BẠC LÒNG
Tôi hồi nhỏ mồ côi cha sớm. Về ở với Bà ngoại lúc chưa tròn sáu tháng tuổi. Nghe nói cha tôi là con trai nhà giàu. Chỉ lo ăn học và thì giờ rảnh rỗi thì đờn ca tài tử. Cha tôi hay mặc bộ bà ba trắng bằng lụa. Đi đôi guốc gỗ vông và đội nón cối màu trắng. Còn mẹ tôi là con điền chủ. Lo may vá, thêu thùa, bánh mứt.Vậy thôi! Bà ngoại tôi goá chồng năm hai mươi hai tuổi. Có được ba người con. Cậu Cả tôi học trường Tây. Nói tiếng Tây như gió. Cậu Út tôi chán đi học chữ. Thích học đàn guitar. Về sau trở nên danh cầm cùng thời với Văn Vĩ - Sáu Tửng ở Sài Gòn. Mẹ tôi là gái. Được cưng lắm. Nhưng không được học quá bậc Tiểu Học. Bà tôi nói: “Con gái học cao lo gởi thư cho trai”. Mẹ tôi giỏi văn chương thi phú. Nhờ đọc sách nhiều và có thể do khả năng thiên phú. Thế rồi, một chiều kia Cậu Cả tôi dẫn cha tôi về nhà ngoại chơi. Cũng gần thôi. Đầu trên xóm dưới vậy mà. Cha Mẹ tôi âm thầm hoạ thơ gởi nhau. Được sáu mươi bài thơ thì thành vợ chồng. Sau cha tôi làm y sĩ cho Việt Minh và chết trong lần lính Tây đi “ba trui”.
Bà ngoại tôi làm chủ hai mươi mẫu ruộng. Sương phụ giàu một nách ba con. Chăm nom con cái rồi chăm luôn đứa cháu côi cút là tôi. Bà ngoại tôi hay kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện đời xưa vào những đêm trăng sáng. Tôi thích nhất câu chuyện “Cứu vật - vật trả ơn. Cứu nhơn – nhơn trả oán”. Lời dặn dò của Bà tôi là hành trang sẽ theo tôi đến suốt cuộc đời:” Làm người ở đời phải biết sống có nhân có nghĩa. Thương người như thương mình.”
Tôi lớn lên giữa thời chinh chiến. Rời xa quê nhà đi Sàigòn học. Rồi vào trường Bộ binh Thủ Đức. Lăn lộn với khói súng, đạn bom mấy năm là vào trại tù Cộng Sản gần mười năm. Lúc “được tha “ đầu sớm bạc. Muối nhiều hơn tiêu rồi! Nhưng hai chữ bạc lòng mới thật sự làm cho tôi đau đớn.
Năm ấy… ***
Rời quân trường, đi vào chiến trường Pleiku sôi động. Một kỳ phép ngắn ngủi đủ cho tôi và Phượng nên duyên vợ chồng. Phượng không đẹp lắm. Dáng người tròn trịa, dễ nhìn. Hơn nữa giọng nhè nhẹ của: “cô em Bắc kỳ nho nhỏ” làm tôi mê mệt.
Cũng giọng nói ấy, mười lăm năm sau như có pha chanh, pha khế khi tôi từ nhà tù Cộng Sản trở về. Cái thất bại của một hàng binh kéo theo cái thất bại của cột trụ gia đình.
Mười năm sau nữa…
Sang Mỹ, chúng tôi ly dị. Người ta nói khi đôi vợ chồng cầm bút ký vào tờ giấy ly hôn là có một con dao vô hình đã chẻ đôi con cái của gia đình ấy. Phải! Tội nghiệp Phương con gái của tôi. Ngày chia tay cho Phương theo mẹ, tôi không quên đôi mắt tròn ngây thơ đẫm lệ nhìn cha, khi Phương bị mẹ kéo ra xe. Thế là hết!
Quá chán chường ngao ngán. Tôi dùng kỳ nghỉ phép nhiều năm bay về Việt Nam thăm mẹ. Rồi tôi gặp lại Trang. Cô bạn cũ ngày xưa. Trang kể tôi nghe cảnh làm vợ làm dâu quá nhiều bất hạnh và đàn con năm đứa của nàng. Trang muốn ly dị người chồng vô trách nhiệm. Suốt ngày chỉ lo cá độ đá gà và nhậu nhẹt liên miên. Trang kể tôi nghe lòng khát khao được đổi đời. Nàng nói phải chi nàng có ít con thôi. Phải chi tôi đừng thù ghét đàn bà. Phải chi có phép nhiệm mầu, nàng lội biển mà qua Mỹ. Không biết sao tôi động lòng thương. Tôi muốn làm hiệp sĩ…
Một năm sau Trang gặp tôi tại San Jose với năm đứa trẻ. Chúng tôi thuê một apartment và chung sống với nhau.
Hồi trước có một đứa con mà bây giờ làm cha năm đứa tôi thấy vui. Phải nói các con nàng khá ngoan. Đứa lớn nhất 12 tuổi. Đứa bé nhất 7 tuổi. Chúng vui vẻ và ồn ào suốt. Trang cứ luôn miệng nói với tôi:
- Anh có mệt không? Tụi nhỏ làm ồn quá. Vào trường hết thì đỡ anh à.
Tôi cười sảng khoái.
-Thương mẹ bế con mà. Vả lại, tính anh thích trẻ con lắm.
- Vậy là em mừng. Chỉ lo anh bị bực mình. Cảm ơn anh.
Một năm, hai năm trôi qua trong bình yên, phẳng lặng. Thỉnh thoảng tôi có nhớ đến Phượng và con tôi: bé Phương. Nhưng sau năm lần bảy lượt tới thăm mà Phượng không cho gặp thì tôi ngao ngán. Tôi không kiên nhẫn nữa. Tự nhủ: Chờ đi. Rồi lá rụng về cội. Đối với tôi, người vợ cũ chỉ còn trong kỷ niệm. Dù là kỷ niệm đau thương.
Ngày đưa Trang đi thi Quốc tịch, nàng hỏi tôi:
- Anh Trường , em có Quốc tịch rồi anh về Việt Nam với em một chuyến đi.
- Có lẽ mình thay phiên nhau về em à. Em tính xem. Hai vợ chồng và năm đứa con. Tiền vé máy bay không cũng đủ mệt. Em quên năm nay Trung đã mười tám tuổi rồi sao?
- Hay anh cho em về trước đi. Năm sau anh về. Được không anh?
Tôi suy nghĩ. Trang về vội làm gì cho tốn tiền? Từ từ cũng được mà. Mẹ của Trang mất cách đây ba năm. Còn bố Trang mất khi Trang vừa tới Mỹ hai tháng. Mau thật! Mới ngoảnh đi ngoảnh lại đã sống với nhau sáu năm rồi. Trung, Trinh, Hiền , Thục đều đã lớn. Không còn tèm lem như lúc mới sang. Trang cũng không còn nét mặt sầu tư, u uất nữa. Da dẻ mịn màng. Đi với nàng, tôi nhớ câu ca dao:
Ra đường thiếp hãy còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
Dù tôi không phải là cha năm đứa trẻ nhưng Trang khéo dạy con. Chúng gọi tôi bằng ba. Tôi lạ một điều chúng không hề nhắc đến cha và cũng không chịu thư từ về thăm gì cả. Tôi hỏi, Trang cười:
- Anh là cha, còn cha nào nữa?
Tôi tự hào trong lòng khi thấy vai hiệp sĩ của mình không phải là hợm hĩnh, vô ích.
***
Đến ngày bay về Việt Nam, Trang căn dặn tôi đủ điều. Một tủ lạnh đầy những món ăn tôi thích. Trang cũng chu đáo ghi lại thời gian biểu cho từng đứa con. Nàng xin đi ba tháng và bảo:
- Bây giờ em nói thật với anh. Em có bệnh đàn bà. Ở đây tiền đâu lo thuốc men cho nỗi. Về bên ấy trị theo Đông Y đỡ tốn kém và kết quả. Anh cố gắng giúp em lo cho các con. Về em sẽ “thưởng”.
Tôi chịu. Trang nói ngọt rồi thì hồn phách tôi xiêu. Sáu năm qua. Trang thật là mẫu người vợ mà tôi yêu mến. Tằn tiện lo cho gia đình. Biết nấu cho tôi những món ăn ngon, bổ, rẻ. Biết cho tôi cảm giác bình an. Biết lắng nghe và cảm thông với tôi những nhọc nhằn sau một ngày tôi về từ hãng. Lâu lâu còn làm vài món ăn để tôi mời mấy ông bạn là chiến hữu cũ đến cùng vui. Tôi thầm nghĩ: À! Vì Trang có bệnh mà sáu năm nay chúng tôi không có một đứa con chung (?)
****
Từ Việt Nam trở lại Mỹ đã được ba tháng rồi. Trang không hề kể gì cho tôi nghe về bệnh trạng của nàng. Mỗi lần tôi hỏi lúc nàng về ở đâu? Chữa bệnh bởi thầy thuốc nào? Tốn kém ra sao? Nàng đều né tránh câu trả lời và nói lảng sang chuyện khác.
Tôí nay, không nằm gối đầu lên cánh tay tôi như thường lệ. Trang ngồi thẳng dậy. Đột ngột hỏi tôi:
- Nếu ly dị nhau thì anh cần điều gì ở em?
Tôi sửng sốt:
- Em tỉnh hay mơ vậy?
Trang nhìn chằm chằm vào tôi - Một cách nhìn sáu năm qua tôi chưa thấy:
- Đơn giản vậy mà anh hỏi em tỉnh hay mơ.
Tôi đùa dai:
- Đơn giản hay “đang giỡn” đây?
Trang lạnh lùng:
- Em muốn mình ly dị. Xin lỗi anh. Em muốn…
Không đợi Trang nói hết câu tôi cười buồn:
- OK! Em muốn! Anh chìu ý em. Nhưng Trang à. Em có thể nói cho anh biết trong sáu năm chung sống anh có lỗi gì với em hay với con không?
- Không. Anh không có lỗi gì hết. Nhưng…
- Thôi được rồi! Chừng nào?
Lời Trang như dao cứa vào tim tôi cách dữ dằn, tàn nhẫn:
- Mai mình đến văn phòng luật sư.
Tôi ra nằm ở sôpha.
Một đêm trắng!….
****
Tôi bị tai nạn lao động ở hãng, nằm nhà gần tám tháng. Còn một tuần nữa bác sĩ sẽ giám định thương tật để hãng quyết định cho phép tôi đi “ cày” lại lúc nào. Về gia cảnh bạn bè an ủi tôi:
- Thôi tất cả đã qua rồi. Thua keo nầy mình bày keo khác. Đàn ông đâu có sợ già, sợ ế gì.
Đúng rồi! Tất cả mọi chuyện đều đã qua. Chỉ có nỗi đau là còn lại. Đau quá! Cả hai lần kết hôn tôi đều trải lòng quân tử ra mà sống cùng người phối ngẫu mình. Người đàn bà thứ nhất khinh khi tôi khi tôi sa cơ, thất thời, thất thế. Người đàn bà thứ hai dùng cạm bẫy ngọt ngào đánh động lòng trắc ẩn nơi tôi. Rồi giữa lúc đường đời tưởng như bằng phẳng ấy “ cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”. Trang gấp rút ly dị tôi để mau mau bảo lãnh người chồng cũ sang, với luận điệu đầy nghĩa tình:
- Anh Trường tha lỗi cho em. Dù sao anh ấy cũng là cha của năm đứa con em. Tội nghiệp chúng. Chúng vô tội! Em hy sinh cuộc đời mình vì tương lai các con. Trước đây anh đã thương em, cứu vớt đời em giữa cơn bĩ cực thì xin anh thương cho trót. Anh hy sinh một mình anh mà cứu được cuộc đời của bảy con người. Anh không thấy hãnh diện vì việc làm phúc đức của mình sao?
Ôi! Miệng lưỡi đàn bà! Tôi phải làm chuyện phúc đức ấy ư? Tôi đã hết lòng với đàn bà sao đàn bà lại bạc lòng với tôi như vậy?
HOÀNGYẾN