Nguyễn Nhật Minh
[Tiểu Sử | Thi Hữu | Nhắn Tin]


DUYÊN MAY

 

(Bút ký: Về thăm miền Đất học Ba Tri)

 

Theo lời mời của bạn, Câu lạc bộ Thơ Ca Ninh Kiều chúng tôi có bốn người qua dự Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Câu lạc bộ thơ Ba Tri. Tôi chỉ được báo trước một ngày, nhưng sự vội vã không làm mất đi vẻ háo hức.

Trưởng đoàn là anh Nguyễn Hồng Chuyên: nhà văn–nhà giáo–nhà báo–nhà thơ như chúng tôi vẫn thường trân trọng gọi người chủ nhiệm Câu lạc bộ của mình như thế. Thực ra ngoài đời, tôi vẫn gọi anh bằng chú vì tuổi tác và sự chín chắn trong nghề báo, nghề văn, nhưng nhìn vẻ mặt, phong độ và tác phong sôi nổi của anh thì anh thật sự trẻ hơn nhiều so với tuổi 63. Cùng đi còn có nhà báo lão thành Quan San (tên thật là Lê Quang Sang, 65 tuổi), thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ. Tuổi tác và những năm tháng nhọc nhằn không thắng nổi sức sống mãnh liệt từ tâm hồn nhiệt tình và cặp mắt rất sáng của anh. Xin được phép gọi anh, vì những nhà thơ, nghệ sĩ vẫn thường trẻ hơn tuổi tác. Đặc biệt nhất là thành viên nữ duy nhất của đoàn, chị Hồng Nhạn–nghệ sĩ diễn ngâm, sự mệt nhọc của chặng đường dài hàng trăm cây số của chuyến đi vẫn không thể làm giảm đi chất giọng ngâm véo von, truyền cảm của chị. Trên suốt chặng đi, lâu lâu chị lại ngân nga vài câu dân ca, một đoạn Kiều hoặc mấy câu Lục Vân Tiên. Trí nhớ và sự trẻ trung của chị vẫn chưa bị năm tháng làm mòn mỏi. Thành viên cuối cùng và ít tuổi nhất là tôi–Hội viên vừa mới bóc tem, được nhiều hơn tất cả vì nghe nhiều hơn nói.

Dọc đường, chúng tôi có trao đổi rất nhiều về quê hương Đồng khởi Bến Tre, “xứ dừa thơ mộng”, vùng đất “địa linh, nhân kiệt” của Đồng bằng sông Cửu Long. Ai mà không biết những cái tên lẫy lừng như nhà báo Trương Vĩnh Ký (Chợ Lách), Cụ cử Phan Văn Trị, bà nữ tướng tóc dài Nguyễn Thị Định (Giồng Trôm) ... Tôi cứ tự thắc mắc mãi về cái tên “Bến Tre” mà sao chỉ thấy toàn dừa là dừa. Dừa xanh ngắt, xanh đậm đà, xanh ngất ngây như những câu thơ của Nguyễn Hồng Chuyên trong bài “Mỏ Cày Xanh” vậy:

“Đã từng qua Huế, qua Thanh

Không đâu sánh được sắc xanh Mỏ Cày

Xanh đậm đà, xanh ngất ngây

Mía chen dừa, dừa chen mây bốn mùa”

Hình tượng “ông già Ba Tri” thể hiện cho lòng cương quyết, không ngại đường xa, tranh đấu cho lẽ phải và công bằng không chỉ nổi tiếng ở Nam bộ mà còn vang xa cả nước. Ba Tri, mảnh đất ẩn chứa nhiều “duyên may” được các danh sĩ chọn làm nơi yên nghỉ như thầy Võ Trường Toản, tiến sĩ Phan Thanh Giản, Cụ Đồ Chiểu và con gái của mình (bà Sương Nguyệt Anh). Dù đây là lần đầu tiên đến Ba Tri, tôi vẫn không ngăn nổi dòng cảm xúc được viết. Có lẽ những ý tưởng từ bài thơ “Nối Vòng Tay” của tôi viết trước khi lên đường để gửi tặng cho Câu lạc bộ thơ Ba Tri cũng bắt đầu từ cái “duyên may” như vậy:

Đất lành ẩn chứa những duyên may

Hào kiệt phương Nam hội chốn này

Thầy Toản công lao tày biển nước (1)

Cụ Đồ chí khí ngất trời mây (2)

Phan Công(3) đóng nắp, ô chưa rửa

Nguyệt Nữ(4) cài then, lọng đã bày

Gởi trọn Ba Tri lòng mến mộ

Ninh Kiều hân hạnh nối vòng tay.

Chúng tôi được chứng kiến Lễ kỷ niệm long trọng với sự tham dự của hàng trăm nhà thơ. Mười năm hoạt động, gần như Câu lạc bộ đã có hội viên phủ kín các xã, phường. Đặc biệt, với 6 lần xuất bản ấn phẩm kỷ niệm, 9 tập thơ xuân, 10 tập thơ mừng sinh nhật cụ Đồ Chiểu và 40 tập thơ bướm là những con số đầy ấn tượng.  Có những nhà thơ tuổi đã ngoài 80, nhưng vẫn hăng hái sáng tác và biểu diễn. Trong đó phải kể đến nhà thơ Ngọc Nhã, cứ đều đặn mỗi năm một tập “nhả ngọc thơ cho đời” theo ý thơ của nhà thơ Quan San; cô Sáu Tâm ...v.v… Còn rất nhiều gương mặt mà tôi chưa kịp làm quen. Một Câu lạc bộ cấp Huyện mà có sự phát triển mạnh mẽ như vậy thiệt đáng để mọi người nể phục và suy gẫm. Nhắc đến sự lớn mạnh của Câu lạc bộ thơ Ba Tri không thể quên sự quan tâm của các cấp chính quyền và cơ quan dân chính Đảng tại địa phương. Bên cạnh sự hỗ trợ tài chính thì sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo ngành văn hóa luôn là động lực thúc đẩy có ý nghĩa lớn.

Cùng đến tham dự còn có rất nhiều đoàn từ các Câu lạc bộ thơ từ thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn tới chúc mừng Câu lạc bộ thơ Ba Tri. Bất ngờ nhất là được gặp và nghe  nhạc sĩ Văn An và nghệ sĩ ưu tú Hồ Kiểng hát. Tuổi tác như bị quên đi và thay vào đó bằng lòng nhiệt tình. Nhà thơ Xuân Vân (Phú Nhuận), đã 62 tuổi nhưng vẫn vui nhộn và trẻ trung, chị xuất hiện liên tục khi tham gia hát, ngâm, khi với vai trò xướng ngôn viên của đoàn thành phố Hồ Chí Minh. Một bất ngờ là ngay sau chuyến đi chị đã cảm tác tặng tôi ngay một bài thơ “Tên chị Mây Xuân, em Nắng Xuân…” mà ngay ngày hôm sau khi gặp lại, chị đã trao cho tôi. Nhà thơ Hồng Hiển, chăm chỉ gỡ “mối duyên thơ”, muốn “níu áo nàng Xuân lại” (thơ Hồng Hiển) bằng những trang thơ dành tặng cho hầu hết bạn yêu thơ. Còn chị Ngọc Tuyết (Gò Vấp) – Cánh chim lạ (theo lời nhà báo Nguyễn Lang Quân) với tập thơ “Giọt Đầy Giọt Vơi” mới vừa cho ra mắt độc giả. Tròm trèm 50 mà nhìn chị thật trẻ trung, duyên dáng và như càng năng động hơn trong bộ com lê màu xám trắng khá tươm tất và chiếc camera kỹ thuật số nom giống như phóng viên riêng của đoàn.

Sau khi dự Lễ kỷ niệm, cùng với đoàn các nhà thơ của thành phố HCM, chúng tôi được Ban tổ chức bố trí dẫn đi thăm quan các di tích lịch sử – văn hóa. Trạm dừng chân đầu tiên là xã Bảo Thạnh (xưa là làng Bảo Thạnh), có một khu mộ đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử – văn hóa,  khu mộ nhà giáo Võ Trường Toản, một nhà giáo nổi tiếng thanh bần, khẳng khái, người đã góp công đào tạo nhiều bậc hiền tài cho đất nước như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định… Các danh sĩ thời bấy giờ như Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Đình Chiểu… dù không trực tiếp học Thầy nhưng vẫn giữ đạo làm trò. Có thể nói dân Nam bộ quý Thầy cũng như dân Bắc bộ kính Thầy Chu Văn An vậy. Thơ Võ Trường Toản bị thất lạc chỉ còn lưu truyền một bài “Hoài cổ phú”. Vì sao thầy Võ Trường Toản tuy vốn là người Bình Dương, không phải dân Bến Tre, lại cuối đời cũng đến nằm ở vùng đất này? Đến đây, người ta mới rõ người có công đầu đưa cụ về nằm ở vùng đất này, không ai khác hơn lại là Phan Thanh Giản. Ông không muốn để một người thầy như Võ Trường Toản lại có thể yên nằm trên đất mà giặc đang chiếm  đóng. Sự thật, khu lăng mộ này cũng là khu đất tổ tiên của Phan Thanh Giản. Sau khi chụp hình lưu niệm, đoàn chúng tôi (bây giờ từ đoàn này chỉ chung cho cả hai nhóm thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ) lại tiếp tục hành trình.

Từ khu mộ thầy Võ Trường Toản, chỉ vài bước đi bộ là tới nơi yên nghỉ của cụ Phan Thanh Giản (1796-1867). Vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ này vừa là niềm tự hào chung khởi đầu cho một truyền thống “hiếu học” của mọi người dân Nam bộ nhưng cũng đồng thời là niềm tự hào riêng của vùng quê miệt đồng hiếu học này. Ông cũng là một trong những đại thần của triều đình phong kiến thời ấy, nổi tiếng thanh liêm, chính trực, nhưng lịch sử lại chất trên vai ông một “gánh nặng”, để rồi ông phải chịu tiếng “bán nước” cho cả triều đình nhà Nguyễn. Mãi cho tới giờ này, không phải ai cũng thông cảm hết cho ông. Một con người đã tự xử mình bằng cái chết thương tâm, và với lời lẽ cuối cùng trối lại cho con cháu “Những hạng thường nhơn hay cần chức khoe danh. Ta xem sự ấy là một việc hổ thẹn”, khi họ ngỏ ý muốn để chức sắc vào bia mộ. Một người như thế, chả lẽ vẫn phải chịu hàm oan mãi hay sao? Chúng tôi mong rồi đây, nỗi đau của cụ được người đời thấu hiểu và thông cảm. Lẽ ra đây cũng phải được nhà nước quan tâm sửa sang, tôn tạo. Tuyển tập Thơ văn Phan Thanh Giản mới ra đời cũng phần nào làm ấm lòng người đã khuất.

Chặng dừng chân tiếp theo của đoàn là xã An Đức, cách thị trấn Ba Tri không xa, nơi dừng chân cuối đời của gia đình nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (1822–1888). Ai cũng biết cuộc đời và sự nghiệp thơ ca chói sáng của nhà thơ, nhà giáo, đồng thời là người thầy thuốc tiêu biểu này. Ấn tượng đầu tiên là công trình có tính chất quốc gia hết sức bề thế, khang trang và uy nghiêm–khu lăng tẩm của cụ, đã được nhà nước tôn tạo. Chỉ tiếc là cái camera hết pin, nên chị Ngọc Tuyết không được dịp trổ tài. Lý do thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu chọn đất Ba Tri làm nơi định cư có lẽ là “không đội trời chung” với giặc. Sự chọn lựa này làm chúng ta nhớ lại câu nói nổi tiếng của cụ khi trả lời một tên Tỉnh trưởng người Pháp “Đất vua còn không giữ được thì đất tôi nào có sá gì”, khi tên này có ý định mua chuộc cụ bằng cách gợi ý trả đất của gia đình ở Gia Định cho cụ. Còn có cả những câu chuyện cảm động về cụ bà Lê Thị Điền, chịu thương chịu khó chăm sóc chồng và nuôi bảy người con khôn lớn ở vùng đất xa xôi, không một người thân thích. Có lẽ chính những khó khăn trong cuộc sống đời thường là nguyên nhân làm cho cụ bà mất trước cụ Đồ hai năm dù tuổi tác thì nhỏ hơn rất nhiều. Con cháu của cụ Đồ, hầu hết đều làm nghề thuốc và dạy học. Nhiều người thắc mắc và cảm thấy bức xúc về bài thơ Đường Luật “tám câu năm vần” đầu tiên trong Liên hoàn thập thủ của cụ Đồ viết tế Đốc binh Phan Tòng nhưng lại khắc thành hai khổ thơ tách rời giống như hai thiên “tứ tuyệt”.

 Con gái thứ năm của cụ Đồ Chiểu, nhà thơ Sương Nguyệt Anh (tên thật là Nguyễn Ngọc Khuê), cũng yên nghỉ ngay bên cạnh cha mẹ mình. Thừa hưởng sự tần tảo của mẹ và những năm tháng cận kề tận tình chăm sóc, ghi chép cho cha đã hình thành nên nhân cách, tâm hồn và trí tuệ Sương Nguyệt Anh. Bà vừa là người nối nghiệp xứng đáng của cụ Đồ vừa là người phụ nữ tiêu biểu, tiếp bước Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương… làm rạng danh phụ nữ nước Nam. Đương thời, bà làm nhiều thơ Nôm, kiểu thơ Đường luật thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt. Bà còn là chủ bút tờ Nữ Giới Chung (tiếng chuông nữ giới), tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản tại Sài Gòn, 1918. Những năm cuối đời, bà về lại đất Ba Tri, cũng nối nghiệp cha làm nghề dạy học, làm thuốc chữa bệnh. Hai câu thơ trích từ bài họa nổi tiếng của nữ sĩ, được khắc trang trọng trên bia mộ, đủ để nói lên phẩm chất và khí tiết của bà: Thà cam chịu làm chiếc lọng trơ sườn, quyết không chịu tiếng “Ô”, dẫu được đem vàng ròng tô điểm. Chỉ tiếc là người thợ khắc chạm đã trổ sai chính tả (chữ “sườn” khắc trên bia mộ thành “sường” thừa một chữ “G”). Tôi cũng đem thắc mắc này hỏi, thì người thuyết trình ở đây nói là nếu sửa sẽ làm thay đổi di tích. Chẳng lẽ cái sai này nhất thiết cứ phải trưng bày mãi mà không nên sửa hay sao ? Nhiều người vẫn còn lẫn lộn, hoài nghi về cái tên “Ánh” hay “Anh” trong bút danh của bà. Tôi cũng đưa ra thắc mắc này thì được người hướng dẫn viên trả lời rất rành mạch: “Nguyệt Anh là một tên khác do Cụ Đồ đặt cho bà lúc nhỏ. Sau này khi chồng mất bà lấy thêm Sương để chỉ người sương phụ và dạ quyết tâm thủ tiết. Có một người bà con gần, thuộc ngành trên của bà cũng có tên “Ánh” vì vậy, bà không thể nào đặt tên “Ánh” nữa”. Lý do thứ hai, theo tôi, tên “Ánh” thời bấy giờ sẽ là phạm húy nặng vì trùng tên với Gia Long.

Đúng là tôi thu hoạch được nhiều “duyên may” trong chuyến đi này. Ngoài những hiểu biết về lịch sử văn hóa, tôi còn được gặp gỡ, giao lưu, trao đổi... Vẫn còn những vùng đất vùng người chưa biết tới, vẫn còn ẩn số về những “ông già Ba Tri” như truyền thuyết, vẫn còn những thắc mắc này nọ, như mời gọi quay lại đây để được biết và để viết nhiều hơn về miền đất học và những con người Ba Tri đầy nhiệt tình và mến khách. Xin tạm chia tay.

 

Cần Thơ, ngày 31 tháng 03 năm 2005

 

Chú thích:

(1)    Nhà giáo Võ Trường Toản

(2)    Cụ Nguyễn Đình Chiểu

(3)    Cụ Phan Thanh Giản

(4)    Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái cụ Đồ Chiểu

 



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả