Tạ ơn Trời, Tạ ơn người

 

Hai chữ "Tạ ơn" không phải chỉ dành riêng cho một dân tộc hay một tổ chức mà ở bất cứ nơi đâu, đã từ lâu, "Tạ ơn" đã được thể hiện qua rất nhiều hình thức như tục lệ cúng ông bà vào ngày tết, sự tích bánh dày bánh chưng, lễ cúng Thần Nông, lễ tế đàn Nam Giao của các vua Việt Nam, Thánh lễ Misa trong đạo Thiên Chúa, Tết Thượng Nguyên trong Phật giáo, lễ Thanksgiving bên Mỹ, Eucharischia của người Do Thái, lễ tế  thần của các dân tộc, v.v ... 
 
Ngoài các nghi lễ, các tục lệ chúc Tết cha mẹ, chúc Tết thầy cô cũng là một hình thức tạ ơn.  
 
Tạ ơn là một sự thể hiện tấm lòng với Trời, với người. Bên ta hay nói tạ ơn Trời, tạ ơn người, tạ ơn đời. Khi ta nói cám ơn là miệng ta phát ra tiếng nói để diễn tả tâm trạng. Tạ ơn cần hai điều quan trọng đó là tấm lòng và hình thức. Nếu chỉ có hình thức mà thiếu lòng thành thật thì đó là lối tạ ơn cho có lệ, còn nếu chỉ ghi ơn sâu xa thầm kín trong lòng mà không thể hiện nói ra thì người ra ân có thể hiểu lầm mà nghĩ là kẻ vô ơn.
 
Bài viết này xin ghi lại một số chi tiết của một vài ngày lễ mang ý nghĩa tạ ơn.
 
- Lễ Quốc Khánh của mỗi quốc gia là lễ mừng trọng đại của mỗi dân tộc vọng tưởng và ghi ơn tiền nhân. Đặc biệt bên ta còn ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày con dân Việt Nam
tưởng nhớ và tạ ơn công lao dựng nước.
 
-  Tết Thượng Nguyên, còn gọi là Tết Nguyên Tiêu, nhằm vào ngày rằm tháng giêng âm lịch. Ngày này còn gọi là ngày vía của Phật Tổ. và thường được tổ chức ở chùa chiền. Chư Tăng và tín đồ tạ ơn Đức Phật. Ngày này Đức Phật giáng lâm để chứng độ lòng thành của Chư Tăng cùng Phật tử. Sau buổi lễ mọi người về nhà cúng gia tiên. 
 
- Lễ Misa trong đạo Thiên Chúa là lễ Tạ Ơn. Lễ này được cử hành mỗi ngày và đặc biệt hơn cả là ngày Chúa Nhật. Thánh Lễ Misa có thể chỉ có một Linh Mục giữ nhiệm vụ chủ tế. Vào dịp trọng đại, có thể được hành lễ bởi 3 hay 5 Linh Mục. Mở đầu buổi lễ, Chủ Tế và giáo dân trao đổi những câu kinh sau:
 
. Chúa ở cùng anh chị em  - Và ở cùng cha
. Hãy nâng tâm hồn lên -  Chúng tôi đang hướng về Chúa
. Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta - Thật là chính đáng.
 
- Lễ Tế Thần Nông xuất hiện từ phong tục của người Trung Hoa nhưng vì chúng ta là con cháu Thần Nông nên dưới thời Quân chủ, lễ này được tổ chức trọng thể ở kinh đô và các tỉnh, vào ngày lập xuân. Lễ này tế lễ vua Thần Nông để cầu cho mùa màng được tốt đẹp. Trong các bức tranh cổ, vua Thần Nông là hình mục đồng dắt trâu trên ruộng lúa. Ở kinh đô Huế, trước Tết các quan phải cho nặn một tượng hình con trâu và tượng vua Thần Nông. Hai ngày trước buổi lễ, các quan phải dẫn tượng trâu và vua Thần Nông đến một cái đài để cúng Thổ Công, nghĩa là trình với Thổ Công địa phương về sự hiện diện của vua Thần Nông và con trâu. Đến ngày hành lễ, các quan trong bộ Lễ mang tượng Thần Nông và trâu đến đài hành lễ. Đi ngang qua cung vua thì ngừng lại để báo cho vua biết. Sau đó đoàn hành lễ đi qua bộ Lễ. Tại đây đánh vào lưng trâu ba roi ý nói năm nay trâu phải chăm chỉ làm lụng. Tới đài hành lễ, tế vua Thần Nông xong thì các quan cho quân lính mang tượng vua Thần Nông và trâu đem đi chôn. Tại các tỉnh cũng hành lễ theo cùng một hình thức do quan phủ đứng chủ tế.
 
- Lễ Tế Đàn Nam Giao xưa kia là lễ tế lớn nhất, lớn hơn cả lễ tế xã tắc và tôn miếu. Đây là lễ tế Trời Đất do chính nhà vua chủ tế sau khi đã trai giới ba ngày, ăn rau, nằm đất. Hiện nay các nhà khảo cổ đã tìm ra dấu vết của các đàn Tế Nam Giao có vào thời nhà Hồ, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.   
    
- Lễ đón ông bà về ăn Tết với con cháu, cúng giỗ tổ tiên cũng là một cách tạ ơn theo truyền thống "uống nước nhớ nguồn". Sở dĩ dân ta có  ngày lễ cúng tổ tiên vì ngày giỗ kỵ của riêng từng người chỉ được con cháu tổ chức nhiều lắm là trong vòng chín đời gọi là cửu tộc. Chín đời trong giòng họ từ trên xuống dưới được gọi là Cao, Tằng, Tổ, Phụ, thân mình, Tử, Tôn, Tằng Tôn và Huyền Tôn. Con trai nào lớn nhất trong giòng họ được ông bà gọi là "Đích Tôn". Những người qua đời dưới 16 hay 18 tuổi tùy vào địa phương không có ngày giỗ. Vua Gia Long được gọi là Cao Hoàng là gọi theo thứ tự trong cửu tộc.
 
Trong việc tế  tụng, nghi thức thường là những hình thức lậy và vái. Nhiều nơi còn gọi vái bằng chữ "bái". Bái là tiếng cổ, tiếng Việt ta ngày xưa không có  vần chữ V. Khi nào không lậy được thì vái, thí dụ "vái thinh không", "vái vật". Sau khi lậy có thể vái ba vái nhưng ba vái sau khi lậy không còn ý nghĩa tế lễ nữa mà chỉ còn ý nghĩa chào tạ từ. Đàn ông khi lậy phải quỳ một gối xuống, các bà thì ngồi xếp chân vành tròn như Đức Phật ngồi. Có  nhiều nơi các bà ngồi bằng các quỳ gối xuống rồi ngồi trên gót hai bàn chân. Khi đã trong vị thế đứng hay ngồi thì chắp hai tay để ngang miệng, đưa lên tới trán rồi khum mình xuống. Vái thì đứng thẳng, hai tay theo vị trí  như lậy. Ở những nơi đồng hoang, lầy lội vái được thay thế lậy.
   
Về số lậy hay vái, phải tôn trọng đẳng cấp tôn ti của người được tế. Con cái lậy cha mẹ hai lần. Lậy chư tăng 3 lần, tức là theo Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Phật, Pháp,Tăng lần lượt mang ý nghĩa giác ngộ, chánh đáng và thanh tịnh. Lậy người quá cố như ông bà, cha mẹ và thánh thần thì lậy 4 lần. Bốn lần đây là biểu tượng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương và tứ tượng. Tuy bốn phương là đông, tây, nam, bắc nhưng đông và nam thuộc về dương, còn tây và bắc thuộc về âm. Tứ tượng là Thái dương, Thiếu dương, Thái âm, Thiếu âm. Như thế  thì lậy bốn lậy để chỉ về sự hài hoà của trời và đất. Lậy vua chúa, Giỗ Tổ Hùng Vương phải lậy 5 lậy. Năm lậy này tượng trưng cho ngũ hành Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Ngày xưa khi vua đăng quang, trước khi lên ngôi cũng phải lậy vào Ấn Kiếm truyền quốc 5 lậy rồi mới lên ngồi trên ngai để cho các quan lậy lại 5 lậy.
 
- Lễ Tạ Ơn nổi tiếng khắp thế giới chắc chắn là lễ Thanksgiving bên Mỹ. Ngày 6 tháng 9 năm 1620 một đoàn 102 người Pilgrims (nam, nữ và con cái) đáp  tàu buồm Mayflower khởi hành từ bến tàu Plymouth ở miền nam nước Anh sang Tân Thế Giới. Họ cập bến sau 66 ngày lênh đênh trên biển cả (vào ngày 11 tháng 12 năm 1620) tại bờ biển của tiểu bang Massachusetts. Nơi họ ngừng lại định cư đã được thuyền trưởng John Smith đặt tên là Plymouth, trùng tên với thành phố khởi hành bên Anh quốc. Năm  đó vào mùa đông lạnh lẽo, 46 người qua đời. Năm sau nhờ sự giúp đỡ của dân bản xứ, mùa màng được tốt đẹp. Vì vậy cộng đồng này đã tổ chức lễ Tạ Ơn và mời 91 người dân địa phương đến chung vui.  Lễ Tạ Ơn đã được tổ chức sau đó khắp nơi trên đất Mỹ nhưng ngày giờ không giống nhau. Phải đợi đến khi có cuộc chiến chống lại đế quốc Anh dành độc lập, lễ Thankgiving mới được ông Washington chọn vào ngày 26 tháng 11 năm 1789. Trong thời chiến tranh nam bắc, các tiểu bang định ngày lễ Thanksgiving khác nhau. Người bỏ nhiều công lao để vận động cho một ngày Thanksgiving quốc gia là bà Sarah Josepha Hale. Năm 1863, tổng thống Abraham Lincoln đã chọn ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày lễ Thanksgiving; nhưng năm 1940, tổng thống Roosevelt lại chọn ngày thứ năm của tuần lễ thứ tư của tháng 11 cho ngày lễ.


Tháng 10 năm 2005

Phạm Vĩnh



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả