ĐIỆP VIÊN BẤT ĐẮC DĨ

 

Thủy Lâm Synh 

Không phải ngẫu nhiên mà tôi lại trở thành một điệp viên tài giỏi số “dách” cho cơ quan phản gián của chính phủ liên bang Mỹ.  Không phải cơ quan CIA nầy lại thiếu người đến nỗi phải đi tìm một thằng đàn ông xấu xí, da vàng, mũi tẹt như cỡ tôi để làm cái công việc tình báo hạng quốc tế như hiện nay. Câu chuyện dở sống dở chết ấy đã khiến cho tôi vô vàn khổ sở, đói khát thật sự chứ không phải lúc nào cũng no say, hiu hiu tự đắc như các anh chàng Sean Connery, Rocher Moore hoặc Pieace Brosman trong các phim gián điệp.

Vượt biên đầu thập niên tám mươi, nằm trại tỵ nạn Palawan mất hai năm, tôi được chấp nhận cho định cư tại Mỹ. Ở tại một xứ kỹ nghệ lớn vào bậc nhất thế giới mà tôi lại chẳng có nghề ngỗng gì để đi kiếm tiền độ nhật mới thật là đau, vì thế tôi mò đi học để kiếm cho mình một cái nghề.  Ở trường tôi học rất tệ, theo không kịp bạn bè nên kỳ thi nào cũng trượt vỏ chuối.  Thành thật mà nói, từ khi học cho đến khi ra (khỏi) trường, chưa có môn nào tôi đủ điểm trung bình cả, đi xin việc làm thì chẳng ai chịu nhận. Ô hay, kinh tế Hoa Kỳ đang hồi bình phục, chứng khoán tăng vùn vụt. Đi đâu cũng thấy để bảng cần người, thế mà những lá thư từ chối rất lịch sự cứ gởi về nhà, khiến tình trạng cơm tay cầm của tôi có khi rất èo uột.  Nhưng ở đời thường có những cái hên bất ngờ đi cận kề cái xui để cho người ta sống trong hy vọng, dù hy vọng thường chỉ là cảm giác chứ không thể no như ổ bánh mì thịt nguội. Trong số những lá thư từ chối việc làm mà tôi nhận được lại có cả lá thư của bạn tôi, anh ta cẩn thận gởi cả đơn xin gia nhập quân đội Liên Hiệp Quốc. Anh ấy mách cho tôi biết tổ chức này đang cần một số lính thay cho những binh sĩ giải ngũ vì thâm niên.  Tôi điền đơn và gởi lại cho bạn tôi ngay, biết đâu lần nầy tôi chẳng vớ được một việc làm béo bở mà lại an toàn là bởi vì lính LHQ chẳng đấm đá với ai.  LHQ có phù hiệu riêng, dù hai bên có giao chiến thập tử nhất sinh đi nữa thì cũng không được bắn vào lính của LHQ, ngoại trừ dương gian khóa sổ.  Không phải tôi nhát gan đâu nhé, nhưng đã vượt biên sang đây, tội gì phải chết một cách lãng xẹt phải không?

 

Thời gian trôi chậm như cỗ xe tang, phải mất bốn tháng chờ mong như chờ một tin bất ngờ từ trời rớt xuống. Tôi cứ ra vào thơ thẩn, không biết ông bạn của tôi có cho tôi leo cây hay không mà cú điện thoại nào anh ta cũng khuyên tôi kiên nhẫn. Nhưng rồi một ngày đẹp trời, bì thư có logo LHQ đã đến với tôi. Mừng quá nhưng tôi lại không dám bóc thư ra xem bởi biết đâu trong đó không ghi một câu lịch sự như bao lần xin việc trước kia. Nhưng cái bao tử không cho phép tôi bình thảng trước một lá thư như thế. Thôi thì một lần cho xong, tôi mở vội ra xem mới hay đơn tôi đã được chấp thuận và hẹn ngày phỏng vấn. Tôi làm một chuyến bay qua New York, tá túc tại nhà bạn tôi, hỏi thăm những câu trả lời. Khi phỏng vấn tôi có trả lời gì đâu; bạn của tôi đã loby mọi thứ nên tôi trở thành lính LHQ.

 

...Đơn vị tôi sau khi đóng ở Campuchia được bốn tháng thì đổi qua Trung Đông để chuẩn bị kiểm soát vũ khí nguyên tử của anh chàng Saddam Hussein.     Trung Đông lúc nầy nắng gắt quá.  Những trận bão cát như mưa hắt tung vào doanh trại từng luồng khiến người ta đang ăn phải lấy manh áo che lại vì sợ cát bay vào thức ăn.  Hơi nóng bốc lên hừng hực như lửa rất khó chịu.  Vào một buổi sáng, chúng tôi được trực thăng di chuyển từ Ả Rập Saudi vào những cơ xưởng được báo cáo đang tồn trữ nguyên liệu nguyên tử của Iraq.  Tôi và một số binh sĩ khác đang làm công việc tùy tùng cho những chuyên viên có bổn phận xem qua tài liệu do Iraq cung cấp.  Không hiểu những người khác thì sao, còn riêng tôi có nhìn vào nguyên liệu cũng không biết loại nào có liên hệ đến vũ khí nguyên tử, kể cả Uranium là một thứ kim loại nặng, có phóng xạ dùng làm nguồn cung cấp năng lượng hạt nhân nó ra sao tôi cũng mù.

Trong khi các chuyên viên khám xét tại các hầm chứa, các nhà kho.  Chúng tôi cứ ỷ lại có phù hiệu LHQ nên mạnh ai nấy đi lang thang. Óc tò mò  của một người lần đầu đặt chân lên xứ “ngàn lẻ một đêm” kỳ bí đã đẩy tôi vào sâu trong một nhà máy vĩ đại.  Nhìn những máy móc ấy tôi như người mù sờ voi chẳng hiểu nó là cái gì toan trở ra. Tuy nhiên những dòng chữ như “chỉ dành cho nhân viên quốc phòng” viết bằng nhiều thứ tiếng rồi được sơn chồng lên thành tấm bảng “Welcome phái đoàn LHQ” với lớp sơn mỏng rất mới chưa che hoàn toàn vết sơn cũ đã khơi dậy óc hiếu kỳ cố hữu của tôi nên bước sâu vào trong.  Mải mê ngắm những đường ống chằng chịt ấy, bỗng một tiếng nổ phát lên từ phía trần nhà. Tôi vội phóng ra ngoài, nhưng đồng thời tôi lại nghe như có vật gì khác thường đã xuyên qua cơ thể của tôi.  Tôi nghĩ ngay đến lò nguyên tử Cheminol mà giật mình.  Nếu quả vậy thì đời tôi coi như lúa,  nguyên tử không nguy hiểm thì chả có gì nguy hiểm hơn.  Sau tiếng nổ ấy, những tiếng nổ phụ cứ đạch đùng và những tia lửa thỉnh thoảng xoẹt thành một vệt sáng xanh như tia sáng của máy hàn điện hoặc tia trời chớp.  Mọi người chạy tán loạn, kêu la ơi ới.  Tôi cố tránh người ta, nhưng nhiều người cứ đâm sầm vào tôi như họ bị mù, khiến cái thân nhỏ bé của tôi phải bao phen té nhào.  Cho đến khi thấy hết nổ người ta quay đầu nhìn lại, tôi cũng nhìn vào chỗ nổ lúc nãy thì chỉ còn thấy một ít khói đen bốc lên.  Sợ quá té đái, tôi đi tìm nhà cầu, đứng trước tấm gương mà chẳng thấy mình đâu cả.  Bức tường đối diện với tấm gương vẫn phản chiếu những gì của nó, như thế càng cho tôi biết trước mặt tôi là một tấm gương thật, nhưng gương thật thì tại sao lại không thấy được tôi.  Tôi nhoài người qua một bên, lôi ra một ít giấy đưa lên lau mặt thì thấy tấm giấy di chuyển theo tay tôi. Tôi giật mình, tim đập loạn xa, toàn thân tôi lạnh toát la lớn bằng tiếng mẹ đẻ: “Trời đất ơi, tôi đâu rồi”. Tôi giậm chân, ôm đầu, cố hít thật nhiều hơi, thở ra, hít vào nhiều lần xem có thay đổi được gì không? Nhưng những động tác ấy vẫn không làm cho thân thể tôi hiện nguyên hình. Tôi tự hỏi phải chăng mình đã bị tia phóng xạ làm cho toàn thân biến mất. “Hay đây chỉ còn là hồn ma?” – Tôi tự hỏi.

Trong tâm trạng cực kỳ bàng hoàng ấy, tôi không biết mình sẽ phải ra sao, có thể sống sót hay lát nữa đây toàn thân sẽ biến thành tro bụi.  Chao ôi, đời tôi có thể kết thúc một cách tàn nhẫn như thế này ư?  Ngày xưa khi còn thơ ấu tôi mơ mình được tàng hình. Tàng hình tôi có thể vào xem hát bóng khỏi cần mua vé, đi xe điện khỏi trả tiền và có khi còn nghĩ đến việc ăn cắp những đồ chơi đang trưng bày trong tiệm vân vân... Mười lăm năm sau, miền nam quê hương tôi sắp thua trận, tôi lại ao ước mình có phép tàng hình để chuyển bại thành thắng. Giấc mơ ấy mơ hồ lắm, kết quả miền nam phải bị bức tử, tôi bị liệng vào tù hết mấy năm.  Trong tù, tôi vẫn còn mơ mình được có phép tàng hình. Không phải để trốn trại mà làm những việc rất có nghĩa cho các chiến hữu của tôi. Giấc mơ không bao giờ đến, tôi phải cam chịu những nghiệt ngã trong chính sách trả thù.  Đáng lẽ là một hạ sĩ quan tôi chỉ ở tù ít hơn hàng sĩ quan, nhưng với đầu óc đơn giản, học rất dở nên mất đến ba năm mới “quán triệt” để ra tù. 

Bây giờ thì tôi đã thật sự tàng hình, tôi không biết khả năng mình ra sao, phải làm việc gì trước, việc gì sau trong chuỗi ngày sắp tới đây nếu còn sống sót. Và nếu có thể được tôi sẽ làm lại một chiến sĩ, nhưng đó là chuyện hoàn toàn giả tưởng. Thân thể tôi nay mai chưa biết ra sao? Có thể nó sẽ mục rệu như một thân gỗ lâu ngày bị mọt, mối đục khoét.

 

Toán lính LHQ rút ra khỏi Baghdag đã không có tôi trong đó.  Tôi được báo cáo là đã mất tích với hai lý do: Một là Iraqi bắt tôi để làm con tin.  Hai là tôi nhỏ con khi bị mìn nổ không tìm ra thi thể.  Cả hai giả thuyết đều nghe rất khôi hài. Họ có biết đâu rằng trên chuyến trực thăng trở về Saudi, tôi đã ngồi ở vị trí mà lúc đi tôi đã ngồi.  Nhiều người bàn tán chung quanh câu chuyện mất tích của tôi.  Có gã hỗn hào mắng tôi là đồ ngu vì đã bỏ đơn vị đi sâu vào cơ xưởng sản xuất vũ khi của Saddam làm gì.  Có người chửi tôi là thằng Chinese guy muốn làm điệp viên 007.  Tất cả đều sai, chỉ có tôi đúng nhưng dở chết dở sống, ngồi trầm ngâm như người có hồn mà không có xác.  Trong một ý nghĩ thoáng đến rất nhanh, tôi muốn nhảy ra khỏi máy bay để xem thử tấm thân vô hình của tôi có được nhẹ bổng như cánh chim trời hay không?

Ngày kia có máy bay về New York chở đồ tiếp liệu, tôi nhào lên và trở về Mỹ.  Dĩ nhiên tôi không thể gặp ai vì tôi đã không còn là tôi nữa.  Hôm ấy tại miền đông Hoa Kỳ, một trận bão tuyết dữ dội mà người ta cho rằng đó là trận bão lớn nhất từ trước tới nay. Con số thiệt mạng lên đến trên hai trăm người. Tin ấy làm tôi xúc động, bước ra ngoài nhìn vạn vật trắng xóa như phủ lên một màu tang ngút trời.

Kể từ ngày bị tàng hình ngoài ý muốn đó, thời tiết lại không hề ảnh hưởng gì đến thân thể của tôi. Tôi lang thang đây đó hết sức tự do.Trà đình tửu điếm nào cũng chui vô cho biết.Lúc đầu tôi làm nhiều việc rắn mắt, tinh nghịch như dời những đĩa thức ăn đến vị trí khác trong nhà hàng, lấy condom trong hộc ông chủ để trên bàn làm việc khi tiếp chuyện với nữ nhân viên v.v.. .Sau đó tôi làm những việc bất lương như giả ma nhát rồi lấy cắp tiền tại quày, vào phòng những cô người mẫu để chiêm ngưỡng toàn thân không chút xiêm y. Thời gian sau, những việc ấy tôi không còn ham muốn nữa nên quay ra làm những việc có ý nghĩa hơn như lấy tiền ở những họp đêm, những nơi cờ bạc giúp cho người homeless. New york là thành phố có quá nhiều kẻ không nhà, cho bao nhiêu cũng không vừa. Có tiền, các tay vô gia cư, vô địa táng nầy sanh ra uống rượu nên tôi cúp. Làm những việc vừa kể đôi khi cũng thấy vui, nhưng lắm lúc nghĩ lại thấy buồn.  Chẳng bao lâu tin ấy đến tai sở an ninh liên bang. Họ đang nghi và theo dõi hành vi phạm pháp của tôi. Riêng tôi cứ chủ quan rằng không ai thấy nên chẳng một chút nao núng. Tôi đi lang thang chưa biết đi về đâu dưới trời đang đổ tuyết.

 

Có một điều lạ là thân thể tôi vẫn còn nguyên vẹn và trong suốt hơn pha lê chứ không phải như hồn ma. Tôi chỉ có thể vào, ra cửa khi đã có người mở hoặc tự mở mà không ai thấy chứ không thể xuyên qua như ảo thuật. Cơ quan tình báo CIA và an ninh liên bang FBI không bỏ sót những hiện tượng lạ lùng nào xảy ra chung quanh trên mảnh đất năm cha bảy mẹ nầy.  Theo họ, tôi là một điệp viên của quốc gia nào khác hoặc một người từ hành tinh nào vừa đáp xuống trái đất này.  Họ ngạc nhiên là phải, bởi vì tôi đi như một bóng ma.  Chỉ có nơi nào trên người có tuyết thì thấy còn những nơi khác đều trống rỗng thấy phát ghê.  Họ đã chuẩn bị sẵn những loại tên bắn thuốc mê để chờ hạ thủ, những mảng lưới lớn để tung ra như chài bắt cá để cố bắt cho được tôi.  Còn tôi thì cứ ngỡ LHQ tìm bắt tôi về tội đào ngũ nên đâm đầu chạy.  Càng chạy, tuyết  càng rớt dần nên không còn ai thấy tôi đâu nữa.  Họ bỏ cuộc, tôi an toàn mà trở về. Tuy vậy bản tin người lính LHQ mất tích đã làm cho cả hai cơ quan trên sanh nghi tìm đến theo dõi và tấn công vào cái phòng tôi thuê tại Rustic Village ngoại ô thành phố Rochester phía bắc của tiểu bang New York.  Nhân viên CIA dùng súng xịt sơn khi tấn công, họ hy vọng với loại vũ khí nầy sẽ sơn lên người để tôi không còn thoát đâu được nữa.  Nhưng đâu có dễ dàng như thế. Khi họ mở cửa thì tôi đã lẹ chân thoát ra ngoài.  Trong nhà tôi chỗ nào cũng bị dính sơn, mùi sơn bay nồng nặc.  Tôi cố nín cười mới không bật thành tiếng.  Tôi nghĩ tên nào đó nghĩ cách dùng sơn để bắt tôi cũng hay hay.

Tên trưởng toán đứng cách xa tôi cả mươi bộ nói:

“Tôi là nhân viên cơ quan CIA. Tôi biết anh đang đứng trước mặt tôi.  Anh hãy đến đây đi, anh cộng tác với chúng tôi đi nhé, cơ quan chúng tôi đang cần người có khả năng tàng hình như anh để làm những nhiệm vụ quốc tế.”

À thì ra chúng đang cần tôi giúp việc, lòng tôi chợt thấy mình có giá lạ lùng.  Hắn ngỡ tôi muốn hiện là hiện, muốn ẩn là ẩn.  Thực tế thì có muốn hiện cũng không tài nào.  Trong lúc rất vội, đầu óc ngu muội của tôi không biết phản ứng ra sao, nhưng muốn làm cho hắn quê tôi ghé tai nói nhỏ.

“Nhiệm vụ quốc tế là như thế nào?”

Trưởng toán biết mình chưng hửng, nhưng không thèm quay lại, nói chữa ngượng.

“Chẳng hạn anh đi lấy tài liệu mật quốc phòng, thủ tiêu những nhà độc tài có mộng làm bá chủ v.v “ 

Tôi nghĩ ngay đến việc ăn chay mỗi năm vài ngày, mà đi giết người e sợ tạo thêm nghiệp.  Nhưng cũng lại nghĩ mình là một thằng dở sống dở chết, ăn thì như ăn vụng, uống phải uống lén, mặc dù đồ ăn uống là của chính mình.  Giữ tiền không được mà có được cũng chẳng biết cách tiêu xài, đời tôi còn gì nữa đâu, nghĩ vậy tôi bèn từ chối.

“Không, tôi không làm cho ông đâu.”

Tên trưởng toán vừa năn nỉ vừa hăm dọa:

            “Nước Mỹ đang cần một công dân như anh, vui lòng đi nhé, nhưng anh hiểu cho rằng tôi không có anh thì không cơ quan nào có thể có anh, anh có nghe tôi nói không?”

Tôi bước đến ghé sát tai hắn trả lời:

“Không nghe.”

Hắn ra lệnh cho mấy tên cùng đi trong toán hễ nghe tôi động chỗ nào là nhào vô chụp, nhưng tôi đã biết nên đi lần ra xa.

 

Thời gian trôi chậm chạp, tôi sống vô cùng vất vả với tấm thân có hồn không xác. Có điều tôi muốn ăn thức nào cũng có, hết món Tây qua món Tàu, hết Ý đến Nhật, món nào tôi cũng thử qua.  Dĩ nhiên mỗi ngày một bữa nhưng không phải đúng ngọ như mấy ông sư phái khất sĩ mà là buổi tối. Hễ muốn ăn món nào là tôi vào trong trước khi tiệm đóng cửa. Ăn xong tìm chỗ ngủ một giấc, sáng họ mở cửa, tôi lặng lẽ ra ngoài lang thang khắp phố. Có lắm khi thức ăn chưa tiêu hóa hết, tôi phải tìm chỗ vắng vẻ mà ngủ không dám đi lung tung.

Một buổi sáng, sau khi từ một nhà hàng sang trọng bước ra, tôi đánh liều nhào lên xe buýt để đến thăm cô bạn gái của tôi. Hai đứa quen nhau khi tôi còn thụ huấn trong đơn vị LHQ. Xe ngừng khá xa, tôi lội bộ đến nhà nàng. Vừa đến ngõ, tôi thấy cô bạn gái tôi cùng ba người khác đang lên một chiếc xe van, chưa biết họ đi đâu. Tôi cũng lao lên xe tìm chỗ ngồi để xem thử mấy tháng nay bạn gái tôi có thay lòng đổi dạ gì không.  Khi nghe những mẫu đối thoại, tôi biết họ cùng đi xem thác nước Nigarafalls. Căn cứ theo lối nói chuyện thì bạn gái tôi vẫn xem gã đi chung kia như bạn thường mà thôi nên tôi yên trí lắm.  Còn hai người kia là Tom và Tracy bạn của bạn gái tôi.  Đến nơi, Tom đậu xe rồi cùng lấy shuter đi thăm thác nước. Dĩ nhiên tôi cũng nhào lên xe kiếm chỗ nào an tọa. Họ xuống xe, tôi lững thững bước theo, vui theo cái vui của mọi người. Thỉnh thoảng tôi nhìn sâu vào mắt, bạn gái tôi có vẻ u buồn hình như nàng đang nhớ tôi. Gã kia chốc chốc la cà đến tán tỉnh đôi câu nhưng xem ra nàng phớt lờ, khiến tôi sung sướng lắm.

Sau khi đi chơi ở thác về, bọn họ rủ đi ăn tối, tôi cũng đi vào nhà hàng. Không có cái khổ nào hơn khi đói muốn chết mà không dám ăn. Nhiều khi tôi muốn chơi đại cái sandwich nhưng lại sợ nó không tiêu hóa kịp thời. Khi về khách sạn, tôi lẹ làng lách theo vào phòng với bạn gái của tôi. Nàng để nguyên quần áo, gieo mình lên giường. Suy nghĩ mãi, tôi chưa biết phải làm cách nào để cho nàng biết là tôi đang còn sống. Và đang ở cạnh nàng. Khoảng 11 giờ đêm, có tiếng gõ cửa.  Bạn gái tôi hỏi:

“Ai  đó?”

“Linda, Linda, tôi đây.” - Gã kia trả lời:

Bạn gái tôi người Thái, tên Mỹ là Linda hỏi:

“Anh cần gì?”

“Có việc nầy tôi cần nói với cô, hãy mở cửa đã”. 

Linda mở cửa,  hắn bước vào đưa mắt nhìn quanh một lược rồi trao cho Linda một bông hồng. Linda cảm động cám ơn rồi hắn tự ngồi vào chiếc ghế kê cạnh chiếc bàn trong phòng. Hắn lịch sự mở đầu, miệng nồng nặc mùi bia rượu.

“Bạn trai cô tên gì? nghe nói hắn đã chết rồi, tôi xin được chia buồn cùng cô.”

Vừa nói hắn vừa xụ mặt xuống cho đúng với thủ tục phân ưu. Linda nói:

“Cám ơn anh, anh ấy tên là Lý Tâm, tiếng Anh không đọc ngược, có người đùa là Tâm Lý còn tôi thì thường gọi là Tám để mỗi lần có việc gì là tôi bảo “thôi bỏ qua đi Tám” cho thiên hạ tưởng tôi là người Việt.”

Hai tay hắn thoa vào nhau ỏn ẻn:

“Tôi muốn được làm quen với Linda, em vui lòng chấp nhận nhé, tôi sẽ săn sóc cho em chu đáo. Tôi sẽ làm giá thú đàng hoàng, tôi có khác gì ông Ly đâu.”

Người tây phương có khác.  Hắn tán gái rất chi là tự nhiên.

Linda giẫy nẩy.

“Bạn trai tôi chỉ mất tích, nhưng chưa chết đâu, tôi không thể nào quên anh ấy được.”

“Biết bao giờ cô mới gặp hắn. Vì có ý phụ cô nên hắn mới đi lính đấy.  Có ai bắt hắn phải đi.”

Linda nghiêm nghị:

      “Tôi cảnh cáo anh, anh không được nói xấu người vắng mặt.  Đặc biệt người ấy là bạn trai của tôi.  Anh uống nhiều quá nên say rồi, về phòng ngủ đi.”

“Không, tôi không có say, rượu làm cho tôi có đủ can đảm để thố lộ tình yêu của tôi đối với cô.”

Vừa nghe hắn mở miệng tán tỉnh người yêu của tôi một cách sỗ sàng.  Tôi muốn nhào tới vả vào cái mặt đỏ ngầu như gà đá của hắn.  Hắn tả oán rằng bị bồ bỏ nên buồn lắm, hắn làm bộ rất đau khổ và nài nỉ Linda thương hại.  Hắn khóc như trẻ con.  Có lẽ lần đầu thấy đàn ông khóc bồ của tôi cảm động, nàng an ủi hắn

            “Tôi tin rằng thời gian sẽ là liều thuốc nhiệm mầu giúp anh nguôi ngoai.  Nhưng dù sao người Mỹ các anh ích kỷ lắm.  Hở một tí là li dị, các anh rất nặng về vật chất,.  Chưa cưới nhau các anh đã tính đến việc chia tay nhau, nên có chút tài sản nào là bảo luật sư làm hôn khế chỉ vì các anh sợ người phối ngẫu của mình có manh tâm sang đoạt.  Còn chúng tôi ư, truyền thống đạo đức đông phương đặt giá trị tình cảm lên trên vật chất.  Đặt tương lai của những đứa con lên trên lòng vị kỷ.  Chúng tôi biết hy sinh, khi thấy hy sinh đó cần thiết.  Khi thực sự không còn thương nhau thì tờ giá thú chỉ là văn kiện gây phiền hà cho nhau mà thôi. Chúng tôi không giống các anh là ở điểm đó.”

Tuy vậy Linda cũng làm bộ buồn lây đến bên cạnh hắn để an ủi.  Lợi dụng Linda đứng gần, hắn kéo Linda vào lòng, rồi tấm thân hộ pháp của hắn ôm choàng lấy Linda liệng lên chiếc giường nệm làm nàng hoảng hốt.  Hắn nhào tới như một con hổ dữ vồ mồi.  Linda vùng vẫy trong tuyệt vọng.  Nàng la lên, nhưng tiếng kêu cứu không có hi vọng lọt ra ngoài cánh cửa đang đóng kín.  Nàng yếu đuối trước tấm thân vĩ đại như võ sĩ.  Còn tôi chịu hết nỗi khi chứng kiến cảnh tượng bỉ ổi ấy.  Hắn đè lên mình Linda hôn vào gáy, vào cổ.  Dây kéo quần của hắn đã kéo xuống tự lúc nào, rõ ràng hắn có ý đồ.  Thừa lúc hắn ngước mặt toan kéo áo thun của Linda ra khỏi quần jean của nàng. Tôi đứng chân trái, còn chân phải tôi đá một cái tóe lửa vào mặt hắn.

Tôi đã từng là huấn luyện viên Thái Cực Đạo chứ đâu phải chơi.  Cú đá trời giáng từ đâu bay đến hắn không biết, nhưng chắc chắn đau như hoạn, hắn ôm lấy mặt rồi tông cửa ù té chạy ra ngoài.  Linda run lập cập, nàng chưa hoàn hồn, nhưng nàng cũng không thể hiểu vì lý do gì tự nhiên hắn bỏ chạy, dù nàng có nghe một tiếng “choác” rất lớn rồi hắn bưng mặt.  Linda mừng vì thoát nạn, nhưng quá sợ hãi nàng úp mặt xuống gối khóc nức nở, tiếng khóc của nàng làm lòng tôi đau như dao cắt.  Tôi định tắt đèn rồi an ủi nàng, nhưng tôi sợ nàng hoảng hốt la lên hoặc tung cửa chạy qua phòng gã kia thì hóa ra gậy ông đập lưng ông.

            Đêm hôm ấy tôi nằm sát bên bạn gái của tôi mà không biết nói lên lời nào. Cả

năm trời xa nhau, tôi nào phải gỗ đá, nên kim đồng hồ nhà tôi cứ chỉ mười hai giờ.  Khổ cho tôi vì đang mang bệnh “tàng hình”.  Còn Linda thì sau khi đóng cửa nàng cẩn thận đem mấy cái ghế chận thêm ngay cửa để đề phòng tên dâm tặc trở lại.

            Hôm sau, tôi đợi người quản lý khách sạn đi khỏi, tôi đặt tiền lên bàn và ghi vài chữ muốn mướn căn phòng số 13 là bởi vì tôi biết phòng nầy còn trống.  Tôi dặn người quản lý cứ đem chìa khóa bỏ vào phòng cho tôi, tôi đi có việc một lát nữa mới về.  Quả nhiên khi nhận thêm được chút tiền còm, người quản lý vội vã đem chìa khóa bỏ vào phòng 13, lẽ dĩ nhiên tôi đã theo vào khi hắn mở cửa.  Nhìn chung quanh căn phòng khách sạn một hồi, tôi nhấc điện thoại gọi cho Linda.

“Linda, anh là Tâm đây, anh đang ở gần em lắm, em đến với anh được không?

Linda mừng và ngạc nhiên quá đỗi, nàng gấp rút.

“Tâm, anh về lúc nào? Hiện đang ở đâu? Trời ơi, em nhớ anh quá đi thôi.  Sao mãi đến nay mới gọi cho em. Nhưng làm thế nào anh lại biết em ở chỗ này mà gọi.”

Nàng hỏi tới tấp, làm tôi không biết phải trả lời câu nào trước, câu nào sau.

“Em ạ, câu chuyện thật dài, không thể nào kể trong điện thoại cho hết được, em hãy qua phòng anh đi, phòng anh số 13 chỉ cách phòng em hai cửa mà thôi.  Anh khép hờ cửa để chờ em nhé.

Tiếng người yêu là mệnh lệnh, Linda không suy nghĩ nàng đáp vội.

“Vâng, em qua ngay bây giờ.”

Tôi vội vàng xé tấm drap trải giường quấn mặt của tôi.  Từ cổ xuống đến chân thì quấn bằng khăn tắm.  Nằm tuốt phía trong góc đợi nàng đến.  Vừa đến cửa không thấy đèn đuốc gì Linda lùi lại, tôi vội lên tiếng để nàng yên trí.

“Anh đây, vào trong nầy đi, anh hơi nhức đầu.”

Đã thương nhau từ kiếp nào, nghe tiếng của tôi là nàng nhào vào không cần thắc mắc.  Nàng cứ ngỡ tôi không bật đèn vì như thế giúp chúng tôi tự nhiên như những khi gặp gỡ.  Nàng nhoài lên giường nằm sát bên tôi thủ thỉ.

“Trời ơi, cả năm trời nay em nhớ anh kinh khủng.  Làm việc gì em cũng nghĩ đến anh.  Nhiều đêm em khóc vì không biết cho đến bao giờ mới gặp lại anh.”

Tôi dí dỏm.

“Vậy bây giờ gặp rồi em còn yêu anh không?”

Nàng mở tấm vải bịt mặt tôi ra rồi hôn tới tấp.  Bao lâu xa nhau, bao yêu thương tích tụ, chúng tôi cho nhau một cách rất tận tình.  Nàng ngỡ tôi quấn mặt vì sợ bị truy lùng tội đào ngũ.  Trong lúc ái ân ngụp lặn, tôi hỏi Linda.

“Nhỡ hình hài anh không được nguyên vẹn thì em có còn yêu anh không?”

Linda là người rất thực tế, nàng đang tận hưởng lạc thú ái ân. Mười ngón tay tôi đang làm bổn phận. ‘Ngũ chi’ tôi vẫn còn nguyên vẹn, câu nói của tôi nàng cho là khôi hài cao độ, nên cũng tán vuốt đuôi.

“Ngoài trừ anh trở về bằng chiếc quan tài, còn trở về với đôi nạng gỗ thì anh vẫn là người yêu của em mà.”

Tôi hôn nàng rồi nói.

“Sự thật anh đã bị tia phóng xạ làm cho tàng hình.  Tối hôm qua anh ở chung phòng với em nhưng anh cố tìm mãi không nghĩ ra cách nói cho em hiểu, vả lại có tên vô lại kia đến quấy rầy em nên anh càng mất bình tĩnh.  Anh cho hắn bài học, hắn phải ôm mặt chạy về phòng.  Anh cũng đã mượn của em năm mươi tì để trả tiền phòng.

Nàng chợt hiểu, nàng cười ré lên.

“Thảo nào hắn bưng mặt, ngày hôm nay khi đi xem thác hắn không dám gặp em chỉ vì mặt mày sưng lên một các dị hình.”

“Ừ, anh cũng thấy hắn khó chịu. Bây giờ anh cần em giúp một việc, anh quá khổ tâm vì không dám ra ngoài.”

“Tại sao?”

“Vì anh là một quái nhân, không ai dám nhìn, không tin em hãy bật đèn lên mà xem.”

Đến lúc đó Linda mới tin tôi vì nàng không thấy tôi đâu cả, dĩ nhiên khi sờ mó, nàng có thể biết tôi như người thật.  Tôi lấy gói thuốc ở đầu giường bật lửa hút, cho nàng thấy khói thuốc vào cổ họng, vào buồng phổi rồi tuông ra hai lỗ mũi như người ta thử chất nicotine trong phòng thí nghiệm.

Tôi nhờ nàng đi mua cho một đầu tóc giả, một chiếc mũ nỉ, những loại sáp dành cho nghệ sĩ trang điểm, một bộ đồ thật dày và một đôi giầy.  Ngày hôm sau, Linda đã khuân về những thứ cần thiết đó cho tôi.  Sau khi Linda trang điểm cho gương mặt dưới trung bình của tôi gần đẹp như Tom Cruise nhưng tất nhiên giống dân Việt cao bao nhiêu ai cũng biết.  Nàng cho tôi mặc y phục vào, chúng tôi chợt nhận ra là miệng và đôi mắt trống rỗng.  Thế nên nàng lại lao đi mua hàm răng và đôi kiếng đen cho hoàn chỉnh.  Thú thật, nhìn trong gương tôi như một tài tử hạng.. kéo màn rất chi là oai phong.  Chúng tôi nắm tay nhau đi ra đường, ghé vào một quán pizza.  Đó là lần đầu tiên từ khi trở lại Mỹ tôi được ăn no say một bữa.  Ngày hôm ấy chúng tôi đi chơi thỏa thích.  Khi về Linda bắt tôi thoát y để nàng theo dõi bộ phận tiêu hóa và bộ phận hô hấp làm việc.  Tôi cứ để nàng tự nhiên vì như thế tôi đang giúp phần nào trong chương trình y tá bốn năm của nàng.  Tối hôm ấy chúng tôi quyện lấy nhau như sợ chợt mất nhau.  Linda thì thào bên tai tôi:

“Tuyệt quá, tuyệt quá, người yêu của em.”

Tôi cười lớn:

“Một phế nhân, ăn trộm... uống vụng mà tuyệt.”

Linda tế nhị chống chế:

“Bỏ đi Tám” người yêu của em là một người phi thường, thiên biến vạn hóa chứ bộ.

 

Chúng tôi mở toang cửa sổ khách sạn.  Nhìn từ phía Gia Nã Đại, Niagarafalls quả là một kỳ quan tuyệt mỹ.  Những ánh đèn pha từ các điểm cố định rọi qua làn hơi nước bốc lên, tạo thành những vòng ngũ sắc sặc sỡ làm cho thác nước về đêm vô cùng đẹp đẽ.  Mãi say mê với cảnh đẹp thiên nhiên phối hợp với nhân tạo.  Chúng tôi không rõ là mấy giờ thì tiếng gõ cửa dồn dập, tiếng cơ bẩm lắc cắc bên ngoài.  Linda hoảng hốt còn tôi thì xem lại trong người thử còn vật gì để phát hiện.  May thay thức ăn đã bị đào thải sau khi tôi viếng nhà cầu.  Tôi ra hiệu cho Linda mở cửa rồi lại cũng tên viên chức phản gián xuất hiện.  Tên này rõ thật tài, không rõ lý do nào hắn lại biết tôi ở đây.  Đêm hôm đó toàn khu khách sạn Holiday Inn đều bị cảnh sát chìm bao vây.  Riêng tôi vẫn ở trong phòng.  Ánh lờ mờ của chiếc đèn ngủ 15 watts không đủ sáng để cho viên chức phản gián tìm thấy tôi.  Tuy vậy hắn cũng hỏi Linda:

“Mr. Tam Ly đâu rồi?”

Linda ú ớ trả lời.

“Ly nào tôi không biết, chỉ có mình tôi ở đây.”

Dối như vậy là quá dở, mắt hắn ném về phía bộ đồ đàn ông nằm chơi vơi trên ghế.  Viên chức phản gián không tin, tay hắn lăm le khẩu súng. Trong lúc ấy tôi nghĩ ra một kế để gạt hắn chơi cho vui.  Tôi bèn nhào tới vớ lấy chiếc áo sơ mi phóng ra cửa. Hắn chạy theo ra. Tôi cầm lấy hai vai áo lắc qua lắc về như đang lui dần ra ngoài phía cuối hành lang, hai tay tôi vẫn giữ hai vai áo làm như đang muốn nhảy ra ngoài.  Khi ấy hắn tiến về phía tôi. Trong lúc tranh sáng tranh tối, hắn nhìn thấy tôi đứng ở đấy hắn nhào tới, cũng ngay lúc đó tôi buông tay cho cái áo rớt xuống đường.  Khi quá đà, toàn thân hắn cũng nhào ra ngoài cửa sổ.  Hằn rơi xuống từ lầu hai nên không chết nhưng bị thương nặng.

Tôi biết mình thiệt thòi vì nhiệm vụ.  Nay có kẻ lại cần đến dung nhan mùa hạ của tôi, nên đùa dai một tí, không ngờ lại xảy ra tai nạn để đau khổ cho một nhân viên của phòng phản gián, tôi vô cùng hối hận.  Tôi quyết định tìm đến bệnh viện thăm anh ta, và đồng ý về cộng tác với cơ quan này để tôi có thể dùng tấm thân tàng hình mà phục vụ cho quê hương thứ hai.

 

Thủy lâm Synh



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả