anh là tôi chơi với Việt cộng sao?
- Tôi chỉ muốn nói là anh nên cẩn thận trong việc giao tiếp, đừng để cho mấy thằng Việt cộng trà trộn dự vào hoạt động của Hội.

Tôi bắt đầu bực mình, nên hơi sẵng giọng:

- Anh khỏi cần dặn tôi điều ấu trĩ đó. Tôi dư biết mà. Còn việc dự văn nghệ, tôi cho rằng bất cứ ai, dù là cộng sản, cũng có thể mua vé đi coi. Nhưng họ đi để nghe mình chửi à? Chuyện có vậy mà cũng bị xé ra to.

Anh Nhân hằn học:

- Chuyện này chắc tôi sẽ đề nghị đưa ra một phiên họp của ban chấp hành để kiểm thảo.

Tôi sôi máu, nhưng cố nén, bình tĩnh nói:

- Anh Nhân à, để tôi kể cho anh nghe chuyện này. Ông anh tôi hồi còn là bác sĩ quân y ở một căn cứ hải quân, làm việc chung với một ông bạn bác sĩ quân y khác . Ông này, tuy là bác sĩ nhưng ngang tàng lắm, lại chơi thân, hay đi nhậu với ông chỉ huy trưởng căn cứ. Khi có điều lệ mới của chỉ huy trưởng ban ra là xe cộ ra vào phải được khám xét, xe của ông ta bị anh quân cảnh ngoài cổng căn cứ chặn lại đòi khám. Ông bác sĩ du côn này nhìn anh quân cảnh chửi thề: "ĐM, mày muốn khám hả, khám cái con c. tao nè!" rồi lái xe chạy thẳng. Anh Nhân à, tôi không muốn phải nói một câu tương tự về việc anh muốn đưa tôi ra "kiểm thảo", nhưng anh muốn đưa ra thì cứ đưa!

Nói xong tôi đứng dậy đi thẳng ra cửa. Tôi suy nghĩ về những sinh hoạt gần đây của Hội và nhận thấy những xung đột giữa các thành viên ban chấp hành nhiều khi xảy ra vì những nguyên nhân rất nhỏ mọn. Nói chung, trong sinh họat đoàn thể, mỗi người ít nhiều đều có tự ái và tự ái rất dễ bùng lên thành cơn bão thịnh nộ để rồi những người trong cuộc trở thành kẻ thù tìm đủ mọi cách hạ nhau bất kể bằng cách gì. Một trong những cách thường được dùng nhất là vu cho nhau là cộng sản. Kẻ vu khống biết rõ là đối thủ của mình không thể là cộng sản được nhưng vẫn cứ vu khống vì đó là cách nhanh nhất để tạo khó khăn cho kẻ mà mình ghét. Ai không cùng ý kiến với mình hay phê bình về sự ấu trĩ của mình trong việc công kích cộng sản, cứ việc gọi nó là cộng sản hoặc lập tức làm cho mọi người nghi ngờ nó là cộng sản là tiện nhất, khỏi phải tranh luận đàng hoàng vì sợ thua. Khi kẻ vu khống là một lãnh tụ của một hội đoàn thì những lời vu khống dễ được a dua theo bởi phe nhóm của kẻ đó, chơi trò "đánh hội đồng" đối thủ và cũng là nạn nhân của họ. Cãi cọ với bọn hạ lưu, đê tiện thì mất thì giờ, mà không cãi thì có thể bị coi là mặc nhiên chấp nhận những lời vu khống, vì thế khi nhắc tới hai chữ hội đoàn, nhiều người chỉ muốn tránh xa và kết quả đôi khi là hội đoàn là nơi lâu la tham dự nhiều hơn là những người đứng đắn. Ngoài việc xung đột này với anh Nhân, tôi còn là đối tượng cho nhóm anh em Quân Nhân Phục Quốc vu khống một cách rất vô lý và hèn mạt. Họ ghét cả ban chấp hành Hội nên bất kể những cố gắng dung hòa của tôi, họ cũng ngang nhiên gọi tôi là ... cộng sản chỉ vì tôi tình cờ gặp nhân vật Công kia! Khi có người chỉ cho họ thấy những bài viết chống cộng của tôi trong tập san của Hội thì họ nói một cách ngang nhiên là ai cũng có thể viết được để che mắt người khác! Những vu khống đó không làm tôi nao núng mà chỉ khiến tôi bực mình. Nhưng tôi biết là cái trò vu khống đó rất nguy hiểm và độc ác có thể làm hại được những người yếu bóng vía, hay ở vào vị thế đơn độc.

Tôi về đến nhà gọi điện thoại cho Trâm kể cho nàng nghe sự việc vừa rồi và chúng tôi đồng ý với nhau là trong Hội có lắm chuyện lục đục, đưa đến việc một số người kỳ cựu có công lập ra Hội từ lúc đầu bất mãn bỏ đi. Tuy nhiên tình trạng còn cứu vãn được và tôi cũng đồng ý với Trâm là tôi cũng chưa cần phải từ chức và bỏ Hội. Tôi nói đùa:

- Dẫu sao thì anh cũng gặp em qua Hội mà, phải không? Vun xới một chút cho Hội để trả ơn vậy mà!

- Ừ, trả ơn hay là vì trong Hội còn có bao nhiêu cô đẹp nữa? À Huy này, tại sao chị Nguyễn thị T.V. hay hỏi thăm em về Huy vậy? Vừa duyên dáng, vừa là văn sĩ, sao Huy không "vun xới" với chị ấy đi!

Tôi lắc đầu chịu thua những câu vặn vẹo của Trâm! Nghĩ lại mà tủi thân! Sao tôi hay gặp những người con gái có thể ... vặn cổ tôi từ phía trước ra phía sau như vậy không biết! Tôi chống chế:

- Anh không hề dám nhìn ngang nhìn dọc từ lúc quen em bộ em không thấy sao? T.V. nếu có hỏi thăm cũng là về lớp học tiếng Việt mà Hội định mở và nhờ T.V. dạy dùm.

- Hay nhỉ ? Thế sao không gọi nói chuyện với anh mà lại hỏi thăm em?

- Ơ hay, ai biết được! T.V. vẫn phôn cho anh nói chuyện mà!

Trâm như vớ được vàng:

- Đó, thấy không! Vậy là rõ ràng nói chuyện với nhau nhiều lần lắm rồi phải không? Thân lắm rồi hở?

Thì ra không nói chuyện cũng "chít" mà nói chuyện cũng "chít". Tôi chống chế:

- Thân gì mà thân, toàn việc Hội không mà!

Thực ra, một đêm trong tuần trước, lúc đó đã khá khuya khoảng 11 giờ, T.V. điện thoại cho tôi, giọng yếu ớt:

- Anh Huy ơi, anh có thể đến giúp T.V. một chút được không? Không hiểu sao, chóng mặt quá đi. Lo quá, không biết gọi ai, nên phải phiền đến anh...

Tôi ngạc nhiên vì vẫn biết T.V. và Trung, anh Tổng Thư Ký của Hội, thường đi có đôi có cặp với nhau, và theo sự suy đoán của mọi người thì hai người là bồ của nhau, nên tôi không hiểu sao T.V. không gọi Trung. Tôi hỏi:

- Chị đã gọi cho anh Trung chưa?

T.V. giọng như muốn khóc:

- T.V. không muốn gọi cho anh ấy đâu. Và cũng không biết anh ấy ở đâu mà gọi.

Tôi đề nghị:

- Hay tôi gọi hộ chị? Tôi biết những chỗ anh ấy thường đến; không chỗ này cũng chỗ kia.

T.V. giọng buồn buồn:

- Thôi, không sao đâu anh. Bây giờ T.V. thấy đỡ rồi . T.V. cũng không muốn gọi anh Trung làm gì. Dầu sao cũng cám ơn anh.

Sau đó T.V. chào và gác điện thoại. Tôi hơi bâng khuâng, nhưng không nói với Trâm điều này vì không muốn Trâm hiểu lầm và buồn, và cũng không muốn T.V. bị hiểu lầm.

Sau khi tôi nói chuyện với Trâm xong, thì anh Bích gọi đến khuyên tôi bỏ qua cho anh Nhân vì câu nói đòi "kiểm thảo". Tôi cũng ôn hòa chấp nhận, nhưng dường như mầm mống của những rạn nứt đã bắt đầu, và đám mây u ám cứ lởn vởn mãi.

Kỳ đại hội toàn quốc năm đó anh Bích, anh Nhân và tôi đại diện Hội đi dự. Đó là lần thứ hai, tôi và Trâm xa nhau từ ngày quen nhau, nhưng khác với lần trước, lần này Trâm cũng đi Mỹ thăm ông chú cùng một ngày tôi đi xa họp. Chuyến bay của Trâm vào buổi sáng sớm, các anh em trong ban Điều Hành cùng tôi đưa tiễn Trâm ra phi trường trước. Trong khi chờ đợi Trâm lên máy bay, tôi dặn dò:

- Em đi một tuần, anh cũng đi một tuần, khi về đúng dịp hội mùa Hè, mình sẽ đi chơi đêm trên sông như năm ngóai. Chỉ nghĩ đến đã thấy vui! À này, đi có nhớ anh không?

Trâm lắc đầu:

- Không nhớ …

Vừa lúc đó anh Sáu, tài xế tình nguyện cuả Hội, xấn lại, một tay nắm tay Trâm, một tay nắm tay tôi, rồi đặt tay Trâm vào tay tôi, nói:

- Trời ơi, chia tay cho tình tứ một chút, làm gì mà đứng xa xa! Ôm nhau cho mùi mẫn chút coi!

