Việc Học Ngày Xưa
Đọc Trong bài thơ Trăng Sáng Vườn Chè của nhà thơ Nguyễn Bính, đã được nhạc sĩ Văn Phụng phổ thành nhạc, thì ngày xưa thường thường người đi học đã lập gia đình, vợ ở nhà tần tảo nuôi chồng ăn học mong sau đỗ đạt ra làm quan để cùng hưởng giàu sang :
Sáng trăng sáng cả vườn chè
Một gian nhà nhỏ đi về có nhau
Vì tằm tôi phải chạy dâu
Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay
Chồng tôi thi đỗ khoa này
Bỏ công đèn sách từ ngày lấy tôi
Kẻo không rồi chúng bạn cười
Rằng tôi nhan sắc cho người say sưa.
Ngày xưa số người đỗ đạt rất ít. Cả tỉnh may ra được vài ông cử, vài ông tú, một số làm học trò. Ngay hai chữ "học trò" cũng là một chức phận, không phải như bây giờ cứ cắp sách đến trường sẽ được coi là học trò. Thí dụ chức Thái Học Sinh là để chỉ những người đã đậu kỳ thi Hội được nhận vào học trường để thi Tiến Sĩ . Ngày ấy những người đi học không phải làm việc phục dịch cho làng, không làm việc nhà, chỉ lo học để đỗ đạt. Cũng đã có trường hợp học trò lợi dụng tình thế mà chỉ "ăn no lại nằm" nên nhiều nhà khi gả con gái cho đã giao hẹn "Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng":
Tôi hằng khuyên sớm khuyên trưa
"Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng"
Một quan là sáu trăm đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy
Hai bên có lính hầu đi dẹp đường.
Tôi ra đón tận gốc bàng
Chồng tôi xuống ngựa, cả làng ra xem.
Ðêm nay mới thật là đêm
Ai đem trăng giải lên trên vườn chè.
Một quan tiền ngày xưa là sáu trăm đồng. Để biết giá trị của một quan tiền, cứ so sánh lương bổng các quan dưới thời vua Minh Mạng thì rõ. Thí dụ, Quan Chánh Nhất phẩm lãnh đồng niên 400 quan, 300 phương gạo, thêm 70 quan tiền Xuân Phục tức là tiền cho các quan may quần áo hàng năm. Quan Chánh Ngũ Phẩm, hàng Tri Phủ, lương 40 quan, 43 phương gạo, 9 quan tiền Xuân Phục. Lại Dịch Binh Tượng mỗi tháng lãnh 1 quan tiền, 1 phương gạo. Ngoài ra vua sợ các quan thiếu thốn sẽ sanh tham nhũng nên còn cấp cho tiền dưỡng liêm. Các đơn vị đo lường được chuẩn định từ thời Gia Long. Tiền gồm tiền bằng đồng và bằng kẽm. Một tiế`n kẽm nặng 7 phân. Một quan tiền nặng 2 cân 10 lạng . Không thấy nói 1 phương gạo là bao nhiêu.
Ngày trước trong giai cấp xã hội, kẻ sĩ đứng hàng đầu. Chúng ta còn nhớ ông Nguyễn Công Trứ viết : "Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên". Ta theo Hán học, xếp hạng dân theo thứ tự "Sĩ, Nông, Công, Thương ". Kẻ Sĩ là những người làm việc trí óc như quan lại, thầy dậy học, thầy thuốc, thầy bói, thầy địa lý, thầy cúng, học trò, ... Ngay như ông Nguyễn Công Trứ này đường công danh cũng lận đận lắm. Năm 42 tuổi mới đậu Đình Nguyên, năm 43 tuổi mới bắt đầu vào hoạn lộ .
