Tôi thích nhất mùa xuân ở Seattle ,vì mùa xuân ở đây rất đẹp. Khi những cơn mưa vội vã rời khỏi thành phố thì vạn vật như trăm hoa đua nở, bầu trời thật là trong xanh. Tôi nghĩ là không có bầu trời ở đâu xanh bằng bầu trời ở Seattle và Anchorage trên vùng cực bắc của tiểu bang Alaska. Mùa xuân ở Seattle là mùa xuân chứa chan những hy vọng. Có tiếng chim hót líu lo, có trời và mây, có biển và núi, hoa quả và tất cả những gì thường đến với mùa xuân. Đặc biệt nhất là ở nơi này cách thành phố khoảng hơn sáu mươi dặm (60 miles) có một ngọn núi (mountain rainier). Ở đó, tuyết phủ quanh năm như ngọn núi Fuji ở bên Nhật (Japan). Đây cũng là một thắng cảnh nổi tiếng ở vùng Northwest. Quanh năm đều có du khách đến đó để xem cảnh hùng vĩ của núi non. Phần lớn trong những lần trở về lại Seattle, những chuyến bay dài đằng đẵng hơn 4 tiếng đồng hồ đều là những chuyến bay đêm, phi cơ hầu như bao giờ cũng lượn qua ngọn núi này. Nếu như thời biết thật tốt và vào đêm trăng tròn, thì thật giống như cảnh thiên thai vậy. Lúc nào tôi cũng ngồi về phía bên trái của phi cơ để được ngắm cảnh tuyệt vời này. Lúc đó tôi cảm thấy hồn thơ lên phơi phới. Chỉ có tiếc là khoảng thời gian từ lúc đó cho đến lúc phi cơ hạ cánh chỉ có khoảng hơn 20 phút, chứ nếu không thì đã có đủ thời giờ để tôi có thể viết hết một tập thơ, có lẽ lại là thơ tình.
Khí hậu ở Seattle thật là ôn hoà. Về mùa hè trời thật mát, ít có khi nào nhiệt độ lên trên 90 độ. Mùa đông khí hậu ấm áp hơn những nơi khác. Cơ hội để nhìn tuyết rơi thì chắc là rất hiếm có vì đây là vùng có khí hậu biển. Mùa thu cũng rất đẹp và thơ mộng. Có những đại lộ hoàng hôn chạy dài,và những hàng cây đủ màu sắc của mùa thu, ấp ủ những mối tình ướt át của thành phố Seattle. Nhưng tôi nghĩ là mùa thu ở bên miền đông bắc thơ mộng hơn nhiều, vì những màu sắc của mùa thu ở bên đó thật là rõ rệt. Vả lại chắc có lẽ là tôi có nhiều kỷ niệm về tình yêu ở bên ấy hơn là ở bên này. Ở đây muốn nhìn ngắm những buổi bình minh thì cũng rất hiếm. Vì trời buổi sáng thường hay có nhiều sương mù như là thành phố Pleiku ở VN. Sương mù dày đặc. Đứng trên ngọn đồi thân yêu của thời quá khứ, tôi thấy mọi vật hình như đang ngủ yên dưới những ánh sáng yếu ớt của những ngọn đèn thành phố lập loè trong đám sương mù dày đặc; không đủ sinh lực để thắp lên niềm hy vọng của những tâm hồn lạc loài đang khát khao chờ đợi ánh mặt trời. Đường phố vẫn còn ướt đọng sau cơn mưa đêm; và vẫn còn nằm im lìm, lặng câm như những khuôn mặt người đang ngạo nghễ thách thức những tâm hồn cô quạnh, sống vất vưởng như những trái tim bên lề đang hấp hối những lời tình tứ trong những giây phút cuối cùng của màn đêm.
Tuy vậy, Seattle vẫn có những ngày nắng đep. Có những buổi sáng bình minh đẹp tuyệt vời như đôi mắt của người tình. Quyện trong ánh nắng rực rỡ của mặt trời, tôi ước ao một nụ hôn nhỏ, một nụ hôn nồng nàn để uống trọn hương vị ngọt ngào của tình yêu, để một lần được nghe tiếng em cười, nhìn thấy vầng tóc rơi rớt xuống bên đời làm sóng lênh đênh. Đây là thành phố của tình yêu, của những đợi chờ và những nhớ nhung như những cơn mưa không bao giờ dứt...
Xa lộ số 5 đi xuyên qua trung tâm của thành phố. Từ miền nắng ấm của tiểu bang California cho đến những muộn phiền và dịu dàng của thành phố Porland, OR. Chạy thẳng tít về cuối chân trời của miền bắc, qua vùng biên giới đến Canada. Trước khi đi đến cái khung cảnh hữu tình của trời mây, nước, núi và biển giữa hai thành phố Seattle và Vancouver BC, nếu như không may mắn phải đi qua khu trung tâm của thành phố Seattle vào những giờ giấc bận rộn (rush hours) thì thật là nhức đầu. Xe cộ nhiều như mắc cửi. Đôi khi đi cả tiếng đồng hồ hay là nghe hết mấy cái CD của ĐVH, MT, LC và DH vẫn chưa đi được hơn 5 miles. Ở trong downdown của Seattle, khu bờ sông là nơi rất đẹp. Đây là một hải cảng lớn ở vùng Northwest, ở nơi đây cũng có những cánh chim biển bay lượn như "bay đi cánh chim biển" của Đức Huy. Những con chim này rất là dạn. Thuở nhỏ tôi thường xuống đấy, mua bánh mì rồi moi ruột ném xuống nước cho chim xuống ăn. Mỗi lần ném bánh mì xuống nước, chim xuống từng đàn trông rất ngoạn mục.
Nước biển ở đây rất là trong. Trong nhìn thấy tận đáy chứ không như nước biển ở bên vùng Đông Bắc và Đông Nam. Vì là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của vùng này cho nên trên hải cảng có rất nhiều du thuyền thương mại đưa du khách đi khắp hải cảng và những hòn đảo lân cận để ngắm cảnh. Có những chiếc thuyền chạy trên mặt nước rất nhanh. Thuyền này là loại Hoovercraft, nếu như đi loại phà (ferry) hay boat qua một trong những hòn đảo (đảo Victoria BC là đảo có một vườn hoa nổi tiếng nhất trên thế giới) thì phải tốn mấy tiếng đồng hồ, đi bằng Hoovercraft thì lẹ hơn rất nhiều.
Trên hải cảng này có một chợ cá (fish market gọi là Pike market) cũng rất là nổi tiếng. Nơi mà du khách đến cũng thật là đông. Ngoài những sản phẩm của miền biển, cá, tôm, nơi đây họ bán những con cua lớn khổng lồ, dân địa phương gọi là King crab. Cua này mà luộc lên là ăn mệt nghỉ. Thịt của nó rất là ngọt. Những người ngư dân ở miền này, họ thường lên đây rồi biểu diễn những màn ném cá bằng tay cho du khách xem. Thêm vào đó chỗ này bán rất nhiều những đồ để cho du khách mua về làm kỷ niệm. Trái cây và hoa trái cũng rất nhiều. Đặc biệt là có rất nhiều gian hàng bán hoa đủ màu đủ sắc. Mẹ tôi vẫn thường đi đến chỗ đó để mua hoa về nhà cắm vào bình. Tôi nhớ đến một cuốn phim tình cảm của Tom Hank và Meg Ryan mang tựa đề là “Sleepless in Seattle”. Phần lớn của cuốn phim này đã được thực hiện ở đây, ở thành phố này. Lúc đó tôi thấy tóc của Meg Ryan tuyệt đẹp. Tóc chảy dài như những dòng suối mát, hồn nhiên như những tà áo trắng phất phơ của những nữ sinh trường trung học Gia Long ở Sài Gòn. Mặc dù đã xem đi xem lại phim này nhiều lần, tôi vẫn thích nhất là những giây phút cuối cùng của bộ phim, nơi mà Tom và Meg gặp nhau trên tầng lầu cao nhất của the Empire state building in New York. Đấy là những giây phút lãng mạng và đẹp nhất của tình yêu; nhất là lại vào mùa Valentine. Chuyện phim thật là cảm động, có lẽ đã làm cho rất nhiều người rơi lệ, nhưng đấy là những giọt lệ khóc cho hạnh phúc của tình yêu.
Những đường phố của nơi này đã cho tôi rất nhiều kỷ niệm của thời thơ ấu cũng như những năm tôi dồi mài kinh sử ở thời trung học. Những đường phố này có vẻ hao hao giống như là những đường phố ở San Francisco. Lên xuống chằng chịt, có khi không quen đi xe ở những vùng này, thì về đến nhà là chóng mặt như là say sóng vậy. Việt kiều ở nơi này cũng rất đông. Có những khu phố và những thương xá bán thực phẩm, băng nhạc, sách vở và nhiều sản phầm của quê nhà để phục vụ cho người đồng hương. Tiệm ăn VN mọc lên như nấm vào những năm gần đây. Muốn ăn phở, bún bò, bánh cuốn, cho đến thịt bò bảy món, bánh xèo, bánh bèo, ở đây không thiếu một thứ nào...chẳng bù cho những năm tôi đi học ở trường đại học Princeton tuốt ở bên miền Đông bắc của tiểu bang New Jersey, lúc đó mà được ăn một bát phở nóng thì thực sự mà nói giống như là được thấy thiên đàng vậy. Lâu lâu buồn thèm ăn đồ VN, thì chỉ có cách là nấu một bát nước sôi, bóc một cái mì gói bỏ vào thêm một trái trứng luộc rồi ngồi nhâm nhi thì cũng là hạnh phúc 90 đời.
Ở Seattle cũng có phố tàu (Chinatown) phần lớn là những tiệm ăn Tàu, rất ngon, tuy không lớn bằng ở Newyork hay là ở bên San Francisco, nhưng phố tàu ở đây cũng có cái nét đẹp riêng của nó. Tôi còn nhớ có một công viên nhỏ ở trong phố tàu, nơi mà tôi gọi là "công viên bồ câu", chim bồ câu ở đó rất nhiều, nhiều lắm, chim xuống từng đàn, nơi mà tôi đã từng đến để cho chim ăn, hình như là đồ ăn gì chim cũng ăn hết, hễ ném xuống đất là chúng đổ xô đến đánh nhau ăn. Phố Tàu ở đây có những tiệm bánh (bakery) ngon hết chỗ chê. Bánh trung thu, bánh dẻo là ngon nhất, ăn hoài không chán. Bánh nhân thịt, bánh ngọt, bánh bao, thịt bò khô là số dzách. Cho nên nếu như đến đây để tìm kiếm thơ mộng thì đúng là đi vào lầm chỗ, tôi thường nói với bạn bè của tôi, bạn trai cũng như bạn gái, "nam nữ bình quyền", nhưng: "trong tam thập lục kế, xực phàn là thượng sách".