Khi có người quen xung quanh, chúng tôi thường dè dặt không âu yếm lộ liễu, lần này chúng tôi để nguyên tay trong tay, nhìn nhau cười. Anh Trung, anh Nhân và anh Sáu tế nhị lảng ra xa để chúng tôi được tự nhiên. Tiếng loa mời hành khách vào phòng đợi. Tôi ôm Trâm hôn nhẹ lên môi:

- Đi bình an. Anh sẽ gọi.

Trâm đưa tay vẫy tôi trước khi đi khuất sau khung cửa rộng. Tôi thẫn thờ cùng mọi người ra về, chuẩn bị cho chuyến bay của anh Bích, anh Nhân và tôi chiều hôm đó.

oOo

- Nè toa, trông moa có già lắm không hả?!

Hoàng, anh chàng giáo sư đại học vui tính từ Montréal tới, có giọng nói liến thoắng, vừa xoa xoa cái đầu hơi hói của mình vừa hỏi tôi. Tôi cười:

- Già sao được mà già anh! Anh vừa đẹp trai vừa phong độ thế kia!

Anh ta lại dồn dập hỏi:

- Thật hả? Thật hả? Vậy mà mấy cô bé kia cứ gọi moa bằng chú mới tức chứ! Toa thấy moa còn phong độ lắm hả?

Tôi đáp :

- Dĩ nhiên rồi! Tin em đi anh!

Thực sự anh ta trông cũng không tệ và cũng không đến nỗi già. Như được khuyến khích, anh chàng nháy mắt với tôi, nói một câu từ giã rồi hăm hở quay trở lại phía đám đông chỗ có mấy “cô bé” tiếp tân. Cái vui tính của anh khiến tôi không nhịn được cười. Tôi đi lanh quanh trong giờ giải lao nói chuyện với một số ngườI quen biết cũ cũng như làm quen với những đại biểu của các hội người Việt từ các nơi đổ về, mà tôi chưa gặp lần nào. Đại hội dài bốn ngày do Liên Hội tổ chức với quĩ do chính phủ Trung ương tài trợ. Xứ này có một điều khác biệt khá rõ rệt so với Mỹ đó là "chính sách đa văn hóa" so với chủ trương đồng hóa, "melting pot", của Mỹ. Các người di dân được khuyến khi’ch bảo tồn văn hóa mình vì chính sách này cho rằng người di dân hãnh diện với nguồn gốc mình, thì sẽ dễ thành công, và sẽ đóng góp tích cực vào sinh họat quốc gia. Trên lý thuyết thuần túy, đó là điểm độc đáo của Canada, nhưng trên thực tế, số đông là điều quyết định trình độ và cách thức hội nhập của một tập thể di dân. Với mức độ tập trung đông đảo của người Việt ở nhiều nơi bên Mỹ, người Việt chẳng cần được khuyến khích cũng giữ gìn được ngôn ngữ và lối sống Việt Nam. Khi ấy chính sách đa văn hóa của Canada tương đối mới mẻ nên vấn đề tài trợ cho những hội đoàn văn hóa thiểu số rất rộng rãi. Chi phí chuyên chở, khách sạn cho các đại biểu từ khắp nơi về thủ đô họp, và những chi phí tổ chức khác đều được chính phủ đài thọ. Đại diện cho Hội của chúng tôi có ba ngườI là anh chủ tịch Bích, anh Nhân và tôi. Cuộc hội thảo là dịp cho các hội đoàn gặp nhau chia xẻ những kinh nghiệm sống, và bàn thảo nêu kiến nghị với chính quyền. Nói chung đại hội không nhằm giải quyết những vấn đề trọng đại nào, vừa như một phương tiện "xả hơi", vừa có tính cách dự phòng, tạo cơ hội cho những vấn đề nghiêm trọng, nếu có, được đem ra mổ xẻ. Một điều lợi khác nữa, là người di dân có cơ hội củng cố lòng tự hào về văn hóa của mình, giảm thiểu những bất mãn nếu có. Có thể nói đây là một chính sách khá khôn ngoan, nhìn xa, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Thế nên cuộc hội thảo hội diễn ra như bao nhiêu hội thảo khác do ngân quĩ của chính phủ đài thọ, đều vui thú vì thực sự chẳng có vấn đề gì cấp bách hay sinh tử phải giải quyết, mà chỉ toàn những thảo luận thông thường, đưa kiến nghị, vô thưởng vô phạt, được thì vui, không thì cũng chẳng tận thế. Đại hội là dịp móc nối, giao tế vui vẻ, như trường hợp điển hình của anh giáo sư Hoàng kia! Thôi thì những người kỳ cựu, cũng như mới đều xuất hiện để khoe tài năng, chức tước. Có ngườI chừng mực, và cũng có người tự đắc vênh vang. Chẳng hạn một ông chính trị gia, giáo sư tại một đại học thủ đô, được dịp lên giọng kẻ cả ta đây. Ông này bỏ Việt Nam từ thập niên 60, lập nghiệp bên này đã lâu. Khi đợt ngườI tị nạn đầu tiên qua định cư, ông ta đã là giáo sư đại học. Ông ta huênh hoang với mọi người là ông ta nhìn xa thấy rộng, biết trước Việt Nam sẽ mất về tay cộng sản nên bỏ Việt Nam đi trước. Sự huênh hoang cuả ông thực ra, không ai có thể kiểm chứng. Khi sự việc đã xảy ra, thì muốn nói sao chẳng được, có ai nghe ông ta tiên đóan trước khi ông ta chuồn bao giờ, mà có lẽ sự "tiên đoán" của ông ta chẳng hơn gì người khác, ai cũng có "twenty-tweny vision" nhìn lại sự việc đã xảy ra. Với tất cả những khoe khoang về sự khôn ngoan đó, vậy mà sau này ông ta dính vào một vụ làm trung gian mua vũ khí cho một tổ chức chống lại một thể chế độc tài của một nước nhỏ tí tẹo đang có bang giao với Mỹ. Có lẽ ông tưởng giúp một tổ chức chống một chế độ độc tài thì có sao đâu, ai ngờ như vậy là vi phạm luật lệ của Mỹ vì giúp nhóm đó chống lại một nước đang có bang giao với Mỹ. Thế là chính phủ Mỹ quyê’t định truy tố (indict) ông giáo sư Việt Nam này, dù ông ta đang ở Canada. Từ đó ông giáo sư không dám lạng quạng bén mảng sang Mỹ, vì hễ sang là bị Mỹ tóm ngay. Thế mới biết huênh hoang cho lắm cũng có lu’c bị hố.

Trong lần hội thảo đó, tôi có dịp "run into" một nhà văn mà sau này trở thành ngườI MC thường trực cho những chương trình ca nhạc Thúy Nga. Nhân dịp hội đoàn các nơi đổ về, anh cho ra mắt tác phẩm tiếng Anh “Ý Trời” - “The Will of Heaven”. Tuy biết nhà văn này theo đạo Thiên Chúa, Hội Phật Giáo địa phương cũng nhờ tôi mời anh thỉnh thoảng viết bài cho tập san của Hội. Nhà văn nhận lời, nhưng sau đó Hội Phật Giáo thấy việc đó không thuận tiện, vì anh ta ở tỉnh khác, nên cũng chưa nhờ nhà văn viết bài lần nào. Sau này anh càng lúc càng có nhiều hoạt động, chắc chắn anh ta cũng không có thì giờ viết không công cho một tờ báo nhỏ địa phương này.

Những cuộc hội họp của các đoàn thể di dân bao giờ cũng có sức thu hút như nam châm những người làm chi’nh trị, dân cử. Họ ít khi bỏ qua cơ hội làm thân với cử tri. Lần này cũng vậy, ba đảng chính là Tự Do, Bảo Thủ và Tân Dân Chủ đều gửi dân biểu đảng họ đến dự thính. Những tay cáo già chính trị này, qua những thông dịch viên, lắng nghe, và hẳn là nhận ra tính cách ấu trĩ của những vấn đề được đem ra bàn cãi trong những phiên hội thảo. Những vấn đề rất cụ thể, căn bản như hướng dẫn luật lệ thông thường, những khuyên nhủ phải biết tự giác để người ta khỏi chê cười là thiếu văn minh, làm mang tiếng cộng đồng, vấn đề đánh đập vợ con, vấn đề bảo tồn văn hóa, v.v…

Những ngày họp rồi cũng trôi qua. Hai hôm nữa tôi và hai anh Bích, Nhân sẽ quay về thành phố của mình. Tôi nhớ Trâm hơn bao giờ, và trông đợi ngày trở lại ôm Trâm trong vòng tay, và tôi đã mua sẵn món quà làm nàng ngạc nhiên. Thế nhưng tôi không ngờ cái cảm giác bất an, thẫn thờ hôm đưa tiễn Trâm ở phi trường là điềm báo trước đó là lần cuối tôi thấy Trâm. Số mệnh nghiệt ngã đã lấy đi Trâm của tôi. Trâm chết vì tai nạn bên Mỹ. Cái chết đột ngột của Trâm đánh dấu một đoạn đời không bao giờ phai, và đánh dấu sự giã từ những họat động hội đoàn của tôi. Tôi dời đi nơi khác và từ đó không còn dự vào những sinh hoạt cộng đồng nữa.

Hà Đan



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả