Chuyện Thi nương
Chuyện Thi nương
Chuyện rằng, thời Lê Nho giáo hưng thịnh, đền đài, lăng mộ, thế miếu được xây dựng khắp nơi. Phật giáo dường như đứng trước ngưỡng cửa suy tàn. Đó đây là cảnh chùa hoang phế, khiến trong nhân gian thần quỷ được một phen hoành hành.
Tại trấn Nam có một người họ Trần tên Thế, thường gọi là Thế Sinh. Chàng dáng người nho nhã, môi đỏ mắt sáng, văn hay chữ tốt, các ngón đàn hát thi phú thảy đều thành thạo. Gia đình Thế sau mấy chục năm quân Minh xâm lược đã ly tán khắp nơi, chỉ còn hai mẹ con nương tựa vào nhau mà sinh sống. Nhà hai nếp rộng rãi giữa một vùng cỏ cây đồi núi hoang sơ không bóng người lui tới. Mẹ già hôm sớm quẩy gánh ra chợ nuôi con ăn học, còn Thế ngày đêm chuyên cần ôn luyện chờ cơ hội ứng thí thái học sinh đặng trở thành văn thần phò trợ quốc gia.
Một đêm hạ tuần tháng tám, bóng trăng nhè nhẹ soi qua vách, núi đồi xung quanh như sẫm lại, cảnh đẹp khiến xiêu lòng người. Thế động lòng ngâm một bài thơ
Hạ tuần nguyệt khuất giữa trời sương
Đồi núi thâm u đẹp lạ thường
Vừng sáng mong manh buồn bã hắt
Dải mây mờ ảo nhạt nhòa buông
Côn trùng réo rắt dâng lời hát
Hoa lá âm thầm hiến sắc hương
Hun hút thung khuya cơn gió lạnh
Bóng trăng che phủ khắp con đường.
Chợt thấy tiếng một người con gái ngâm khe khẽ từ bên kia vách
Bóng trăng che phủ khắp con đường.
Khe đá, phong lan tỏa ngát hương
Làn gió say sưa nhè nhẹ thổi
Mùi hoa vương vấn dịu dàng buông
Đỉnh non, chênh chếch xa vời vợi
Đáy nước, long lanh sáng lạ thường
Lấp lánh sao rơi hòa bóng tối
Mặt sông trắng xóa một màu sương.
Chàng đẩy cửa ra, chỉ thấy một thiếu nữ tóc cài hoa buông trễ, nhan sắc tợ đoá hoa hải đường mới hé, vội vã cúi mình thi lễ, ngẩng lên đã không thấy nàng đâu, chỉ thấy tiếng cười xa xa vẳng lại.
Lòng chàng mê mẩn, người ngọc xuất hiện trong chốc lát đã làm đảo điên thần trí Thế. Từ đó, mấy ngày, đêm nào Thế cũng ngóng trông bên cửa mà không thấy nàng. Thế đổ bệnh liệt giường mất mấy tuần. Sau nhờ có mẹ già chăm sóc và khuyên giải, chàng mới dần hồi phục. Trưa đó, ngồi cầm sách trong tay, không học được, chàng cầm bút đề một bài Tương tư khúc
Tương tư nhạc khúc vọng đâu đây
Chén rượu cô đơn cạn chốn này
Ngóng đợi tình nương trời có thấu
Chờ mong người ngọc đất nào hay
Tình duyên luyến ái tàn hương lửa
Biệt khúc ly tan quyện đắng cay
Tấu khúc tri âm tình đứt đoạn
Người đi khuất nẻo bóng câu bay.
Chợt lại thấy một tiếng cười se sẽ vang lên, tiếng cười làm chàng đau khổ bao nhiêu ngày trời, rồi một giọng ngâm sẽ sàng bên tai
Có phải chàng còn nhớ tới em
Rụt rè thiếu nữ đứng bên thềm
Mày ngài huyền ảo làn mi ướt
Mắt phượng đoan trang suối tóc mềm
Tâm sáng ngây thơ, lời ngọc thốt
Gót sen mềm mại, bước chân êm
Nếu thương hãy ngỏ đừng chôn giấu
Nói thật đi chàng, có nhớ em?
Chàng xô cửa ào ra, nắm chặt lấy tay thiếu nữ, không để cho nàng đi mất như lần trước, chỉ thấy mắt phượng mày ngày, hình dung đoan trang, thẹn thùng không dám rút tay về. Trang phục rõ là thiếu nữ khuê các, áo thêu chỉ vàng tha thướt, eo lưng nhỏ thắt đai đỏ thật duyên dáng. Chàng lấy làm hoan hỉ, nói rằng
“Cô nương có biết tôi nhớ cô đến mức thế nào không?”
nàng cười
“em biết, chàng đã vì em khổ biết bao nhiêu, nhân hôm nay chú đi thăm bệnh, em sang thăm chàng cho thoả nỗi nhớ mong bấy lâu nay”
Hỏi ra, nàng là người cháu gái nhà đại phu họ Hà, tên là Thi, nhà dưới biển lên trên vùng đồi núi này hái thuốc trị bệnh cứu người. Chàng càng cảm kích vô phần, cùng nàng ngồi đàm đạo, thì thấy nàng thông tuệ vô cùng, chuyện gì về văn thơ nhạc hoạ nàng đều rành rẽ.
Hai người ngồi ngâm vịnh, càng ngày càng lấy làm tâm đắc.
Trước khi trời xẩm, nàng từ biệt chàng ra về, mắt chừng như lưu luyến lắm. Hẹn hôm sau sẽ ghé thăm chàng.
Thật là
Bến vắng xui lòng nhớ ngẩn ngơ
Khi nao gặp lại thỏa mong chờ ?
Khách qua sông vắng, thuyền rời bến
Người lại đò vui, sóng cập bờ
Tay nhỏ đan hồn nên điệu hát
Môi xinh dệt ý hóa vần thơ
Chia tay mắt ướt hồn xao xuyến
Quân tử tình nương dệt giấc mơ.
Mấy hôm sau, vẫn không thấy nàng ghé lại, chàng bồn chồn không yên dạ, không làm gì nổi, không biết vì sao nàng thất hẹn, chàng buồn quá, viết thành thơ
Tình ái là chi khổ thế này
Bay hoài xa mãi khỏi tầm tay
Chôn vùi vào mộ câu tình tứ
Đốt cháy thành tro phút ngất ngây
Chạm cốc uống tràn lời giã biệt
Nâng ly cạn hết nỗi chua cay
Thế gian bạc bẽo là như thế
Duyên phận phai theo chuỗi tháng ngày
Chợt thấy ấm mềm sau lưng, nàng đã đẩy cửa vào lúc nào, ôm lấy chàng âu yếm. Hai người một nam một nữ tình trong như đã không kiềm lòng nổi quấn quýt lấy nhau trong niềm hoan lạc.
Nụ hôn đầu tiên đọng lại trên môi nhau, sau chàng có làm một bài thơ vịnh
Trên môi đọng lại nụ hôn đầu
Run rẩy lòng trần, thở thật sâu
Thời khắc ngọt ngào quên đớn khổ
Phút giây sung sướng biệt u sầu
Tỏa lan hơi ấm làn da ngọc
Khép lại làn mi sóng mắt nâu
Hương vị tình yêu bừng lửa cháy
Trong tim nhịp đập rộn kinh cầu
Nàng cũng làm một bài thơ lưu giữ kỷ niệm giữa hai người
Xin đừng xa cách trái tim yêu
Ai nhắn bên tai tựa gió chiều
Chắp cánh tình nồng bay chấp chới
Nâng hồn gót ngọc bước phiêu diêu
Ủ mềm tình ái, vòng tay cuốn
Cháy bỏng tâm can, ngọn lửa thiêu
Sào cắm thuyền thơ dừng bến mới
Thôi từ biệt nhé, kiếp cô liêu.
Hai người từ đó như đôi chim uyên ương, ngày ngày kề cận, hương lửa mặn nồng. Mấy lần chàng muốn thưa chuyện lại với mẹ mang trầu cau đến nhà nàng dạm ngõ thì nàng thường gạt đi, lựa lời nói rằng
“Thực là chưa đến lúc vì gia đình em đang có tang cha phải chờ mãn 3 năm mới tính đến chuyện cưới xin được. Hiềm một nỗi nữa là mẹ chỉ mong chàng thành tài, áo gấm về làng nên chưa muốn chàng xao lãng vì có người nữ bên cạnh quấy rầy. Nhưng vì tình lang và vì chính em, em sẽ ngày ngày đến chăm sóc cho chàng, mong chàng một ngày rạng rỡ làm đẹp lòng tổ tiên.”
Chàng nghe nói cũng cho là phải, mỗi sớm mẹ ra khỏi nhà đều ngóng nàng tới, trò chuyện, học cùng nhau đến trước khi trời xẩm mẹ quẩy gánh từ chợ về là nàng từ giã.
Chàng và nàng càng ngày càng bạo dạn hơn, trong gẫn gũi xác thịt và trong cả thi từ.
Nàng xướng
Đỉnh núi mây buông trắng lững lờ
Xa xa lau cỏ mọc lơ thơ
Măng non một nhánh len hờ hững
Cuội xám hai hòn đứng chỏng chơ
Mỏm đá hồng hồng đào lộn hột
Đáy khe sánh sánh nước ôm bờ
Đất nhung, cỏ mịn, cò bay lượn
Cảnh đẹp Thiên Thai, khách ngẩn ngơ
Chàng họa
Nguyệt tỏ đêm nay, gió lững lờ
Trăng tròn mười sáu nét ngây thơ
Ngoằn nghèo lũng thẳm đường hun hút
Sừng sững non cao vách chỏng chơ
Gấp gáp chồi len đầy kẽ đá
Xốn xang cỏ mọc rậm ven bờ
Hằng Nga dáng ngọc tươi mơn mởn
Hậu Nghệ nhìn trời tiếc ngẩn ngơ
Nàng lại tiếp
Tiên cảnh chênh vênh, đảo lập lờ
Mây về vần vũ, đẹp như thơ
Từ nguồn lạch nước tuôn âm ỉ
Tới bến cột buồm gẫy chỏng chơ
Lốc giật tơi bời, mưa trút nước
Xoáy trào dồn dập, sóng xô bờ
Trời yên biển lặng, cuồng phong dứt
Lại nhớ vòi rồng đến ngác ngơ?
Có những lúc chơi đố nhau qua thơ, nàng hỏi
Đêm qua nguyệt hạ, gió lùa song
Mê mải ôm chi đánh giấc nồng?
Đoạn dưới mềm mềm lèn giữa háng
Phần trên ấm ấm nhét bên trong
Thân chồm giữ chặt nơi viền mép
Chân quấn buông hờ phía mặt lông
Chập tối người đau, giờ mãn nguyện
Muộn rồi trở dậy mãi chưa xong
Nàng hỏi chưa dứt lời thì chàng đã cười hỏi lại
Kìa thanh gậy trúc chọc song song
Ở giữa non cao gió tỏa nồng
Cỏ rậm xanh rì chen tới đỉnh
Rễ chùm ẩm thấp lách vào trong
Dọc ngang uốn lượn bờ khe lạch
Trên dưới tung hoành nét bút lông
Thư pháp thêm đôi hàng chấm phá
Cái gì ta vẽ mới vừa xong
Cứ thế đôi bên đối qua đối lại trong tiếng cười khúc khích, trong ái ân mặn nồng. Thấm thoát cũng được nửa năm. Chàng và nàng đã hứa hẹn với nhau biết bao nhiêu điều, mong ngày áo gấm vu quy là ngày nên nghĩa vợ chồng. Chàng học hành giỏi giang tấn tới, trên thông lầu kinh sử, dưới hiếu thảo hầu hạ mẹ chu toàn, thật không còn gì tốt hơn. Đến một hôm, chàng thấy nàng dung nhan héo úa, mắt thâm quầng mệt mỏi, bồn chồn không yên. Gặng hỏi, nàng không nói gì, chỉ nhìn bông hoa phù dung héo úa trên cành và ngâm:
Muôn kiếp loài hoa thật đáng thương
Xót xa nhỏ lệ, mắt buồn vương,
Tàn phai, nhạt sắc, đời mây nước,
Héo úa, bay màu, kiếp gió sương.
Sớm nở, nỉ non ly biệt khúc,
Chiều về cô quạnh bến sông Tương.
Thời gian ngắn ngủi đời hoa đó,
Dâng trọn tình yêu, trọn sắc hương.
Nàng nói:
“Đời em âu cũng như loài hoa sớm nở tối tàn long đong lận đận, cứ nghĩ được hầu hạ chàng trọn đời, nhưng nay nghiệp số đã hết, hẹn chàng còn có duyên nợ thì ba năm sau vào ngày rằm tháng 8 chúng ta sẽ gặp ở bến sông bên chân núi Linh Đọi, chàng nhớ mang theo một nhành hoa lan màu tím.”
Rồi từ biệt chàng, chàng nắm tay kéo lại, chỉ thấy bóng nàng mờ dần, mờ dần, môi vẫn nở một nụ cười trìu mến, trời nổi cơn giông gió lẫn trong tiếng gọi ngày càng xa của nàng
“tình lang, xin đừng đau lòng, chàng hãy vu quy bảng vàng nghe, em sẽ đợi chàng, chàng nhất định phải đến, nếu không hồn em mãi mãi không được siêu sinh”.
Chàng mới biết nàng không phải là người thường. Nàng là tiên chăng , hay là quỷ?
Sau có bài lục ngôn thể về cuộc chia tay này
Chia tay nuốt lệ mặn bờ môi
Tiếng gió đưa tang vẫn khóc hời
Trời rỏ lệ sầu chua chát
Mây đưa bóng khuất mù khơi
Bi thương sấm sét gào muôn lối
Cùng quẫn bão mưa nghẹn nửa lời
Trời cũng cảm thương cho số phận
Riêng ai vẫn hé nụ môi cười.
Than ôi, đời người và quỷ hay tiên, liệu có thể cùng nhau tạo một tổ ấm được chăng?
Thế Sinh đau mất tháng trời, nhờ ơn mẹ già chăm lo thuốc thang dần dần hồi phục, nhớ lời nàng trước khi ra đi, chàng khăn gói lên kinh ứng thí. Quả nhiên năm đó đỗ bảng vàng, mũ áo vinh quy về làng, mẹ già lấy làm vui mừng lắm. Chàng hỏi thăm nhà đại phu họ Hà, thì thấy cảnh tiêu điều, gia đình đã ly tán cả, không còn ai ở đó đã hơn vài năm nay.
Về chốn cũ, lòng nhớ người xưa không bút nào tả nổi, mới đề một bài thơ
Buồn loang theo vết bước chân côi
Chiều tím hoàng hôn phủ xuống đồi
Hẻm xuống ngập trời hoa ngũ sắc
Lối về trải thảm cúc mâm xôi
Sương luồn dưới cỏ vi vu hát
Suối chảy theo dòng róc rách trôi
Cảnh đẹp vắng nàng sao lạnh lẽo
Lệ tràn mắt buốt hỡi người ơi.
Nhưng chỉ thấy cảnh, người nào đâu thấy, mắt buốt tim đau, chỉ vin vào mộng ước ba năm sau gặp nàng mà lòng thôi bấn loạn.
Theo ý chỉ của vua, chàng về triều làm quan, nổi tiếng là một bậc trung nghĩa vì dân. Sau có quan đại thần họ Tiền muốn kết tình phu phụ cho con gái mình mới chàng, mời đến nhà dùng cơm, cho con ra hầu rượu. Tiền cô nương yểu điệu thướt tha, mắt biếc môi hồng, là một trang giai nhân tuyệt thế. Người thời cao ráo, tóc dài mượt mà, khoé mắt đa tình, nụ cười mê hồn, răng trắng ngà ngọc. Thế Sinh dường thấy hồn chao đảo, lòng không khỏi giật mình nghĩ đến chuyện phụ người. Đã biết nữ sắc thường hại người, vua mê sắc thì mất nước, quan mê sắc thì mất nhà, người thường mê sắc thì hại thân. Nhưng than ôi, đàn ông trên đời mấy ai qua được ải nữ sắc. Nhưng nàng Thi và chàng nào đã có danh phận gì đâu, chỉ là những lời hứa hẹn trăm năm có nhau. Hỏi ra, biết nàng tên là Danh, họ Hồ, cha mẹ mất sớm, giờ là nghĩa nữ của quan họ Tiền nên đổi họ thành họ Tiền.
Chàng và Danh nương hai ý tương thông, mới gặp mà tưởng như đã quen thân từ kiếp trước, nhưng hiềm nỗi vì còn lời ước hẹn với Thi nương nên còn lần lựa. Sau chàng cáo biệt ra về, lòng không khỏi chao đảo về người đẹp. Dần dần bộn bề việc công, chàng quên bẵng cuộc gặp gỡ nọ.
Trời chuyển tiết Thu, ngày rằm tháng tám, còn một năm nữa đến cái hẹn gặp nàng, Thế Sinh đi dạo bên cầu, phóng bút đề thơ trên lá
Người ơi trời chuyển tiết Thu rồi
Se lạnh heo may quấn quýt tôi
Nắng chiếu âm thầm qua kẽ lá
Gió lùa khô khốc cả bờ môi
Cánh hoa tàn rụng hoài không dứt
Bóng lá vàng rơi mãi chẳng thôi
Có phải Thu buồn ? tôi cũng vậy
Bởi người xa mãi chẳng chung đôi.
Viết xong, thả tung chiếc lá xuống dòng nước, ai dè chiếc lá đột nhiên chuyển hướng, bay sang mé bờ Tây, đậu xuống dưới chân một thiếu nữ. Thiếu nữ này chính là Tiền cô nương. Thế Sinh thẹn thùng, chạy qua xin lại bài thơ. Nàng ta nhặt được, đọc xong liền trả lại cho Thế Sinh mà rằng:
“Thiếp từ nhỏ khổ cực trăm bề, nay giờ nghĩa phụ dạy bảo nhưng vốn tư chất không được mau lẹ nên viết văn làm thơ không được nhuần nhuyễn, nay có chàng ở đây, mong được chỉ giáo thêm về thi phú”
Nói đoạn mời chàng đến một khu vườn nhỏ phía Đông thành, chỉ thấy cá lội tung tăng, gió mát đìu hiu, cảnh vật thâm trầm, đường dạo uốn lượn, cây xanh ngút ngàn, thật là chốn thiên đường trần gian.
Trên căn lầu xây cất giữa khu vườn, giờ chỉ có hai người và 2 tì nữ theo hầu. Nàng vẫy tay cho 2 tì nữ lui ra, mắt lả lơi rót chén xuân tình trao cho Thế Sinh.
“Đây là khu vườn cha thiếp dành riêng cho thiếp để giải sầu và chờ tình lang”, nàng cười khe khẽ và nói, “nơi đây chỉ có tình lang của thiếp mới được đón tiếp mà thôi”, nói rồi nàng khẽ trách “ hôm trước gặp chàng tại tư gia, thiếp đã sớm là người của chàng rồi, vậy tại sao chàng không thèm để ý gì đến thiếp? có phải thiếp không đủ xinh đẹp, không đủ tài năng, không đủ dịu dàng để xứng với chàng?”
Thế Sinh lật đật vòng tay thi lễ
“Tại hạ được cô nương đoái tới, tưởng không có gì bằng, nhưng giờ tại hạ đang có lời ước hẹn với một người, năm sau sẽ gặp nhau, vì người đó, tại hạ đã ghi danh bảng vàng, làm các việc lợi ích cho dân, mong nàng hiểu cho, nếu năm sau, ta gặp nàng ta, sẽ xin đón nàng về chung một nhà”
Nàng biến sắc, rồi lả lơi cười
“Lời của tình lang cho thấy tình lang là một người quân tử, một dạ sắt son, được gửi tấm thân cho chàng tiện thiếp thấy quả không còn gì bằng. Nhưng thời gian thấm thoát, biết lòng người thay đổi ra sao, thiếp đã đưa chàng vào đây, há nào lại để chàng đi, còn gì là tiết trinh của người con gái nữa”
Nói rồi toan đập đầu tự vẫn, chàng vội vàng ngăn lại, thấy những giọt lệ đọng trên mi, dung nhan đẹp đẽ, hơi thở thơm ngát, lòng dục nổi lên ôm lấy nàng tỏ chuyện chăn gối. Nàng quả là đẹp, đẹp hơn Thi nương nhiều quá, nàng biết cách săn sóc lấy lòng chàng, biết cách kiềm chế và điều khiển chàng, chàng thấy mình thật là có phước.
Trọn đêm hôm đó, mưa gió nổi lên, sấm chớp ầm ào, chàng và nàng thủ thỉ nói chuyện trăm năm.
Sang tuần, xe ngựa xênh xang, đèn hoa rực rỡ, trước cổng nhà chàng có dán chữ song hỉ, thật là một ngày đại vui cho hai họ.
Dần dà, chàng mê đắm vợ mới, công việc bận rộn chẳng có thời gian nhớ Thi nương nữa. Tuy nhiên vẫn không quên lời hứa ban đầu. Trước ngày rằm tháng tám, tự dưng chàng thấy người mệt mỏi khác lạ, và thiếp ngủ quên cả lời hẹn ước.
Đêm xuống, trăng rằm soi tỏ bầu trời, một dáng người bé nhỏ bên cạnh cửa, nhìn chàng qua song, một tiếng thở dài, và một giọng ngâm
Trời lạnh rồi ư, nắng nhạt phai?
Hững hờ, gió cũng chẳng buồn lay
Nhuộm buồn lối vắng màu hoa chết
Thêu tím trời chiều sắc lá bay
Mặt đất khô cằn không bụi cỏ
Bầu trời u ám chẳng làn mây
Ánh đèn hiu hắt lời than thở
Em đứng bên hiên dáng nhỏ gầy
Em đứng bên hiên dáng nhỏ gầy
Chờ chàng xa mãi cuối chân mây
Tình yêu thuở ấy, mòn tim vỡ
Lời nói hôm nào, thoảng gió bay
Sáng sáng tay buồn buông tóc chải
Đêm đêm gió buốt níu rèm lay
Tháng ngày nối tiếp trôi đằng đẵng
Ký ức về chàng chẳng nhạt phai.
Thế Sinh choàng tỉnh cơn mơ, vội vã tung cửa chạy ra, thấy Thi nương đứng đó, mặt dàu dàu, mắt ngấn lệ, hình dung tiều tuỵ biết bao nhiêu? Chàng chợt nhớ hôm nay là rằm tháng 8, ngày hẹn ước, ta đã quên mất rồi. Chỉ thấy bóng nàng nhạt nhoà, dắt một đứa con nhỏ chừng hơn 2 tuổi, nói với chàng:
“Em là tinh hoa, tuy em mang thân hoa, nhưng hồn em do tình trong thơ chàng lâu ngày mà thành, nên khi chàng làm thơ, là tất em sẽ hiện ra bên cạnh chàng, khi chàng làm thơ hay, em sẽ tươi đẹp hơn, khi chàng làm thơ chán nản, em cũng u sầu theo và khi chàng không còn làm thơ nữa, em cũng chẳng thể có mặt trên thế gian này. Hiềm một nỗi, em đã đi quá xa giới hạn với chàng, đã cùng chàng chung sống sinh ra một đứa con thơ. Em bị bề trên quở phạt, không cho hồn tụ trong ba năm, chỉ khi hồn em tụ lại, chàng mang cây lan tím đến chân núi theo lời hẹn, thì tức thì em sẽ mượn được thân hoa mà trở về với chàng, ngờ đâu chàng thất hứa, nay con nhỏ giao cho bà già bên bến sông chân núi Long Đọi dưỡng dục, chàng hãy chăm sóc cho con”
Nói rồi trên khuôn mặt lăn xuống hai dòng lệ, ngậm ngùi ngâm
Đời em bạc bẽo cõi vô thường
Khóe mắt môi mềm ướt giọt sương
Kiếp khổ sầu bi buồn ánh mắt
Đời buồn cay đắng xám tà dương
Vì duyên chẳng hợp nên tan rã
Bởi phận không thành khiến vấn vương
Cây cỏ canh thâu xào xạc khóc
Thương em trăng thức suốt đêm trường
Rồi từ từ vừa khóc vừa đi, tới gốc liễu bên sông thì biến mất, Sinh đuổi theo, vấp mấy lần, tưởng nắm được nàng mà lại không được. Chỉ thấy nàng nói “hồn em sẽ luôn bên chàng khi nào chàng buồn, khi nào chàng vui, vì em là hồn thơ của chàng”.
Hồn nàng siêu thoát không được, chỉ mong được ở cạnh chống sớm khuya chăm sóc, có thơ thương cảm như sau
Từng hạt mưa rơi đọng lá thu
Bầu trời u ám phủ mây mù
Mảnh mai gốc liễu lời em khóc
Vi vút rừng thông tiếng gió ru
Hơi thở chìm sâu trong lặng lẽ
Hồn hoa lướt nhẹ giữa âm u.
Thu về một cõi liêu trai ấy
Hồn vẫn quẩn quanh nhớ án thư.
Lại nói chuyện nàng Tiền Danh, không muốn chồng sẻ chia cho người đàn bà khác, trong lòng căm tức mới nhờ thầy đạo về trổ tài nghệ, làm phép hôn mê, quả nhiên Sinh đi vào giấc ngủ triền miên không gì cưỡng lại nổi, khiến lỗi cái hẹn ba năm với Thi nương, khiến nàng ta uổng mạng. Kế đến, thấy chồng tỉnh lại thần trí mơ màng, chàng chỉ muốn làm thơ để hồn Thi Nương hiện lên gặp gỡ, nhưng mãi không làm được câu nào.
Đúng là:
Tình thơ lạc lõng giữa bơ vơ
Cũng bởi Thu sang mãi lững lờ
Mái ngói phơi vài hàng cỏ úa
Tường vôi trơ những mảng rêu khô
Chớm thu cảm hứng hoài tìm kiếm
Hết hạ nguồn thơ vẫn đợi chờ
Chỉ thấy mưa ngâu buồn rả rích
Trong nhà trang giấy trắng vần thơ.
Thần trí Thế Sinh hôn mê như vậy, không thể nào là thơ được, Tiền Danh càng cảm thấy căm tức, lại nhờ thầy giúp đỡ, sao cho chồng tỉnh ra và thôi nhớ về chuyện cũ. Thầy làm phép, dán đạo bùa lên tất cả các cửa ra vào khiến hồn Thi Nương không còn nơi nương tựa và tưởng nhớ đến người xưa được nữa. Nàng đành lòng trở về núi Long Đọi, hồn ẩn vào nhành hoa súng, nương tựa cửa chùa trước khi được siêu sinh.
Sau khi làm phép 3 ngày, thần trí Sinh đã trở lại bình thường, hiềm nỗi quên sạch chuyện cũ trước kia, Tiền Danh thấy thế lấy làm vui mừng, giờ chàng chỉ có ta, không còn con đàn bà nào khác trong tâm tưởng.
Từ đó, Thế Sinh không còn viết một bài thơ nào nữa, chức vụ bổng lộc trong triều không còn tăng tiến vì thần trí đã quên đi nhiều chuyện nên thỉnh thoảng ngây ngô lắm. Trong chuyện này, đúng là Tiền thị không lường trước được, thấy phu quân cứ ngu ngơ đâm đem lòng chán ghét. Sau đó vài năm, thị bỏ mặc Thế Sinh và đi theo một gã trai đa tài khác.
Mười ba năm sau, Sinh sống nơi kinh đô, mẹ già thì mất, tự thấy trong mình mỏi mệt, muốn về thăm quê xưa một lần nên cáo quan về quê. Hỏi đường về xa ngái, chỉ thấy quen mà lạ, cũng do thần trí Sinh bị yểm không còn minh mẫn nữa. Hôm đó, về quê được mấy ngày, chàng ta đi thăm chùa cho lòng yên ả, qua bến sông Long Đọi sơn, tự dưng thấy tên nghe quen lắm, bèn gọi lái đò chở sang sông, lòng tự dưng thấy nao nao.
Chợt thấy cô lái đò, mặt tươi như hoa, dáng dấp đẹp đẽ, trong lòng dấy lên nỗi nhớ người xưa, hình như ta đã gặp cô gái này ở đâu rồi nhưng chịu không nhớ ra. Chợt thấy miệng hoa hé mở, ngâm một bài thơ
Vẳng tiếng đò đưa mỗi sớm mai
Chờ ai chờ trọn kiếp trang đài
Theo dòng buông tiếng chèo khoan nhặt
Nương gió mơ duyên phận lạc loài
Đò đắm, lời thơ rồi lạnh giá.
Người đi, nhan sắc cũng tàn phai.
Trời buồn lẻ bóng đôi chim nhạn
Rẽ nước gom về nỗi nhớ ai.
Thốt nhiên tâm trí bừng tỉnh, bao nhiêu kỷ niệm cũ ùa về, chàng run run hỏi:
“Hà Thi, là nàng đó ư?”
Cô lái ngỡ ngàng,
“Đại nhân là?”
“ Ta đây, Trần Thế đây, nàng không nhận ra ta sao?”
Cô lái khóc oà, kêu
“cha, con là Trần Hà Thi, con là con gái của cha đây mà”
Hai cha con ôm nhau khóc oà.
Thật là
Chân trời nhẹ lướt bóng thuyền thơ
Đón khách sang sông cập bến chờ
Rạng rỡ môi cười tan giá buốt
Ngỡ ngàng tiếng gọi tỏ sương mờ
Buồn trong mắt ướt xui lệ vỡ
Thuyền giữa dòng sâu mặc sóng xô
Mặt nước bồng bềnh chao nỗi nhớ
Ru hồn lữ khách tỉnh cơn mơ.
Chuyện là, nàng Thi Nương khi không được hoá thân đã đem con gửi cụ bà lái đò bên sông, ngày tháng thoi đưa, đứa trẻ ngày nào đã lớn trở thành cô lái đò xinh đẹp nổi tiếng một vùng. Ngoài sắc đẹp hồn nhiên, cô còn hát ngâm những bài thơ Đường luật nói về tình yêu. Tất cả những bài thơ đó, trong giấc ngủ, mẹ cô đã hiện về và dạy dỗ cô.
Hai cha con gặp nhau mừng mừng tủi tủi, cha thốt nhiên nhớ laị những ngày qua, con thì nhớ đến chuỗi ngày khổ cực không có cha bên cạnh, hai người khóc như mưa như gió.
Hồi lâu, Thế Sinh hỏi “con khổ cực thế này, sao biết làm thơ, bà dạy cho con ư?”
Nàng thưa
“Thưa cha không, bà chỉ lái đò nuôi con lớn khôn. Còn mẹ tối nào cũng hiện về, dạy con thêu thùa, may vá, dạy con con chữ, dạy con làm thơ, dạy con đạo làm người, kính hiếu với bà, kính hiếu với cha. Mẹ còn dạy con là cứ chèo đò chở được ba vạn lượt người qua sông đến đất Phật là con đã gột rửa được lỗi lầm của cả mẹ cả cha, đưa bao người thoát khỏi bến mê trở về cõi thiện. Hôm nay, con đã chở được vị khách thứ ba vạn, chính là cha đó, cha ơi."
Nàng khóc nức nở, Thế Sinh cảm thấy trong lòng đau khổ nhưng hoan hỉ vô cùng, gặp được con và có thể gặp được Thi Nương rồi, chàng liền hỏi
“Vậy tối nay mẹ con có hiện về gặp con không?”
Nàng nói, “tất nhiên rồi cha, mẹ bao giờ cũng ở bên con và lo lắng cho con, hôm nay thấy cha về, mẹ sẽ mừng lắm đấy.”
Nhìn con vui vẻ hồn nhiên mà lòng Thế Sinh vui buồn lẫn lộn, vui vì sắp gặp lại người má kề tay ấp ngày nào, buồn vì không hiểu nàng có tha thứ cho ta chăng?
Đêm về khuya, tiếng chuông chùa vang trên đỉnh núi, ngân nga. Lâu lắm rồi nhà chùa mới được sang sửa sau những trận cướp phá của giặc Minh. Hương khói được người dân trong vùng chăm lo đầy đủ, âu cũng là cái phước của sáu làng chung quanh, dân tình thảy đều no ấm. Tiếng chuông vừa dứt, Thi Nương bước vào nhà, phong thái tiêu diêu chẳng khác chi lúc sống. Hai người nhìn nhau, đau khổ không thốt nên lời.
Hồi lâu, nàng nói “Lang quân, chàng đó ư? Em chờ chàng đã lâu, ngày mai là ngày siêu sinh của em đầu thai kiếp khác, kiếp này do duyên số trắc trở chúng ta đã không đến được với nhau, xin hẹn chàng ngày sau tái ngộ. Nay em tặng chàng bài lục ngôn thể, mong chàng nhớ mãi tình duyên hai ta.”
Đò rời bến, sáo sang sông
Xa em, anh thỏa chí tang bồng
Nơi xưa nước cả vùi theo xoáy
Chốn cũ thuyền con lội ngược dòng
Mắt úa ru lời giã biệt
Tay ngoan ủ mối tơ hồng
Yêu nhau chẳng thể gần nhau mãi
Kiếp khác đôi ta nghĩa vợ chồng.
Nói rồi, quay lại dặn dò con trông nom cho cha mình, lớn khôn phải biết giữ mình đừng luỵ tình như mẹ để rồi mang hận cả một đời.
Chia tay cũng bởi tại trời xui
Lệ rót bờ mi luống ngậm ngùi
Mắt héo mày tàn buông tiếng khóc
Môi khô má úa níu niềm vui
Tình yêu muôn kiếp nay đành lấp
Duyên nợ ba sinh đã trót vùi
Thôi nhé từ nay xa cách mãi
Biệt ly hai chữ thốt lên rồi.
Thế Sinh đứng chết lặng không nói được lời nào, chỉ nước mắt dầm dề kéo tay nàng lại, nhưng than ôi, như mây như gió, nàng đã tan vào bóng đêm.
Con thì khóc đến ngất đi, cha thì ờ lại nhấc bầu rượu dành cho ngày hội ngộ, giờ thành bạn giải buồn, thành bầu rượu chia ly. Rượu uống chan nhoà nước mắt
“Thi nương ơi, làm sao ta có thể chờ nàng đến kiếp sau được, ta biết nàng ở đâu mà tìm, sao nàng không nói gì với ta? Hạnh phúc đã trở về bên ta, cớ sao lại ra đi mãi mãi, ta có tội tình gì đâu? Con đôi ta có tội tình gì đâu?”
Vừa khóc chàng vừa nốc cả bầu rượu, tìm quên trong men say.
Nâng chén đi nào, uống thật say
Cuộc đời sao chẳng có gì hay
Uống tròn chung hận, yêu dang dở
Nốc cạn ly tình, nhớ quắt quay
Chỉ có men nồng trong nước mắt
Đâu rồi hơi ấm của vòng tay
Quên đi hạnh phúc ngày xưa ấy
Có rượu bên ta ở chốn này
Trong cơn say, đột nhiên chàng nghe thấy tiếng kinh cầu, hồn phách đột nhiên chao đảo, thoát khỏi xác thân, nhẹ lướt lên trời lên thẳng đỉnh núi. Chàng thấy trong tiền đường, có bao nhiêu người đang quỳ gối hướng vào Phật điện, nơi có một nhà sư đang niệm Phật.
Gió đưa văng vẳng tiếng kinh cầu
Thấp thoáng hiên chùa nép rặng cau
Ðuốc Tuệ soi bừng từng tiếng ngọc
Hoa Ðàm nở ngát mỗi lời châu
Tu hành cửa Phật, Kinh gần gũi
Phổ độ chúng sinh, Pháp nhiệm mầu
Rũ bỏ ưu phiền nơi thế tục
Ánh dương rọi sáng cả đêm thâu.
Tự dưng trong lòng thấm thuần một niềm tin trong sáng, một niềm tin hướng về Chân Thiện Mỹ. Nghe xong hồi kinh, chàng nhẹ lướt đến bên một lão tăng già, bái tạ. Chợt thấy Thi Nương trong đám người quỳ gối trước Phật điện la lên thất thanh, nàng thấy hồn chàng ở đó, biết là chàng đã xuất thế. Lão tăng nhìn hai người mỉm cưởi,
“Thì ra là lang quân của nữ thí chủ, mười ba năm nay, nữ thí chủ hàng ngày nghe niệm Phật, lại hoá thân thành loài hoa súng ngoài sân chào đón mọi người tới chùa ta nghe giảng đạo, thoát khỏi bến mê trở về cõi thiện. Nay đã tích nhiều công đức, được thoát khỏi kiếp tinh hoa để trở về kiếp người. Thật là chuyện vui mừng”
Nàng Thi nương đúng là đã hóa thân trong hoa súng, sớm hôm nghe kinh Phật và chuông chùa, nên hồn hoa đã tụ về được một mối để mỗi tối về dạy con. Có thơ rằng:
Bùn nhơ chẳng để bước chân sa
Mặt nước trôi hoài một dáng hoa
Đọt mảnh mang màu xanh lá cỏ
Cánh mềm đượm sắc tím hoa cà
Từng chùm rễ quấn buồn man mác
Mấy lớp thân đan óng mượt mà
Bông súng nghiêng mình soi bóng nước
Trước chùa níu bước khách gần xa
Thế Sinh khóc mà than
“Vợ chồng chúng con trải biết bao xa cách nay mới được gặp nhau, thật không biết bao giờ mới gặp lại, nay con thác theo nàng, xin thầy giúp cho kiếp sau bọn con được gặp gỡ”
Cả hai người cùng ôm nhau khóc oà, tình cảnh rất thảm thương, kế thấy lão tăng nói:
“Số nhà ngươi chưa tận mạng, chưa thể chết được, còn Thi nương tuy là loài tinh hoa nhưng tâm tính thuần hậu, yêu lành tránh dữ, lấy thơ văn làm hồn, sau nương vào tiếng chuông chùa và kinh cầu nên dần cũng động lòng trời, nay trời đã định Thi nương đầu thai vào kiếp khác. Tuy thế, nhưng con gái nhà người sẽ tu thành chánh quả, nay đã đưa bao nhiêu người thoát khỏi cõi mê, tiếng động trời cao, mai sau sẽ thành Bồ tát cứu giúp muôn người. Nay ta sẽ tác thành cho hai vợ chồng, để hồn Thi nương tái sinh trên thân xác người khác, người này số đã tuyệt, lại có quan hệ lớn tới các ngươi. Trưa mai, chính ngọ sẽ là lúc nhập xác. Nhà ngươi hãy đến chân núi phía Tây sẽ được toại nguyện”
Dứt lời, nhà sư phẩy khẽ áo bào, hồn Thế Sinh phiêu diêu nhập về thân xác.
Chàng kể lại mọi chuyện cho con gái, nàng không u buồn mà nói
“Con ở lại đưa đò và chờ cha, mong cha mẹ đoàn viên, nhưng cuộc sống của con từ lâu đã thuộc về cửa chùa rồi”
Theo lời, sáng hôm sau hai cha con đã chầu chực tại chân núi phía Tây. Trời gần chính Ngọ, chợt thấy một người đàn bà đầu tóc rũ rượi, quần áo rách nát đi về phía mình. Nhìn thấy Thế Sinh, thị khóc lớn rồi ngã ngất. Hoá ra là Tiền Danh, theo trai bỏ chồng, hắn đã lừa thị lấy hết tiền bạc rồi đánh đập và đuổi thị ra đường. Cùng quẫn quá, bệnh tật được dịp phát ra, thị chạy về trấn Nam tìm chồng để xin tha tội trước khi trút hơi thở cuối cùng. Nghĩ thương xót, tình vợ chồng bao nhiêu năm, vợ nay hình dung tiều tuỵ nhưng âu cũng vì mình. Thế Sinh ôm vào lòng, thấy Tiền Danh mỉm cười, nhưng hơi thở thoi thóp dần, cuối cùng nàng trút hơi nhắm mắt, mồm vẫn còn lẩm bẩm “thiếp đã hại chàng, thiếp đã phụ chàng”.
Mặt trời lên chính Ngọ, Thế Sinh đang khóc ròng, xót thương hai người đàn bà đã vì mình chịu bao đau khổ. Lúc đó lão tăng tới, lẩm nhẩm niệm kinh cầu vong hồn Tiền Danh siêu thoát. Sau đó vài khắc Tiền Danh tỉnh dậy, chàng vui mừng quá đỗi, chợt thấy nàng nói “em là Thi nương đây chàng ơi, vợ chồng ta đã trùng phùng, thật cảm ơn Trời Phật”. Thì ra hồn Thi nương tái thế trong thân xác của Tiền Danh. Hai người đàn bà trở thành một, thật là một chuyện kỳ lạ. Con chạy lại nhận mẹ, quỳ lạy cha mẹ rồi theo lão tăng về núi, một đời tu hành mang yên vui cho hàng vạn dân tình trong vùng.
Nói chuyện hai vợ chồng lạy tạ lão tăng rồi trở về kinh thành, chăm sóc hương hoả mẹ cha, giúp dân giúp nước, phò vua tận trung. Nghe đâu sống thọ đến trăm tuổi, đến cuối đời vẫn thơ từ xướng hoạ, gia cảnh êm ấm vô cùng.
Sau có bài thơ về cuộc tình duyên này.
Cuộc đời thay đổi phận hèn sang
Chỉ có tình yêu mãi đá vàng
Nửa kiếp nghĩa nghì tan lại hợp
Trăm năm duyên nợ hợp rồi tan
Tơ hồng tăng kết se dang dở
Chỉ thắm trời ban kết lỡ làng
Gặp lại hai nàng chung một phận
Thờ chồng suốt kiếp chẳng từ nan.
Hết
16/12/05
TLC