|
Tôi yêu thơ, yêu nhạc và rất thích đọc sách. Từ thuở biết làm thơ, lúc đó tôi mê thơ của Nguyễn Bính vô cùng, có một tập thơ của Nguyễn Bính mà cậu tôi cho tôi xem, tôi đọc đi đọc lại không thấy chán. Không phải là vì học thơ của truyện Kiều mà vì số phận "hồng nhan bạc mệnh" của Thuý Kiều đưa đẩy tôi đến cái số mệnh làm thơ. Có lẽ là phần lớn thơ của Nguyễn Bính đều là thơ tình hay hoàn toàn là thơ tình; Mà thơ tình nếu như không phải viết về thất tình thì đọc không có "phê" chút nào. Từ những câu thơ "nhà nàng ở cạnh nhà tôi" cho đến những khung cảnh lãng mạn và trữ tình của thành phố Hà Nội như "Tơ liễu theo nhau nhảy xuống hồ" làm cho tôi phục nhà thơ này sát đất. Nhiều khi tôi không hình dung nổi là làm sao ông có thể viết lên những câu thơ độc đáo và hay đến như vậy. Nếu như tôi có một phép nhiệm mầu nào đó, thì tôi sẽ bay đến gặp ông và xin ông nhận tôi làm đồ đệ. Học làm thơ trước rồi biết yêu sau cũng được, cũng không muộn màng gì cho lắm. Ngoài ra tôi còn đọc thơ của Xuân Diệu, Nguyên Sa, Nguyễn Đông Giang, Huy Cận...và nhiều nhà thơ nổi tiếng khác. Tôi không nhớ rõ là nhà thơ Nguyễn Đông Giang xuất xứ từ đâu, nhưng tôi tìm được một cuốn thơ của ông viết vào thập niên 70, có bốn câu thơ mà tôi thích nhất là bốn câu thơ sau:
Ta về trong nhớ nhung tuyệt đỉnh Đường em đi cây lá mọc lộn hàng Ta tức giận bừng bừng lên ngựa đuổi Bóng em còn luẩn quẩn bước xênh xang...
Vì thấy tôi thích đọc thơ cho nên cậu của tôi cũng bỏ chút thì giờ để dạy cho tôi cách làm thơ. Nào là thơ lục bát, câu 6 chữ câu 8 chữ, cho đến thơ 7 chữ, 8 chữ, thơ 4 chữ, 5 chữ, thơ mới, thơ tự do, thơ gì tôi cũng học ráo. Ngay cả đến thơ “ngông” và thơ con cóc tôi cũng học luôn. Tôi còn nhớ bài thơ đầu tay của tôi viết rồi dưa cho cậu tôi đọc. Viết ba ngày mới xong, khi đọc hết bài thơ này cậu tôi cười đến chảy cả nước mắt, cười đến nỗi bò lăn bò càng. Viết thơ không dễ mà cũng không khó. Không phải là khó là vì theo luật hay là theo vần; nhưng tôi nghĩ còn phải tuỳ thuộc theo hoàn cảnh không gian với thời gian. Nếu như không có hồn thơ thì nặn một chữ đến 80 đời cũng không ra. Còn lúc mà hồn thơ lên phơi phới thì có ngừng viết cũng không được. Cho đến bây giờ tôi không biết là tôi đã viết được bao nhiêu bài thơ. Chỉ biết là tôi viết rất nhiều, nhiều lắm, đủ loại. Nhưng khi đặt bút viết lên những bài thơ tình đầu tay, tôi đã không đặt tên cho những bài thơ ấy. Cho nên một số những bài thơ của tôi là những bài thơ không tên. Chỉ có một lần ngoại lệ, tôi có viết 3 bài thơ tình đầu tiên và đặt tên cho 3 bài thơ này, nhưng mà tôi đặt tên trước cho cả ba bài rồi mới viết sau, 3 bài thơ này tựa đề là “Em có còn yêu anh 1,2,3 và rồi bài thơ 4”. Thơ có hay hay không thì tôi không biết, cái đó tuỳ theo sự phán xét của người đọc. Chỉ biết là khi viết 3 bài thơ này, tôi đã gởi trọn tâm hồn của tôi vào trong đó, tôi viết một cách say sưa và miên man bằng những nhiệt huyết của một người con trai mới lớn, vừa mới biết yêu, biết đam mê và biết nếm mùi trái đắng của tình yêu. Có lẽ trong tương lai sẽ có những bài thơ “em có còn yêu anh 5, 6, 7 và 8… Trong những bài thơ tôi viết, khoảng 10% là những bài thơ con cóc, những bài thơ nói lên cái “ngông” của tình yêu, chẳng hạn như:
Có ai đùa giỡn được tình yêu? Nó đến rồi đi chẳng nói nhiều Lấy nửa hồn ta đem đi mất Rồi đem bán lại chẳng bao nhiêu Từ đó hồn ta bỗng dại khờ Đêm về chỉ mộng mị vu vơ Hỏi gió hỏi mây còn thương xót Thì cho ta nhắn nó một điều Nói rằng nửa mảnh hồn còn lại Đem đi bán nốt để mà tiêu…
Thơ của tôi toàn là thơ tình. Rất ít bài thơ ca ngợi về cảnh vật hay là thiên nhiên, ngoại trừ một loạt bài tôi viết về quê hương với chủ đề "một mảnh tình ta" và một số bài ca ngợi về mùa xuân.Thêm vào đó một số thơ ngông và thơ tiếu lâm để ngạo đời, vì tôi không có khiếu viết về những thứ khác ngoại trừ về tình yêu. Tôi rất thích đọc sách, sách gì tôi cũng đọc, tình cảm, kiếm hiệp ( tôi mê những nhân vật trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung như: Trương Vô Kỵ, Vi Tiểu Bảo, Triệu Minh, Dương Quá, Sở Lưu Hương, Kiều Phong, Đoàn Dự…), bình luận xã hội, văn chương tôi đều đọc ráo. Báo văn nghệ, kỹ thuật, gia đình tôi cũng đọc. Ngay cả mục tìm bạn bốn phương hay rao vặt tôi cũng đọc. Đọc nhiều đến nỗi đến năm tôi đi thi lại bằng lái xe, khi tôi thi mắt (vision test) bị rớt, lúc đó tôi mới biết là mình bị cận. Nhìn vào trong máy vi tính (computer), họ bảo tôi đọc rồi trả lời, thực sự tôi có đọc được gì đâu mà trả lời. Lúc đó là lần đi thi lái xe thứ 3 của tôi khi trở về cư ngụ ở một thành phố khác. Có điều ngạc nhiên là cả gia đình tôi, không có ai phải đeo kính cả, chỉ mình tôi mà thôi. Bài thơ sau đây tôi viết trong một đêm mưa bão tơi bời trên chuyến bay bấp bênh từ thành phố Houston đến Kansas City. Hơn 20 phút đầu của chuyến bay ấy nghĩ lại mà thấy ớn lạnh đến xương sống. Giống hệt như một con thuyền chơi vơi giữa lòng biển cả vậy. Lúc đó tôi thấy lòng mình thật là gần gũi với thượng đế và sau những giây phút hãi hùng ấy tình yêu lại trở lại trong tâm hồn mất mát của tôi khi chiếc máy bay đã bắt đầu lấy lại được thăng bằng và bay qua khỏi vùng trời giông bão. Trong gần một nửa tiếng đồng hồ còn lại của chuyến bay, tôi đã viết nên bài thơ này, một bài thơ tình không tên như những bài thơ không tên khác:
Ngồi buồn nhặt những vần thơ Thay lời tình tự ngỏ lời yêu em Em về in dấu chim khuyên Gió hôn mái tóc tình duyên hững hờ Anh về dệt khúc trăng mờ Cho lòng khắc khoải đợi chờ từng giây Bóng ai xa khuất đường mây Ai còn đứng đợi héo gầy tâm tư…
Tôi rất thích nghe nhạc. Buồn hay vui gì tôi cũng vẫn thích ngồi một mình nghe nhac. Tôi biết nghe nhạc của Don Hồ từ lúc DH vẫn còn hát phần lớn những nhạc phẩm ngoại quốc, nhạc Pháp và nhạc Anh, tới nhạc dịch từ tiếng Trung Hoa chứ không hát nhạc Việt nhiều như bây giờ. Rồi đến những CD của LC, và bây giờ thì nhạc và CD của ĐVH và MT. Tôi nghe nhạc đủ loại không phân biệt ngôn ngữ. Thuở tôi còn học ở đại học, tôi mê nhạc lắm, mỗi một tuần tôi phải kiếm mua một cái CD mới. Tôi thích nhạc Mỹ của thời 70 và 80 và những năm đầu tiên của thời 90. Tôi không thích phần lớn những nhạc hiện đại bây giờ vì những lời lẽ trong những bản nhạc mới thật là nhàm chán. Chẳng có ý nghĩa gì cả. Lại có thêm những lời tục tĩu, những tiếng chửi thề ở trong đó. Tôi không hiểu tại sao những hãng đĩa lại có thể lăng xê những đĩa nhạc này. Tôi thích nhạc của “Bee Gees, Air Supply, Eagles, Journey, Led Zepplin, Queen, Elton John, Olivia, Carly Simon..vân vân và vân vân.
Tôi đi xem concert cũng rất nhiều. Hễ mỗi lần có dịp là tôi đi xem và gần đây nhất là concert của The Eagles và Britney Spears. Nhạc Pháp thì tôi thích nghe giọng hát của Christophe hay Sylvia Vartan, chẳng hạn như là ngồi một mình buồn trên ngon đồi vắng, nghe bài “Je suis parti” hay là “Aline” thì thật là tuyệt. Hoặc như những lúc muốn tự dối lòng để nghe bản nhạc “Je ne t’aime plus”. Thực ra với tôi gần gũi nhất vẫn là nhạc VN. Tôi thấy không có dòng nhạc nào hay bằng dòng nhạc VN. Nhạc VN có cái hồn ở trong đó. Nhạc tình thì hay hết chỗ chê. Nhạc về quê hương tôi cũng rất thích. Chẳng hạn như bài “Hướng về Hà Nội” hay là bài “Giấc mơ hồi hương”. Tôi yêu giọng hát của Đàm Vĩnh Hưng và mê tiếng hát của Mỹ Tâm . Tôi có gần như là 5 hoặc 6 cái tủ đựng CD, và hình như là CD nào của DVH, DH hay của LC va MT là tôi cũng có cả. Trong những lần đi xa thành phố cho những chuyến công tác, tôi đều đem theo nhạc của những ca sĩ này ở bên mình. Tôi bỏ vào một cái portable HDD, mặc dù rất là nhiều, nhưng cũng còn nhiều chỗ lắm (spaces). Thường thường thì cái HDD có thể chứa đến 7000 bài hát, bây giờ ở trong đó, chắc chỉ có khoảng trên dưới 300 bài nhạc mà thôi. Tôi đi đó đi đây rất là nhiều vì công việc đòi hỏi. Mỗi một năm thì có khoảng 52 tuần, tôi đi công tác hết 34 tuần, từ Nam cho tới Bắc, từ Tây qua Đông ở trên đất Mỹ này, Canada (Van couver, Toronto, Montreal), Paris, London, Singapore, KL, Tokyo, Hong Kong, Đài Loan, Germany tôi đi ráo. Cho đến những vùng núi non hùng vĩ đẹp tuyệt vời với những ngọn núi cao ngút trời ở Norway và những đêm chờ sáng ở Amsterdam airport.
Những thành phố nào có dấu vết của technology đều có vết chân tôi. Đi nhiều đến nỗi nếu như có ai hỏi là 3 tháng trước tôi đã đến đâu tôi cũng không nhớ nữa…Cho nên nhạc, music video là những người bạn đường đồng hành thân nhất của tôi ngoài hotel, rental car, computer laptop, cell phone, airport và airplane. Tôi viết lại những kỷ niệm nương theo dòng thời gian của “nhịp bước hoang vu” này, để ghi lại những nhịp bước đời qua vùng không gian, và hoang vu là phần đối diện với tình yêu tôi sẽ đề cập đến sau. Tôi chẳng hãnh diện gì hay khoe khoang gì về nghề nghiệp của tôi cả, nghề nào cũng là nghề, tuy nhiên tôi thấy trong nghề của tôi có vẻ được tự do và thoải mái hơn, vả lại, được đi đó đi đây cũng đỡ buồn và có cơ hội học hỏi nhiều hơn bởi vì : “đi một ngày đàng học một sàng khôn…”
Tôi có một tật rất xấu là thích ăn hàng. Thường ra thì nếu như ai có tật xấu thì nên giấu đi mới phải, đối với tôi đây không phải là một vấn đề, ai biết cũng không sao, người tình có biết được thì càng tốt, làm sao cho người tình yêu được cái điều xấu của mình thì mới đúng nghiệm được hai câu thơ “yêu nhau yêu cả đường đi…ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng…hay nói một cách giản dị là love me love my dog”. Dường như khi đi đến một thành phố nào mới, tôi thường hay tìm biết để xem ở đó tiệm ăn nào và món ăn ngon nhất, rồi phải tới ăn cho bằng được cái món đó. Ở tiệm ăn đó, không ăn được, nhất định không về. Tôi rất thích ăn ngọt, nhất là ăn chè, chè nào cũng thích, đủ loại. Những lần đi sang bên quận Cam (Orange county) của tiểu bang Cali, tôi thường đến những quán chè lớn, mua chè và đứng ăn ngay giữa đường phố mà chẳng thấy hổ mặt nam nhi chút nào. Nào là chè thưng, chè ba ba, chè táo sọn, chè khoai môn, chè bắp, chè hoa cau/hoa cúc… Có một vài cô gái thấy tôi ăn dừng lại nói an ủi với tôi vài câu, chẳng hạn như là “you look so cute”, tôi mời các cô bé ăn luôn, không một cách ngần ngại. Chủ nghĩa ăn hàng của tôi được gói ghém bằng một câu nói rất giản dị “me and a bag of chip…and the dip…together we can rule the world” (đón đọc: Góc phố Bolsa, coming soon..)
Chỉ có một tật xấu này thôi, còn những tật khác thì may mắn thay tôi không bị cám dỗ. Tôi không biết uống rượu, không biết hút thuốc, cũng không biết uống café, cho nên đôi lúc tôi không biết là đốt một điếu thuốc, ngồi uống café với những hương vị đắng như thế nào mới có thể nhớ người yêu. Đối với tôi nhớ người yêu lúc nào tôi cũng có thể nhớ được, ngay ở trong giấc ngủ vẫn có thể nhớ chứ không cần phải dựa vào café hay là cà pháo gì hết. Có lẽ là vì tôi rất ít khi dùng điểm tâm cho nên không có cơ hội để mà làm quen với café. Mỗi buổi sáng thức dậy sớm là tôi nhảy vào phòng tắm. Trời nóng hay trời lạnh gì cũng tắm vào buổi sáng. Trước khi làm bất cứ chuyện gì. Uống bia thì tôi cũng có thể ngồi với bạn bè uống được nửa lon (can) là cùng. Cho nên họ bảo tôi là dân “phá mồi”. Còn ngồi một mình, thì uống không hết đến ¼ của lon bia. Bia con cọp ở VN uống có mùi vị thật là lạ, ngon ngọt, còn bia 33 thì giống như mùi vị của bia “Dixie” của vùng Bayou in Louisiana hay là "Tsing Tao" của người Tàu. Có những lần đi chơi với bạn bè ở trên vùng Minneapolis, gần khuôn viên của trường đại học Minnesota vào mùa đông, dân của vùng này uống bia như là uống nước lạnh, có lẽ là vì về mùa đông ở đây lạnh quá nên phải uống bia cho ấm lòng. Mỗi một ly bia của họ thì rất là lớn, được mệnh danh là "Monsdo", ở đó có bia chính gốc của Đức (German), tên thì nghe hay lắm mà uống vào thì mùi vị như là nước trà cũ vậy. Màu sắc thì trông giống như là cafe đen… | |