Ngày xưa đường xá đi lại khó khăn, đi thi cử cũng vì thế rất chật vật, ta có câu "lều chõng ứng thi" để chỉ về việc này. Trong văn học còn để lại chuyện ông Nguyễn Đình Chiểu từ trong nam ra ngoài Huế ứng thi cực khổ, nửa đường phải bỏ về vì mẹ qua đời. Mà không phải năm nào cũng có kỳ thi. Thường thường cứ ba năm mới có một kỳ. Có thời vua phải đợi sáu năm. Việc học hành, thi cử tuỳ vào từng thời đại hay đúng hơn là tùy vào mỗi triều vua . Sách Việt Nam Sử Lược của ông Trần Trọng Kim kể lại thời Tự Đức, cứ ba năm tổ chức thi một lần . Tất cả có ba kỳ thi là thi Hương, thi Hội và thi Đình. Thi Hương là thi ở các địa phương để cho đậu Cử Nhân hay Tú Tài. Thi Hội được tổ chức ở bộ Lễ cho những ai đã đậu Cử Nhân vào thi tuyển để ban giám khảo xét xem có đáng được vào thi Đình, lấy bằng Tiến Sĩ . Thi Đình được tổ chức ngay ở kinh đô . Ba người đậu đầu mà ban giám khảo xét ra có khả năng được cho chức Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa. Ba chức này gọi là Tam Khôi, có từ thời nhà Trần. Không phải kỳ nào cũng có ngườ i đỗ Trạng Nguyên. Ngay như ông Lê Văn Hưu, uyên bác như thế mà cũng chỉ đậu Bảng Nhãn. Ban giám khảo của các kỳ thi này là các quan triều đình bổ đi chấm thi. Khi đi được dương bảng "Phụng Chỉ Cầu Hiền" .
Ngày nay chúng ta ít biết đến việc học hành ngày xưa vì ít tài liệu có chăng là lấy trong mấy quyển sử mà sử ký ghi cũng không bao nhiêu về việc học hành. Đại khái chỉ biết thời nhà Lý nhà vua cho đi thỉnh kinh Phật bên Tây Tạng, bắt đầu cho thi Hương, Hội và Đình. Đến thời nhà Trần thì đặt ra chức Tam Khôi cho ba ông Tiến Sĩ đứng hàng đầu, Các ông Tiến Sĩ thì tuỳ vào khả năng mà được xếp hạng vào khoa Giáp hay khoa Ất . Thời Nhà Trần lúc chưa lấy Khổng Nho làm quốc giáo, vẫn còn trọng Tam Giáo thì còn cho thi cả về Phật Giáo và Lão Giáo. Thời vua Trần Nhân Tông, quan Hình Bộ Thượng Thư là Nguyễn Thuyên khởi xương làm thơ bằng chữ Nôm. Vì làm thơ giỏi được coi như ông Hàn Dũ bên Tàu nên vua cho đổi thành họ Hàn và về sau người mình gọi luật thơ này là Hàn luật. Cuối đời Trần, Lê Quý Ly cho định văn thể trong các kỳ thi, nhất trường làm bài kệ, nhị trường bài phú, tam trường bài chiếu v.v. Thời nhà Hồ, vua Hồ Hán Thương còn thêm môn toán học trong các kỳ thi. Tuy nói là toán học nhưng không biết học toán thế nào . Thời vua Lê Thái Tổ cho mở Quốc Tử Giám để con các quan và con dân ưu tú vào ho.c. Thời này các quan văn, võ từ hàng tứ phẩm trở xuống đều phải thi khảo sát gọi là thi Minh Kinh. Các nhà tu Phật, Lão cũng phải thi kinh kệ, ai không đậu phải hoàn tục. Đến thời Nam Bắc Triều thì nhà Mạc tổ chức thi riêng trong vùng kiểm soát và nhà Lê Trung Hưng cũng tổ chức cho thi riêng. Sự học hành thi cử cũng như thời các vua Lê ngày trước. Vào thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, trong nam chúa Nguyễn cũng cho thi cử nhưng sự học và thi cử rất sơ sài. Đời các chúa Nguyễn và ngay cả dưới triều Gia Long, chỉ thi Hương. Đến đời Minh Mạng mới cho thi Hội và thi Đình. Vua Minh Mạng là người đặt ra chức Phó Bảng, nghĩa là những ai không cập phân để lấy hàm tiến sĩ, cho tới nay đều bị đánh rớt, vua Minh Mạng đặt ra hàm Phó Bảng cho đi làm quan.
Ngày xưa việc học hành trực thuộc bộ Lễ . Ở các tỉnh có quan Đốc Học. Ở Phủ có quan Giáo Thụ. Ở huyện, châu có quan Huấn Đạo. Các nơi đều có trường công dạy học. Ai muốn mở trường tư thục đều được cả. Con em học ở tư thục kha khá thì được vô trường công. Ở trường công, các quan dạy học xét cho học trò đi thi Hương. Cái học ngày xưa lúc đầu là để biết cách xử đời, hiểu phải trái, luyện tâm tính, v.v . Sau vì hoạn lộ nên đa số người đi học vì cử nghiệp. Chương trình học vỏn vẹn học Tứ Thư, Ngũ Kinh, Văn Sách, Thi Phú. Có lẽ vì đi học theo cử nghiệp để ra làm quan nên đa số quan lại nước ta rất quan liêu. người Pháp biết chuyện đó, họ bảo trong mỗi người Việt nam có một ông quan và họ lợi dụng đầu óc quan liêu của mình để cai trị. Người Nhật Bản cũng biết chuyện đó, họ còn biết thêm dân Việt nam không ưa quan lại Việt nam cho nên khi thành lập chính phủ Việt Nam họ đã đưa ông Trần Trọng Kim từ Tân Gia Ba về làm Thủ Tướng thay vì đưa quan lại Việt Nam có sẵn ở trong nước. Tuy nhiên cũng có những trường hợp nhiều người đi học theo đúng tinh thần mở rộng kiến thức rồi về làm nghề dạy học, bốc thuốc, giúp dân như trong nam có ông Võ Trường Toản chỉ ở nhà dạy học. Học trò của ông về sau đều là khanh tướng của triều đình nhà Nguyễn như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh v.v. Vua Gia Long kính ông như Quân Sư, khi mãn phần học trò, quan quân đi đưa rất đông. Vua phong ông chức Gia Định Sử Sĩ Sùng Đức Tiên Sinh.
Nói về đường tiến thân, ta hay nói "con vua thì lại làm vua, con sãi nhà chùa đi quét lá đa". Câu này có lẽ được dùng trong hai trường hợp. Thứ nhất cho những người nghèo thiếu phương tiện và khả năng tự an ủi mình. Thứ hai cho những kẻ đã nên danh phận khinh mạn người nghèo khó. Thực ra có lẽ thời xưa tình trạng đi học không đến nỗi như câu nói này vì có nhiều trường hợp kể lại như Uy Viễn Tướng Công thời đi học nghèo đói "Ngày hai bữa vỗ bụng rau bình bịch" và Lý Thái Tổ không ai khác hơn là con sãi nhà chùa.
Trước năm 1975 ở miền nam Việt Nam, nền giáo dục được điều khiển bởi các nhà giáo dục được đào tạo ở trong nước hay ở Pháp. Những người này liên kết với nhau thành một khối thành ra nền giáo dục của VNCH rất độc lập không bị chính trị chi phối. Đa số các sinh viên du học tốt nghiệp ở Mỹ về không được giữ các chức vụ quan trọng. Vì các chức khoa trưởng, trưởng ban đều do các giáo sư bầu ra nên họ rất độc lập. Về sau toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn phải tài trợ để thành lập trường trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức và giúp cho giáo sư Nguyễn Bá Khê đứng ra mở trường đại học mới ở Thủ Đức với thành phần giảng huấn đều học ở Mỹ về, chương trình dạy đúng theo chương trình Mỹ với những phương tiện rất sung túc.
Tháng 6 2005
Phạm Văn Vĩnh