Lính và Thơ

lính và thơ
TC Nguyễn
                    
 Xuyên qua thi ca dân tộc, lính và thơ như quyện đan nhau, xoáy tròn như cơn lốc,khi thì cao độ, lúc thì âm thầm, tạo ra những mảnh đời đầy thi vị, tình tự với núi sông, un đúc thành hình ảnh những trang hào kiệt, vừa bi hùng vừa hào sảng thanh tao như những “tao nhân mặc khách”:

 

                                          Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo

                                                   (Nguyễn Du)

 

                                           Bốn phương khói lửa ngút trời

           Thanh gươm, ngọn bút một đời lang thang

                                                (Việt Châu)

 

  Cái dáng dấp dễ thương của người lính qua thi ca có được là tự nó xuất phát từ nguyên ủy của tình yêu quê hương dân tộc gắn bó không ai tha thiết hơn, đối chọi với nghịch cảnh, luôn luôn đứng trước sự sống còn của chính bản thân, đồng đội, khó ai có thể hiểu hơn cái thân phận của con người hằng ngày phải trực diện với cái chết chực chờ, chính là nguồn động lực kỳ diệu cho người lính trong tình yêu thiên nhiên, qua từng bước chân họ dẫm qua trên vạn nẻo đường đất nước, in trong hồn họ những tiếc thương khắc khoải, nuối tiếc vang vọng một thời đã mầt đi- Từng lùm cây bụi cỏ, qua rừng sâu thâm u hay biển cả bao la, đâu đâu cũng ghi đậm những hủy hoại đau thương của một đất nước bị chiến tranh tàn phá. Làm nhiệm vụ của người trai thời loạn theo tiếng gọi của đất nước, từ bỏ tất cả để ra đi, tâm hồn họ như những mảnh tơ trời tản mạn không thể nào giải thích bằng những thứ ngôn ngữ thường tình và tự động hổ trợ thành những thi sĩ như một “kỳ duyên”.

  Thơ như một nơi người lính nương tựa để có thể phát tiết được những ứ đọng tâm tư tình cảm được cảm nhận qua tâm hồn vá tự nó giải thích dùm những ẩn khuất dấu kín từ ngàn xưa còn vang vọng:

 

                                              Nỗi lòng u-uẩn  lan sông núi
                                              Tình cứ trôi xuôi chẳng đợi chờ

                                    (Việt châu)

 

  Nhiệm vụ cao cả của đất nước dân tộc trao cho, qua những dấn thân của chính họ tạo những nguồn bạo động trìền miên trong lòng người lính khiến họ chấp nhận mọi thử thách và sẳn sàng hy sinh bản thân và tự nó không còn bao gồm trong nghĩa cá nhân vị kỷ nưã, “lo cái lo của thiên hạ” tạo thành những hãnh diện bộc phát, thôi thúc đôi khi nghiệt ngã với chính mình; khinh đời coi thường tất cả những cái “thực” đang có, quẳng họ vào khoảng không, đi vào thế giới khác của những anh hùng kiếm sĩ thời xưa ngạo nghễ một thời:

                                      Tám phương trời khói lửa

               Một mũi dao sang Tần

                         (Vũ Hoàng Chương)

 

               Tang thưong nào có ra gì

            ..............................

              Không tang thương sao lại có mình ở đây!

                                    (Aí - Lan)

 

  Tự aí dân tộc chưyển đạt qua người lính rất hào phóng trong cung cách của một người Hùng chỉ có tới mà không có lui, chính là lúc họ dễ bị phỉnh gạt bởi những đòn phép chính trị xảo quyệt đẩy vào con đường cùng. Chứng kiến những thăng trầm của lịch sử để nhận dạng thì không còn kịp nữa, họ phải trả một gía rất đắt cho chính bản thân, nghiệt ngã của định mệnh đùn lên đầu họ, những người con yêu của đất nước ngày nào tự đưng bị phản bội, sự vạ chạm trầy trụa toé lửa bùng lên nhũng uất khí ngút ngàn:

                                        Nằm đang chờ đợi thời gian chết 
                                        Chí-sĩ còn ai chẳng hận thù 
                                                        
                                                           hay:
                                    
   
                                     Mất
nước dễ cam điều tủi hận
                                       Gương tan há có chuyện đau lòng
                                                                   (Việt Châu)
                          
                                                                                              
                                                                                

  Phải phấn đấu để vượt qua, lấy thành bại để luận anh hùng đã là một điều phi lý đối với người lính, bản chất âý, giòng máu âý, người lính có muôn cách để phô bày và tự thoát khoỉ tù ngục qua tiếng vọng của thi ca, nguồn rung cảm tận cùng đã phổ thành âm điệu bay qua chín từng mây không có gì ngăn cách được, như âm vọng của tiếng sáo (hát) Trương Chi, dầu quan Thừa Tướng cha Mỵ Nương, ra lệnh ngăn chận các nẻo sông thì nó vẫn cứ lồng lộng từ trời cao bay vào. Tiếng nói cuả tự do có thể đạp đổ mọi thành trì của bạo lực, lao tù, xiềng xích, đày aỉ, bắn giết nào làm sờn chí họ. Bao người ngã gục những người khác xông lên, chính nghĩa bao giờ cũng sáng như vừng Nhật Nguyệt, tự biết và tạo cho mình một dáng dấp kiêu hùng, tinh tuý nhập vào đaị cuộc như một trò chơi “nhẹ tợ lông Hồng” mà lòng nặng một nỗi u hoài như “núi Thái Sơn”, cảm nhận được sự vận chuyển của vũ trụ, người lính thản nhiên vạch cho mình một con đường theo một lý tưởng đã định không quan ngại gì những biến động nhỏ chung quanh làm não lòng họ:  

                                                     Ta há quan tâm gì vìệc thành bại 
                                                     Thế gian kia bãi bể nương dâu
                                                                             (Vũ Hòng Chương)

  Không con đường nào khác để đắn đo suy nghĩ vì cuộc đời binh nghiệp tự nó đã cưu mang, đồng loã với sự chấp nhận những khắc khe cuả định mệnh cũng như đón nhận những phút vinh quang, bình thản như một Kinh Kha sang Tần, giữa rừng gươm giáo cái chết đã cận kề vẫn ung dung uy dũng làm cho cả triều Tần nao núng; chỉ một cánh tay áo của Tần Vương bị chém đứt không hại được bạo chúa tức thời nhưng đó là thời điểm cáo chung của một triều đại baọ ngược. Danh dự trách nhiệm làm cho người lính có một lối vui hồn nhiên để quên đi những tình cảm riêng tư, sống thoải mái hội nhập với cỏ cây sông núi, hòa mình vào cái đại ngã của vũ trụ, quên cái tiểu ngã đeo mang để dấn thân vào đại cuộc:  

                                                  Quên thân như đã quên nhà 
                                             Gío rừng hứa hẹn sơn- hà hát vang 
                                                                                   
(Minh-Huy)  

  Một thứ tình yêu lãng mạn vươn cao đến nỗi quên cả mình cả nhà, đi theo tiếng gọi của sơn hà đầy hứa hẹn về phía trước, là lúc trổi dậy của tình đồng đội, vì trên bước đường giang hồ lãng tử, người lính không phải đơn độc chiến đấu mà còn nhiều bạn bè trên vạn nẻo gặp nhau trở thành một nhu cầu khẩn thiết cho những bộc lộ tâm tình, gửi gấm những thương yêu vời vợi không lối thoát, là lúc gạt bỏ mối vị kỷ quên đi qúa khứ vui trong phút thoảng qua của hiện tại đầy vấn vương và tương lai như mây trời bềnh bồng...   

                                                    Nhớ khi quán nước vui chân núi 
                                                    Câu chuyện tương-lai gío quạt mành.                                                                                      (Huy Thông)

 Bao ân tình sâu tận đáy tâm hồn, con người như một thoáng ngưng đọng giữa thế gian đầy ô trọc, nhìn những traỉ qua, xa vắng lạnh lùng như bị rơi vào giửa khoảng không, giận mình, giận người... bất lực trước thực cảnh trái ngang, tự dưng thấy mình cần phải hành động, người lính hào khí ngút tỏa, tự mình lao vào làn tên mũi đạn, diệt bạo trừ nguy không một chút đắn đo:   
                                                 
                                         
Ta xén tay áo đạp đầu Tần Vương
                                                                       (Lam Giang)

 

  Trên đường chiến đấu chống kẻ thù chung, Người lính hòan toàn thản nhìên với chính  việc làm cuả họ, theo tiếng gọi để dấn bước ra đi nhưng vẫn có caí gì vương vấn, tâm hồn họ bỗng thấy tắt nghẹn, làm cho họ phân vân giữa những lý lẽ- họ chọn lựa, hay buộc phải chọn lựa, lịch sử như con dao hai lưỡi, chiều nào cũng có thể làm cho người lính chân thật bị tổn thương; con người không dễ gì khách quan để nhận dạng chân gía trị mà thường hay bị lầm lẫn hoặc bị mê hoặc bởi sự xuyên tạc, dèm pha, phỉ báng của những lý thuyết một chiều, để rồi nhận định như một quan tòa lệ thuộc vào các lệ luật định sẵn một cách khắc khe. nhưng dù sao thì cũng chính đó là những liều thuốc giải mê làm cho người lính sực tỉnh và đảo mắt nhìn lại chính mình cái gía trị hào nhoáng được sơn son thếp vàng bên ngoài do vật chất tạo ra thì chính nó đã cáo buộc tội danh. Thực chân của người lính là cái gì đó vừa Thơ vừa Mộng, làm thi vị cho tâm hồn khóang đạt, đeo đẳng trên vạn nẻo đường:

 

                                                   Sơn tình còn đẫm ướt mồ hôi

                                    (Việt-Châu)

 

  Người lính tự nó là biểu hiện một thứ thi sĩ tính, sinh ra đời lang thang trên khắp nẻo sông hồ, mang những giọt máu hoang trong mình, không than van, luôn luôn mặt ngẩng cao nhìn về phía trước và ung dung tự tại thản bước, mặc cho chông gai cạm bẫy, caí anh hùng và thi sĩ tính đó có được là do một tình yêu vị tha đồng loại, ra tay nghĩa hiệp mà không cần người đời nhó tới để rôì một ngày nào đó sẽ mất hút vào lãng quên:

 

                                    Lau cao mồ đụt gío 
                                   
Cỏ hoang mồ những ai?
                                                          (Quang Dũng)
  

  Caí chết lặng cuả không gian tĩnh mịch sau những chiều mưa lưng đèo, caí heo hút vàng uá cuả rừng thu biền biệt, đâu đâu cũng gợi lên hình ảnh của cuộc chiến đã tàn phai, làm cho người lính nghợp chóang vụt khỏi tầm tay những gì còn lại để rồi biến thành những kỷ niệm lạc loài vỡ vụn, cố vương tay ra bắt cũng trở thành hư không, tất cả đều bay vào cõi mộng, Như những thế nhân thường tình, nhưng có khác xa là sự va chạm với nhiều cảnh huống trái ngang, ngút ngàn bị đè nặng như có cơ khơi nguồn và tự nó bộc phát, rồi tự thú:

 

                                     Ngày mai anh bỏ làm thi sĩ 
                                     Nhưng sẽ yêu em đến trọn đời

                                 (Thẩm-Thệ-Hà)

 

  Có phải là lúc cáo chung của nguồn tình thi cảm hay vẫn còn vang vọng của dư âm và dáng dấp cuả một chàng trai: “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” khuấy động không bao giờ ngưng toả và rồi trở về con người thật của mình, cũng yêu cũng tình tự qua những lúc đầy hiểm nguy của người trai thời Chiến-Quốc, đã bao lần mài gươm dưới nguyệt... . Thôi thì từ gĩa cõi mộng mơ để đi vào cõi mộng mơ khác không kém phần diễm ảo—Tình yêu.


  Người lính trong tiếng thơ nầy có phần trầm thống đầy dư vị của những cuộc duyên tình đứt đoạn, một đi là không bao giờ trở lại, thân làm Kiếm-Khách là dứt bỏ mọi tình riêng, nhưng nào dễ dàng, hình ảnh người yêu, mẹ gìa... trong thời tao loạn là những vấn vướng làm vương bước chân đi, gây bao luyến thương khôn nguôi trong lòng.

Những buổi chia ly là sự rạn nứt, đau khổ khôn cùng, một sự cách đoạn không lường tao ngộ, sự thống khổ nầy, ai cảm nhận được hơn người lính, họ phải nhận chìm tình cảm của mình để khỏi bật lên tiếng khóc phải xa cách người yêu, để người bạn tinh

  yên lòng khi mình ra đi, nhưng thật ra chính lòng họ là những đợt sóng tình cuồn cuộn làm sao xóa được:

 

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng.

                                    (Thâm-Tâm)

 

  Sự ngập ngừng của kẻ đi người ở là những đợt sóng vỗ tấp vào bờ tình cảm tâm tư của đôi lứa, một giòng sông định mệnh cách chia đầy sóng gío mà thuyền tình đang ngụp lặn, tan nát. Cái dư vị cùa của sóng tình như dừng lại và thời gian như lắng đọng không muốn tách rời. những ẩn kín của ngõ ngách tình yêu không thể truyền đạt bằng lời nói, nó được ẩn trong phần sâu kín diễm tuyệt của cõi hư vô của tâm thức, tự do đi lại mà dư hương vẫn còn âm vọng như những phiếm tơ ngà rung nhẹ trong khoảng không gian mịt mù, làm cho người lính bị xô tràn những cơn đau quặn thắt của sự chia ly khi nhận thấy định mệnh chực chờ phía trước:

 

Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi

Tôi nhẹ bước mả nghe hồn nhỏ lệ

                                    (Yên-Thao)

 

  Bước chân nào nhẹ hơn và cái buồn nào nhìn xa vơì vợi, trong tâm hồn lệ nhỏ, cái thống khổ đoạn trường phải xa người vợ mới cưới “trẻ đẹp như thơ...” để đi vào phương trời vô định; tiếng thơ là sự phát tác mà người lính không cầm được trong cái cảm thông của định mệnh nhạt nhòa trong thời ly loạn chính nó đã tàn phá vỡ tung những tâm hồn ngấn đọng.Sự tương phản trong một tâm hồn nhạy cảm mà người lính đeo mang, là cái tinh lỏi của con người vừa là lý tưởng vừa là thực tế phải sống, trở nên sa đọa cố vươn lên của những tâm hồn đơn bạc- kiêu hãnh hào hùng nhập thế qua những yêu thương thôi thúc từ nội tâm... nó là vậy, nếu không thì tự nó phải đào thải, vì tình yêu là sự pha trộn hai chiều- dân tộc và chính mình- mới chứng nghiệm được sự trải rộng có phần ảo diệu hơn, lân la vào một khía cạnh khác lãn lộn giữa hư và thực làm nên chất thơ nơi mà có người vợ hiền với định mệnh khắc nghiệt đã an bài khi phải yêu người trai thời tao loạn, lúc phải xa nhau mà không dám thốt ra lời từ biệt, chỉ biết chôn kín những khắc khoải lo âu...rồi bộc thành tiếng khóc trong đêm thâu:

 

 Lỡ khi mhi mình không về

Thì thương người vợ chờ,

              bé bỏng chiều quê...

                                (Hửu- Loan)

 

  Cuộc đời chinh nhân sống thác nào có nghĩa gì, nhưng khi nhớ đến người vợ “bé bỏng” của mình, thì người lính không cầm lòng được và tự hỏi vẩn vơ: “lỡ khi mình không về...”, cái thường tình đó là sự chấp nhận cái bản-ngã quay về trực diện với sự khôn cùng cuả vũ- trụ, họ là trăng, là sao, là mây, là gío... là không gì cả. Họ là những anh hùng hảo hán, họ là kẻ yếu đuối trước giai nhân, là kẻ ngủ say trên bờ vực thẳm tình yêu tô đậm thành nét son diễm tuyệt trong trái tim họ... Họ đi, đi mãi không ngừng_  đi tìm người yêu chân lý suốt đời rong ruổi vì người Tình đã làm mòn mỏi gót chinh nhân:

 

“Vọng mỹ nhân hề

                        Thiên nhất phương...”

 

 

                                                  TC- N.

 

                                             

                                           

 

 



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả