Sách cũ tình tôi 4
Dì H người miền Nam lục tỉnh, kém mạ tôi bốn năm tuổi. Qua Pháp sau biến cố 1963. Dì H mê tiểu thuyết Tùng Long như điếu đổ. Dì thường nói "Tùng Long là nhức !" Tôi đùa lại " dì có gửi thư đến mục Gỡ Rối Tơ Lòng không vậy?". Dì cười khúc khích "có chứ sao không, nhưng tao lấy tên con bạn hàng xóm. Một lần nó chửi tao te tua vì bị thằng bồ nó hiểu lầm, cho rằng nó một bến hai thuyền. Thiệt ra chính tao bắt cá hai tay.". Tôi chọc tới " rồi kết quả ra sao?". Dì cười phá lên " kết quả là tao cho cái thuyền thứ ba gốc wuảng nôm cắm... ừ... ứ.... ư.... a... sào.". Cải lương là thuốc an thần của dì, sau lây sang mạ và cả vợ tôi cho đến ngày nay.
Dì H ly dị đã lâu, ở vậy nuôi hai đứa con. Dì làm chủ một nhà hàng miệt Cambronne, Paris 15, bảng hiệu cũng hay hay: Nam Vị. Món mắm và rau của dì thì hết ý, ăn quên no. Làm nhà hàng nên dì quen biết rộng, mấy ông văn nghệ sĩ gốc Nam ở Paris dì "quen ráo trọi"(chữ của dì). Vì dì mê bà Tùng Long nên sách dì toàn tiểu thuyết, không trực tiếp đáp ứng nhu cầu của tôi, dì cho tôi vui vẻ nhận, để dành, chuyển từ từ qua cho hai "chuyên viên đọc dùm" là bà ngoại và mẹ các con tôi với nhiệm vụ đã nói qua trong phần 3.
Một đêm, toàn thể đại gia đình chúng tôi rũ nhau đi ủng hộ nhà hàng dì H. Trong lúc cả nhà chờ món ăn, dì đi tới vỗ vai tôi:
- Vô đây dì giới thiệu cho ông cụ nhà thơ này, kho sách đó.
Tôi liền nói qua với gia đình, đứng dậy theo dì tới một cái bàn hai người phiá trong góc. Ngồi ở bàn là một người lớn tuổi, ăn mặc tươm tất, râu tóc muối nhiều hơn tiêu, đeo kính trắng gọng mạ vàng. Trên bàn chưa có thức ăn. Dì giới thiệu:
- Anh T à, đây là thằng cháu tui, nghe tui nói anh là nhà thơ nên nó háo hức muốn làm quen. Nó mê thơ và sách lắm. Anh ngồi một mình, vậy cho phép nó ngồi nói chuyện với anh cho vui nghen. Tui bận tay trong bếp, hai bác cháu cứ tự nhiên, chút nữa tui ra.
Ông khách lịch sự đứng dậy niềm nở bắt tay tôi, mời tôi ngồi xuống cái ghế đối diện, một tay lật cái ly thứ hai trên bàn, tay kia với chai rượu vang định rót mời. Tôi vội nói:
- Thưa bác, cháu không uống được rượu. Cám ơn bác. Để cháu về bàn lấy chai bia của cháu.
- Chà...nhưng tùy cậu. Ông khách trả lời ngắn gọn.
Tôi trở lại với ly bia mới rót đầy trên tay. Bàn ông cụ vẫn chưa có thức ăn.
- Tôi là TTT, bút hiệu HH. Ông cụ tự giới thiệu.
- A, có phải bác là tác giả Vượt Biển Chết không ? Tôi kinh ngạc hỏi.
- Ủa, cậu cũng đã đọc bài đó à ? Đọc trên tờ ĐT chứ gì ?
- Dạ, đúng rồi. Ai dè cháu lại gặp tác giả nơi nầy.
- Thế ra cậu là độc giả báo ông NVH.
- Ờ... dạ.
- Cậu thấy bài Vượt Biển Chết thế nào ?
- Hay lắm bác ạ, nội dung rất thực. Chắc bác và gia đình đã sống qua mọi cảnh trong thơ?
- Hà hà hà... nhà thơ cười lớn. Đâu có, tôi qua đây từ 45 lận. Tôi viết theo lời kể của một thằng bạn thuyền nhân...
- Mà bác tả lại được như thế, kể là tài.
- Cám ơn cậu. Cậu đọc báo ĐT lâu chưa ? Có viết lách gì không mà mê sách ?
- Dạ, cháu ủng hộ ĐT từ số đầu, vì bác NVH là chỗ quen biết, ở gần nhà cháu trong vùng Marne la Vallée (đông Paris). Cháu đang tập viết.
- Vậy là tốt rồi. So với mấy đứa con lai của tôi, bù trất... Ông cụ thở dài.
- Té ra...
- Ừ... tôi vợ đầm. Bả mất đã 8 năm. Hai đứa con tôi đều được sinh ra ở Bordeaux (nam Pháp). Một thằng hiện ở Mỹ, một thằng ở Tunisie...
Nghe ông cụ than chuyện gia cảnh, tôi vội bẻ lái câu chuyện:
- Bác viết đã lâu chưa ?
- Viết từ hồi sang đây, nhưng không đăng, vì viết lúc đó là để ôn tiếng mình. Vợ đầm mà. Sau 1980 tôi mới thực sự gửi bài, đăng lai rai.
Dì H trở lại, tay bưng khay thức ăn đặt lên bàn nhà thơ, nói với tôi:
- Thôi, tạm sì-tốp nghen, cả nhà đang chờ "phò mã" đẳng. Dì có làm 1 phần Mắm và Rau cho mày đó. Để dì ngồi "đấu" tiếp cho.
Tôi cáo lỗi với nhà thơ HH, trở về bàn, bắt đầu cầm đũa. Xong bữa, phải đưa gia đình về, tôi chạy lại bàn nhà thơ từ biệt:
- Tiếc quá bác ơi, cháu phải làm tài xế đưa vợ con về. Bác cho cháu số điện thoại, mai mốt cháu gọi, xin gặp lại bác hầu học hỏi...
- Còn sớm, về chi vội... ngồi xuống, ngồi xuống, ta nói chuyện tiếp...
- Không được đâu, cháu là thiên lôi, bả chỉ đâu đánh đó...
- Ờ ha – nhà thơ cười: "Khép nép bên nàng chẳng mất chi, cao lương mỹ vị chén tì tì ...". "hiếu vợ" như cậu thế mà tốt. D'accord, on se verra (đồng ý, ta sẽ gặp lại).
Rồi do lu bu, tôi quên hẳn cuộc tương ngộ "vượt biển chết". Một hôm, dì H đến áp-phe với mạ tôi, thấy tôi dì nói:
- Sao "phò mã" không gọi cho nhà thơ HH như đã hứa. Ổng có nhắc tới mày đó. Liên lạc đi, may ra "mèo mù vớ cá rán".
- Ổng ở xa quá, cháu lười đi.
- Đâu được mày. "Muốn ăn phải lăn vô bếp" chứ.
- Mai cháu sẽ gọi thăm ổng, thăm hỏi thôi chứ ổng là nhà thơ chắc còn quí sách hơn cháu...
- Ổng đã thất thập + 3 rồi đó...
- Ủa, sao trông bác ấy chỉ mới hưu ?
- Ừa, có thể nhờ trước ổng là dân tác chiến chi đó nên thể chất trụ hơn người khác. Hè hè, ổng chê mày là cờ không có gió...
- Là sao dì ?
- Là ổng "chích" mày trai tráng mà sợ rượu.
- À, kỳ vô phong. Cháu có sợ đâu, tại uống vô là quay đùng ra ngủ... xấu hổ lắm. Bia thì ça va...
- Muốn gọi bây giờ dì gọi cho, dì gọi là dính ngay...
- Sao hay vậy dì ?
- Ừa, ừa... tại...., dì ngập ngừng. Ừa, ừa... tại ổng nhắm tao đó.
- Ố là la... Tôi bật cười. Hèn chi ổng rành sáu câu: hiếu với vợ nên được "chén tì tì".
Nói là làm, dì H quay số điện thoại. Đúng như rằng: Hình như nhà thơ (cả ngày) chỉ chờ có bấy nhiêu. Không biết bên kia nói gì, chứ bên này nghe dì H thỏ thẻ, cục thép nguyên khối cũng phải rệu thành tương. Xong, dì trao điện thoại cho tôi. Thăm hỏi qua loa, nhà thơ hẹn tiếp tôi trưa thứ hai 8/5, nghỉ lễ đình chiến 1945, "sẽ có bia cho cháu".
Tôi mang theo hai chai vang Bordeaux Saint-Emillion làm quà. Cơ ngơi của nhà thơ ở tận Rambouillet thuộc Versailles-Yvelines (78), vùng nhà giàu, cách nhà tôi chừng 80 cây số. Một biệt thự quá rộng cho một người ở. Nhìn từ ngoài, tôi ước tính ít ra cũng 5/6 phòng. Tường rào phiá dưới bằng xi-măng cẩn đá hoa cương màu nghệ, cao độ 50 phân, phía trên làm bằng gỗ cao chừng 60 phân quét vẹc-ni màu nâu đậm mới toanh, ngay sau lưng rào là hàng thông cụt đầu xanh um cao trên dưới 2 thước, tắp lự. Cổng chính có vẽ nặng trình trịch với hệ thống đóng, mở tự động, bên cạnh là một cổng nhỏ.
Nhà thơ ra đón tôi bằng cửa nhỏ. Niềm nở tay bắt mặt mừng. Vườn bao quanh nhà, cỏ sân như thảm, cây xanh, hoa hồng đó đây rất điệu nghệ. Phải gọi là đẹp và sang.
- Nhà bác "chic" quá !
- Nhà của ông bà ngoại mấy đứa. Nhà tôi con một, nay chẳng còn ai. Hai đứa nhỏ đi biệt, ba bốn năm mới ghé về mươi ngày nửa tháng. Tôi thui thủi một mình – nhà thơ thở dài, "lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ ".
- Yên tĩnh thế này, chắc bác tha hồ viết.
- Chứ biết làm gì cho hết ngày. Trong tuần tôi ít đi đâu, cuối tuần chạy vô dì H của cậu tán...dóc.
Bước vô phòng khách rộng rinh, tôi giật mình vì cách trang trí nội thất quả là đẹp, nhã. Tôi còn nhớ như in nhưng xin miễn tả lại. Mời tôi ngồi xuống cái trường kỷ da màu nghệ ba chỗ ngồi, trên bàn có lưng chai vang Côtes du Rhône và một cái ly thủy tinh nửa vơi nửa đầy. Đồ nhậu u ê. Nhà thơ đi vào lấy ra hai chai bia Kronenbourg 1664 toát mồ hôi và một cái ly loại nửa lít cùng nhãn hiệu, tay mở nắp trút hết vào ly, miệng cười nói:
- Đêm đó ở nhà hàng Nam Vị, cậu từ chối uống vang, sau nhớ tới cậu tôi có đùa với bà H, cậu là kỳ vô phong, bả cười quá trời.
- Bia cũng là phong chứ bác...
- Đúng vậy, nhưng là ..."thu phong rụng lá vàng, lá bay hàng xóm lá bay sang..."
- "...Vàng bay mấy lá năm già nửa, hờ hững ai xui thiếp phụ chàng". Tôi đánh bạo nối hai câu sau đoạn một trong bài Gió Thu của Tản Đà.
- Cậu cũng thuộc bài này à ?
- Dạ, nhớ lỏm bỏm...
- Lỏm bỏm mà ăn khớp vậy tức đã đọc qua nhiều lần. Thôi ta cụng một cái đã, tính sau. Cậu chơi vàng, tôi chơi đỏ.
Cuộc gặp mặt rất thú vị, liên tu trên trời dưới đất, dọc núi ngang sông...nhưng thi ca là chính, kể lại thì quá dài, phần nầy cũng chỉ nói về sách.
Thơ thẩn tôi chỉ mới vỏ vẻ một vài, do đọc nhiều và chịu khó nhớ lận lưng làm vốn khi hữu sự (xưa còn độc thân ứng dụng trong ngoại giao tình cảm). Ai đi hơi xa là tôi lòi tẩy...gạo mốc. Ấy thế mà nhà thơ HH chịu quá. Tôi cho là vì nhà thơ "tủi thân" không có người nối dõi sự nghiệp văn chương của mình.
Nhà thơ chơi đỏ đến nửa chai thứ hai. Tôi chơi vàng đến chai thứ 7. Hai bên vẫn tỉnh như sáo. Đồ nhậu còn chút đỉnh. Bất ngờ bác T ngắt câu chuyện:
- Cậu theo tôi lên phòng sách coi qua cho biết. Chẳng có gì ghê gớm, một mớ tôi mang theo từ 1945, sang đây tôi vẫn nhờ bạn bè đều đặn mua gửi qua. 100% sách trước 75 à nghen.
- Cháu cũng chỉ thích sách giấy vàng... dĩ vãng. Sách in lại bên này hay bên Mỹ, giấy trắng cháu không ham...
- Mãi sau này mới in chứ trước toàn photocopie. Bố MTN bên này. Hai lão ĐNT và PCD bên Mỹ phất lên cũng nhờ loại sách lem nhem trắng dã này. Tụi nó dán gáy dổm thấy mẹ. Lật trang hơi mạnh tay là "long ốc", vô ý gấp ngược coi như tiêu, bià đi đường bià, trang đi đường trang. Không có cơm đành chịu khó ăn bánh mì, ăn hamburger đỡ đói... Tôi có đâu 20 chục cuốn "long ốc" vất dưới hầm. Tôi định... mà thôi... chật nhà.
Cầu thang lên từng trên bằng gỗ khối chạm trỗ tinh xảo, bóng lộn. Tôi liếc đếm, có 4 phòng. Nhà thơ mở cửa một phòng, mời tôi vào trước. Thoáng nhìn tôi biết phòng này trước là phòng ngủ, nay thành phòng sách. Có hai cái tủ cửa kính cao lớn, kín sách, sừng sửng đứng hai bên cái bàn viết rộng. Trước bàn là cái ghế da loại VIP. Tủ bàn đều là kiểu cổ bằng gỗ khối đánh vẹc-ni cùng màu với cầu thang. Hai cái ghế Rocking Chair mây, lót nệm mút. Tranh ảnh trong phòng tôi nhớ mang máng có đâu ba bức sơn dầu về 3 miền đất nước Việt Nam, không nhớ do hoạ sĩ nào.
- Tủ bên trái là sách tây, tủ bên phải là sách ta. Nhà thơ lên tiếng. Sách tây, cậu dân "nos ancêtres sont des gaulois" (tổ tiên chúng ta là người Gô-loa, ý nói học trò trường Pháp từ nhỏ) chắc chẳng lạ gì Corneille, Racine, Rousseau, Voltaire, Hugo, Balzac... Sách ta thì cậu cứ mở tủ ra mà coi, phân nửa là thơ và ca dao, loại tôi thích nhất.
- Hèn chi mà bác chẳng thở ra thơ...
- Ừa... tại nhập tâm sao đó, mà hình như các ổng nói dùm mình hết trơn rồi thì phải. Mọi tình huống đều có thể ứng dẫn mấy ổng ra là gọn nhẹ, đầy đủ.
- Dạ, nhưng đành là ứng dẫn nhưng hàm ý khác, đúng không bác?
- Đương nhiên, đương nhiên... Cần và phải như thế chứ, nếu không viết... chùa chi cho phiền vợ con.
- Có nghĩa là bác gái và hai anh không đồng tình việc bác làm thơ, viết báo?
- Thứ nhất, họ không hiểu. Thứ nhì, thấy mình viết chùa. Thứ ba, mình lơ là bổn phận ... Cậu ở bên này, cậu lạ gì, tụi tây cuối tuần là sortie (đi chơi), resto (đi ăn nhà hàng)... và trăm thứ thứ khác. Họ có lối sống đặc thù và cái lý chắc nịch của họ. Giải thích trẹo hàm, khô cuống họng...tắc tị hoàn tắc tị.
- Có thể do không muốn hiểu nên thiếu tình cảm thông chăng?
- Cậu ngụ ý họ hiểu bằng cái đầu mà không hiểu bằng con tim ?
- Dạ, đại khái là thế.
- Thì bác cũng nghĩ vậy, nhà thơ đổi cách xưng hô. Văn xuôi không nói làm chi, nó lòng thòng, còn thơ bác làm ra, lúc đầu bác đều chuyển ngữ thành tiếng Pháp đưa cho họ đọc, đọc xong họ hỏi: C'est pas mal, mais est-ce vendable? ( Khá lắm nhưng có bán được không?). Mình cứng họng. Vừa tức, vừa tủi. Mà thôi, bỏ chuyện Pháp-Việt đề huề đi. Trăm sự cũng do ông tơ bà nguyệt.
- Balzac có câu "dans ce siècle, vivre de sa plume est un travail auquel se refuseraient les forçats" (trong thế kỷ này, sống bằng ngòi bút là thứ lao động mà những người tù khổ sai khước từ)...
- Được vậy đã may. Balzac là thế kỷ XIX, bác cháu ta đang ở cuối thế kỷ XX. Balzac nói "vivre de (sống bằng)...", còn bác, bác lại cho rằng "đến thời buổi này, trong cũng như ngoài nước, sống nổi với ngòi bút Việt vẫn còn là một ước mơ xa-xa-xa vời..."
- Bác nói làm cháu nhớ tới mẩu chuyện tiếu lâm... Tôi ngập ngừng, do dự.
- Cháu cứ kể, dù thế nào cũng chẳng hề chi – nhà thơ cởi mở, bác cũng là cây tếu, bác hưu từ lâu, hưu de luxe (cao cấp, lương hưu cao).
- «Vợ nói với ông chồng nhà văn: "... Cuối cùng anh đã có cơ hội để khẳng định gia đình ta có thể tiếp tục sống với ngòi bút của anh: Anh mau viết thư ỉ ôi xin chị hai gửi gấp về cho 200 đô để trả 3 tháng tiền nhà, 3 tháng tiền điện !"»
Để tôi được tự nhiên ngắm sách, nhà thơ HH đề nghị tôi qua phòng bên cạnh gọi bác khi nào coi xong. Tôi thẩn thờ trước tủ sách ngon quá là ngon. Cả tủ sách Việt tôi độ chừng có trên dưới 600 cuốn, hoàn toàn sách cũ trước 1975 in tại Sàigòn. Sắp xếp gọn gàng. 3 ngăn trên là thơ và ca dao – ca dao không nhiều. 2 ngăn kế tiếp đủ loại. Ngăn cuối cùng là tiểu thuyết rặt Tự Lực Văn Đoàn. Thơ thì coi như chủ nhà sưu tầm được khá đầy đủ, tiêu biểu cho mọi thời, mọi trường phái... Nội Kiều chú giải tôi đếm được 5 cuốn do 5 biên giả và nhà xuất bản khác nhau.
Tôi rút ra bộ Thi Ca Bình Dân Việt Nam gồm 4 cuốn dày cộm của Nguyễn Tấn Long và Phan Canh, lên nửa ngồi nửa nằm trên 1 trong hai cái Rocking Chair, lật trang cuối cuốn 1 ra đọc: Sống Mới xuất bản ngày 19 tháng 8 năm 1969. Lật trang cuối ra đọc là việc đầu tiên tôi máy móc làm, là tật cố hữu của tôi mỗi khi cầm 1 cuốn sách. Cuối loạt bài này tôi sẽ trình bày lý do tại sao.
Rồi mê mãi đọc tôi thiếp đi lúc nào không hay, quên luôn chuyện qua gọi bác T. Chẳng biết tôi thiếp đi bao lâu thì chính bác T là người qua lay tôi dậy. Tôi ngượng ngùng xin lỗi bác rối rít. Bác cười:
- Bác qua lần này là lần thứ 3. Hai lần trước thấy cháu ôm ấp Nguyễn Tấn Long và Phan Canh ngủ ngon quá nên để mặc. Sao thấy tủ sách thế nào ?
- Dạ - tôi dụi mắt trả lời. Sách bác chủ yếu là thơ, thích thật, nhất là thơ tiền chiến. Tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn đương nhiên là hay, là quí nhưng theo cháu không là sách hiếm. Còn 2 ngăn linh tinh thì hầu như cháu đều có cả...
- Thế bộ cháu đang coi ?
- Cháu mới đọc mấy chục trang phần mở đầu thôi nhưng nhìn sự đồ sộ của tác phẩm thì nhất định không tệ, riêng phần trích tuyển cũng đã đáng là toà lâu đài văn hoá dân tộc như lời ghi trên bià.
- Thấy cháu mê sách cũ, bác cũng thấy thú vị vì vô hình trung ta có cùng goût (giám thức, sở thích). Nghe bà H nói tủ sách cũ của cháu cũng "khẩm" lắm phải không ?
- Dạ, do duyên chi đó nên được các bác các dì "cựu trào" tìm cho, nay cũng gọi là. Có dịp mời bác đến coi.
- Bác bây giờ coi như hết mọi háo hức rồi...
Nghe ông cụ nói vậy, trong đầu tôi trộm bật ra ngay câu "... chỉ trừ dì H !"
- ... bao nhiêu hoài bảo rồi cũng như không, nữa là sách... Thôi ta xuống nhậu tiếp.
Xuống phòng khách tôi ngồi thêm độ nửa tiếng thì xin phép chào về. Bác T bảo tôi chờ chút rồi đi lên lầu. Bác xuống trong tay có một cái bọc ny-lông:
- Trong nầy bác đã chuẩn bị sẵn trước khi cháu tới mấy cuốn sách mà bác có hai bộ, bác tặng cháu làm quà cho buổi gặp mặt thú vị này. Cháu à, đọc sách chẳng khác gì ăn cơm, có tiêu hoá mới bổ ích. Còn đọc rồi mà chịu khó viết lại theo cảm quan của mình thì niềm vui càng lớn, chưa cần nói tới chuyện hữu ích cho ai. Tuy nhiên, làm gì thì làm không có sự đồng thuận của vợ, của chồng, của con cái thì...khổ tâm lắm.
Ở phần 4 này, tôi cũng định dứt ngang để bạn đọc đoán xem trong bọc ny-lông có những sách gì nhưng suy nghĩ rồi, tôi xin nói ra luôn. Trong đó có :
1/ Một cuốn Những Khuynh Hướng trong Thi Ca Việt Nam của Minh Huy, nxb Khai Trí – Sàigòn, 17/09/1962.
2/ Một cuốn Việt Nam Sử Lược (trọn bộ 2 cuốn đóng chung) của Trần Trọng Kim do nhà xuất bản Tân Việt in xong ngày 25 tháng 4 năm 1958 tại Nam Phần (MN), bià cứng.
3/ Trọn bộ 3 cuốn Thi Kinh Tập Truyện, nguyên tác Khổng Tư san định, Tạ Quang Phát diễn dịch, Bộ Giáo Dục - Trung Tâm Học Liệu (VNCH) xuất bản lần thứ nhất năm 1969.
Và chao ôi,
4/ Trọn bộ 4 cuốn Thi Ca Bình Dân Việt Nam do Nguyễn Tấn Long và Phan Canh, Sống Mới xuất bản ngày 19 tháng 8 năm 1969, tổng cộng 2.500 trang.
Hàn Lệ Nhân
Hình: Thi Ca Bình Dân Việt Nam