Đôi dòng về Ngũ Tử Tư thời Chiến Quốc
1/ Mở đầu
Nếu tôi viết Ngũ Tử Tư, còn gọi là Ngũ Viên, cao 1 thước 7, khôi ngô, thông thái v.v, chắc chắn bạn đọc sẽ không cảm thấy điều gì đặc biệt ở con người lịch sử này. Bây giờ nếu chúng ta đọc trong các sách truyện xưa, đọan tả về Ngũ Tử Tư, chúng ta sẽ đọc Ngũ Viên, tên chữ là Tử Tư, người làng Giám Lại, nước Sở, mình cao một trượng, lưng lớn ba vầng, mặt sáng như trăng rằm, tiếng nói như chuông, sức mạnh muôn người không địch nổi... Lối diễn tả người trong các sách truyện đời xưa chẳng những lôi cuốn người đọc rất nhiều mà còn làm tăng thêm giá trị của nhân vật.
Cao một trượng là cao bao nhiêu ? Trong các đơn vị đo lường của nước ta thì một trượng tương đương mười thước ta. Một thước ta bằng 40 centimètres. Tính ra một trượng dài bốn thước tây. Vậy một trượng thời Chiến Quốc ở bên Tàu không giống một trượng bên nước ta vì Ngũ Viên không thể nào cao bốn thước tây. Tương tự như thế, truyện Tam Quốc tả Triệu Tử Long mình cao sáu thước, oai phong tựa thiên thần. Vậy nếu tính một thước ta là 40 centimètres thì Triệu Tử Long cao hai thước tư. Không đúng.
Ngũ Viên lưng lớn ba vầng. Vầng này dài bao nhiêu ? Dài cỡ vầng trăng ? Vầng trăng lúc mới chập tối hay vào lúc nửa đêm ? Các sách truyện cổ còn viết ba vòng. Vòng tròn ? Vòng tay ? Khi tả về một nhân vật, tác giả cũng có thể viết lưng lớn ba ôm, lưng lớn ba người ôm. Ôm trong trường hợp này là ôm theo kiểu đào kép hay chỉ dùng hai bàn tay ? Sách xưa cũng hay dùng đơn vị gang tay để đo đạc. Vòng ở đây có khi chỉ do hai bài tay gộp lại thành một vòng, tức là hai gang tay.
Ngũ Viên mặt sáng như trăng rằm. Khuôn mặt của người xưa thường có nhiều màu sắc khác nhau. Quan Công mặt đỏ, Tôn Quyền râu tía, mắt xanh, có người mặt trắng như dồi phấn, có kẻ mặt xanh như chàm v.v.
Ngũ Viên sức mạnh muôn người không địch nổi. Muôn là đơn vị lớn hơn thiên và vạn. Một vạn quân tính ra khoảng một sư đoàn bộ binh thời bây giờ, một muôn phải khoảng mười sư đoàn. Nói rằng Ngũ Viên mạnh hơn 10 sư đoàn đấy là nói khoác lác. Nhưng xét ra xưa kia Khổng Minh chỉ có hai ngàn quân ngồi gẩy đàn mà Tư Mã Ý không dám đưa đại binh đến thì Ngũ Viên cũng có thể mạnh hơn 10 sư đoàn, tức là sức địch muôn người.
Tiếng nói như chuông. Trương Phi tiếng nói cũng như chuông, tiếng quát như sấm. Nhưng Lưu Bị lại ăn nói nhỏ nhẹ, Quan Vân Trường nho nhã, áo bào lục trông ra vẻ một ông quan văn hơn là một võ tướng. Phong cách của Quan Vân Trường đẹp đến độ trong truyện Thủy Hử, tác giả đã xử dụng những chi tiết này để tạo nên nhân vật Vân Thiên Bư u.
Xét ra người xưa dùng lối diễn tả này để đề cao phẩm chất một nhân vật chứ không hề chú trọng đến độ chính xác của các đơn vị đo lường. Nếu quả là như thế thì một trượng, ba vầng chỉ dùng để chỉ cái dõng của một trượng phu; Mặt sáng như trăng chỉ bản chất thông minh; Tiếng nói như chuông dùng để chỉ cái oai phong của con người và chắc chắn không ai có ý mang âm kế ra để đo cường độ của tiếng quát.
2/ Vô đề
Bài viết này không có ý định viết về tiểu sử, thân thế, sự nghiệp của Ngũ Tử Tư mà chỉ viê't lại những chi tiết chợt thoáng qua trí nhớ của người viết. Nói sơ lược về Ngũ Viên. Ngũ Viên người nước Sở, con của Ngũ Xa, em Ngũ Thượng. Cả hai cha và anh đều bị vua Sở tử hình. Ngũ Viên trốn sang nước khác tìm cách trả thù cho cha và anh. Cuối cùng Ngũ Viên sang nước Ngô giúp vua Ngô Hạp Lư chiếm kinh đô nước sở, quật mồ vua sở để trả thù nhà. Ngũ viên giúp cháu đích tôn của vua Hạp Lư lên ngôi thành vua Phù Sai, giúp vua Phù Sai tấn công nước Việt, bắt vua nước Việt là Câu Tiễn. Làm quan đến chức Tướng Quốc. Cuối cùng vì can vua mà bị Phù Sai ném cho một thanh gươm bắt phải tự tử. Ngũ Viên chết rồi, vua Ngô sai bêu đầu ở cửa thành phía nam, quân Việt Câu Tiễn tấn công đến trước cửa thành, trông thấy râu tóc Ngũ Viên dựng đứng lên nên không dám qua ải. Đêm đến Câu Tiễn nằm mơ thấy Ngũ Viên về bảo rằng vẫn biết khí thế nhà Ngô không còn phải nhường chỗ cho nước Việt nhưng còn Ngũ Viên thì quân Việt không được qua ải, vậy phiền quân Việt tấn công qua cửa thành phía đông mà vào. Câu Tiễn vào thành, Ngô Phù Sai lúc đó rút ra ngoài viết thư về xin hàng nhưng Câu Tiễn không cho phải tự tử chết. Câu Tiễn xử chém đầu quan Thái Tể nước Ngô là Bá Hi để trả thù cho Ngũ Viên.
3/ Thời thế tạo anh hùng
Vua nước Sở là Sở Linh Vương ham chinh chiến, cho quân chiếm hai nước Sái và Trần. Phong người em là công tử Khứ Tật chức Sái Công. Người nước Sái mất nước. Quan cựu thần nước sái tên Triều Ngô theo phò công tử Khứ Tật với ý định khôi phục lại nước Sái. Nhân Sở Linh Vương đi chinh chiến xa, Triều Ngô giả mệnh Sái Công triệu hai người anh của Sái Công là Tử Can và Tử Tích tới bàn việc nước. Hai công tử tới, Triều Ngô thú thực muốn giúp Sái Công về cướp ngôi nước Sở. Sái Công không biết làm sao đành theo lời Triều Ngô về cướp ngôi vua Sở. Chung cuộc, Sở Linh Vương thắt cổ chết, Tử Can và Tử Tích bị lừa đành rút gươm tự tử, Sái Công lên ngôi thành Sở Bình Vương, cho nước Sái lập quốc trở lại.
Sở Bình Vương lên ngôi, phong nàng Sái Cơ làm hoàng hậu, phong con trai Sái Cơ là công tử Kiến làm thái tử và giao công tử Kiến cho quan thái sư Ngũ Xa dạy dỗ. Nước sở thái bình, vua Bình Vương chỉ ham mê tửu sắc, nghe lời dèm pha của nịnh thần Phí Vô Cực, cưới con gái nước Tần là nàng Mạnh Doanh cho thái tử Kiến nhưng khi nàng Mạnh Doanh đến nơi thì Phí Vô Cực lại xúi tráo nàng Tề Nữ cho thái tử Kiến còn giữ nàng Mạnh Doanh lại làm vợ. Phí Vô Cực sợ sau này thái tử Kiến nối ngôi sẽ trả thù nên tìm cách hãm hại. Trước hết Phí Vô Cực bàn với Sở Bình Vương cho thái tử Kiến và Ngũ Xa ra trấn Thành Phủ, xa kinh đô. Sau lại tấu với vua sở rằng thái tử mưu phản. Sở Bình Vương lệnh ra bắt thái tử thì Phí Vô Cực bàn nên bắt Ngũ Xa về triều trước vì thế Ngũ Xa bị triệu về Kinh. Vua Sở hỏi Ngũ Xa về việc thái tử làm phản thì Ngũ Xa trả lời rằng : "Đại Vương đã cướp vợ người ta nay còn tính làm hại người ". Ngũ Xa bị giam vào ngu.c. Hoàng hậu Sái Cơ bị truất phế, thái tử Kiến mất chức. Nàng Mạnh Doanh lên làm Hoàng hậu, con trai lên chức thái tử.
Phí Vô Cực tâu với vua Bình Vương rằng Ngũ Xa có hai người con trai là Ngũ Thượng và Ngũ Viên mà Ngũ Viên đáng bậc anh hùng, văn võ toàn tài nếu không trừ đi sau sẽ sinh hậu hoạ. Vua sở gọi Ngũ Xa ra bảo viết thư gọi hai con trở về lãnh chức. Ngũ Thượng trở về, Ngũ Xa cho vua sở lừa gạt về sẽ chết nên đưa công tử Kiến trốn sang nước khác. Cha con Ngũ Xa, Ngũ Thượng bị hành quyết, vua sở cho in hình Ngũ Xa hứa thưởng năm mươi ngàn quan tiền vàng và phong chức thượng tướng cho ai bắt được Ngũ Viên. Ngũ Viên đưa công tử Kiến trốn đi, sang Tống, sang Tề. Cuối cùng công tử Kiến mưu giúp nước Tống phản Tề nên bị vua Tề giết chết. Ngũ Viên phò con trai công tử Kiến là công tử Thắng tìm đường trốn sang nước Ngô.
Nếu Sở Bình Vương là một minh quân thì Ngũ Viên đâu cần phải trốn đi, mang tài mình ra giúp nước Ngô, đem quân Ngô về chiếm kinh đô nước Sở trả thù nhà và có thể Ngũ Viên chỉ trở thành một ông quan trong triều nước Sở như nhiều ông quan khác. Tuy nhiên, gặp thời mà không có tài chắc gì đã làm được việc lớn. Trong lịch sử cận đại Việt Nam, thời thế đã tạo nên biết bao người có thể trở thành anh hùng.
4/ Ý niệm thù nhà và tôn quân
Vua Sở sai ông quan đại phu Thân Bao Tự, bạn Ngũ Viên, đi sứ nước Tần. Trên đường lánh nạn, Ngũ Viên gặp Thân Bao Tự đang trên đường về. Ngũ Viên kể lại sự tình cho Thân Bao Tự nghe và nói rõ ý định của mình đi tìm sức mạnh ngoại bang để trả thù nhà. Thân Bao Tự cho hành động của Ngũ Viên là phản thần. Ngũ Viên luận rằng khi vua đã thành bạo chúa thì đạo quân thần không còn nữa. Đối với Thân Bao Tự, trường hợp của Ngũ Viên thật phức tạp để lựa chọn, một bên chữ hiếu, một bên chữ trung. Tuy nhiên Ngũ Viên không cần phải lựa chọn vì đối với Ngũ Viên Sở Bình Vương là một bạo chúa. Tuy Ngũ Viên phản lại vua Sở nhưng khi đi tìm một sức mạnh ngoại bang để trả thù, Ngũ Viên đã theo phò công tử Kiến, con trai trưởng của vua Bình Vương. Đến khi công tử Kiến bị vua Tề giết đi thì Ngũ Viên lại phò công tử Thắng, con trai công tử Kiến , cháu đích tôn của vua Bình Vương. Xét ra Ngũ Viên vẫn một lòng trung với xã tắc nước Sở.
Ngũ Viên phò vua Ngô, trước hết vấn kế cho công tử Quang nhờ tay Chuyên Chư giết chết vua Ngô chiếm ngôi là Vương Liêu, trở thành vua Hạp Lư. Hạp Lư chết, cháu là Phù Sai lên thay. Phù Sai kiêu ngạo, làm nhiều việc sai lầm, không nghe lời nói ngay thế mà Ngũ Viên vẫn một lòng trung không chịu bỏ đi để cuối cùng phải tự sát.
5/ Có vay có trả
Ngũ Viên tới gần biên giới nước Ngô , đang tìm đường qua aỉ Chiêu Quan thì gặp một ông cụ già xưng là Đông Cao Công, ngày xưa là học trò ông Biển Thước, sau sống về nghề làm thuốc, bây giờ đã già ở ẩn. Đông Cao Công nhận ra Ngũ Viên, đưa Ngũ Viên về nhà đãi đằng và hứa sẽ tìm cách đưa Ngũ Viên qua ải Chiêu Quan. Tháng ngày trôi qua mà Đông Cao Công cũng chưa tìm ra cơ hội để đưa Ngũ Viên và công tử Thắng qua ải. Một đêm Ngũ Viên lo nghĩ đến độ tóc bạc trắng. Sáng hôm sau gặp lại, Đông Cao Công giật mình nhưng lại mừng vì Ngũ Viên lúc đó trông giống hệt một người bạn của mình là Hoàng Phủ Nốt. Đông Cao Công liền bày kế để Hoàng Phủ Nốt giả làm Ngũ Viên còn Ngũ Viên và công tử Thắng giả làm người hầu đi theo. Ngũ Viên lạy tạ Đông Cao Công: "sau này chúng tôi xin hậu tạ". Đông Cao Công trả lời: "làm nghĩa có bao giờ mong đền ơn". Qua ải, lợi dụng lúc quan quân bắt Hoàng Phủ Nốt thì Ngũ Viên và công tử Thắng qua ải Chiêu Quan.
Đi tới bờ sông Đại Giang, Ngũ Viên không biết làm sao để qua sông. Đang trốn mình trong một bụi lau thì một ông lão đánh cá đến gọi đưa hai người qua sông. Qua bờ bên kia, ông lão mới cho Ngũ Viên biết rằng đêm qua ông lão nằm ngủ mơ thấy sao rơi trong thuyền, nghĩ rằng có quý nhân nên đến nơ i đây đón rước. Ông lão bỏ vào xóm tìm cơm cho Ngũ Viên và công tử Thắng ăn, khi trở ra thì chỉ còn chiếc thuyền không. Ông lão mới lên tiếng gọi hai người thì cả hai mới từ bụi lau chui ra. Ông lão than phiền vì hành động của hai người có ý nghi ngờ ông lão. Cơm nước xong, Ngũ Viên cởi thanh kiếm gia truyền tặng ông lão để đền ơn nhưng ông lão từ chối quở rằng : "nếu lão ham vàng bạc thì vua Sở đã đăng bảng hứa trao giải năm mươi ngàn quan tiền và tước thượng tướng". Ngũ viên nói rằng tuy người làm nghĩa không màng trả ơn nhưng kẻ chịu ơn phải biết bày tỏ lòng cảm tạ. Rồi hai người từ biệt ông lão, được mấy bước liền quay lại dặn: "nếu có gặp quân sở đuổi theo xin lão đừng tiết lộ". Ông lão nghe Ngũ Viên nói thế than rằng: "lão làm ơn mà sao tướng quân cứ nghi kỵ lòng tốt của lão !". Nói rồi lật úp thuyền xuống giòng sông tự tử. Ngũ Viên khóc mà rằng : "ta vì lão mà sống, lão vì ta mà chết ".
Đi thêm một đọan đường nữa hai người lúc đó bụng đói rã rời mới vào xóm xin ăn. Trên đường đi gặp một người con gái đang giặt áo bên bờ sông Lại Thủy, Ngũ Viên liền tìm đến xin cơm. Người con gái trả lời rằng trai gái không nên gần gũi nhau nên yêu cầu hai người đi xa cho mau. Ngũ Viên phần không hiểu chuyện, phần bụng đói đã mấy ngày rồi nên nài nỉ xin người con gái cho ăn cơm. Người con gái thấy vậy mới đưa cơm cho Ngũ Viên và công tử Thắng ăn. Hai người ăn một nửa còn một nửa để trả lại cho cô gái nhưng cô gái bảo hai người cứ việc ăn cho hết. Cả hai ăn cơm xong, Ngũ Viên hứa sau này sẽ đền ơn sâu thì cô gái trả lời rằng năm nay cô đã ba mươi tuổi, vẫn còn độc thân mà theo tục lệ thì trinh nữ không được kề cận với người nam . Ngũ Viên lậy tạ rồi cả hai lên đường tiếp tục cuộc hành trình. Đi được vài bước, quay lại thì thấy cô gái ôm một cục đá lớn nhẩy xuống sông tự vận. Ngũ Viên khóc lóc, cắn ngón tay lấy máu viết lên một tảng đá đại ý nói Ngũ Viên nhờ côgái mà sống, cô gái vì Ngũ Viên mà chết, sau này sẽ hậu tạ lại ngàn vàng. Viết rồi lấy đất dấu bút tích vì sợ lộ tông tích. Vài năm sau khi Ngũ Viên mang quân về trả thù nhà, đi ngang qua đây đã để lại một ngàn vàng như lời hứa. Nghe tin Ngũ Viên đi qua đấy, bà mẹ của cô gái đã ra bờ sông tìm Ngũ Viên, được quân hầu cận đưa bà cụ tới tảng đá lấy một ngàn vàng về dưỡng già.
6/ Ý niệm về quốc sách và thuật dùng người
Ngũ Viên đến nước Ngô, nghe chuyện biết vua Ngô là Vương Liêu trước đây đã tranh ngôi của công tử Quang. Công tử Quang âm thầm âm mưu việc lấy lại ngai vàng nên chiêu hiền đãi sĩ. Công tử Quang vì muốn chiêu hiền nên đặt ở chợ chỗ đông người qua lại ông thầy tướng Bi Ly để dọ người tài. Bi Ly trông thấy Ngũ Viên đi qua đó mừng quá vội bái với công tử Quang nhưng kẻ hầu của Bi Ly lại là tay chân của vua Ngô cũng báo tin cho vua Ngô biết. Nghe tin Ngũ Viên tới, Vương Liêu mời vào phong đất, cho chức quan đại phu và hứa giúp quân cho Ngũ Viên về đánh nước Sở. Khi Ngũ Viên sắp ra quân thì công tử Quang cũng muốn dùng Ngũ Viên nên vào yết kiến vua Ngô khuyên không nên tin tưởng nhiều vào Ngũ Viên. Vì thế vua Ngô bãi lệnh đánh nước Sở. Ngũ Viên giận lắm, xin từ chức quan đại phu, hàng ngày lo việc cày cấy trên mảnh dất vua Ngô ban cho. Công tử Quang dần dần thu phục lòng Ngũ Viên. Ngũ Viên đã giúp công tử Quang lấy lại ngai vàng thành vua Hạp Lư, sửa sang đất nước thành giàu ma.nh. Ngũ Viên đã tiến cử nhiều người phi thường trong đó phải kể đến Chuyên Chư, Tôn Vũ, Yêu Ly. Bàn về quốc sách, Ngũ Viên đề nghị trước hết phải xây thành trì, mở mang quân đội , giữ vững bờ cõi mới mong đủ sức bảo vệ và nâng cao đời sống người dân. Công tử Quang cần người có sức mạnh và can đảm để giết Vương Liêu thì Ngũ Viên giới thiệu Chuyên Chư. Vua Hạp Lư cần một người nước Ngô giỏi về quân sự thì Ngũ Viên đề nghị Tôn Vũ. Hạp Lư cần người mưu trí để diệt Khánh Kỵ thì Ngũ Viên giới thiệu Yêu Ly.
Vua Hạp Lư không có con, muốn lập người kế vị nhưng ngại lập người cháu đích tôn là Phù Sai vì cho là bất tài. Phù Sai lên được ngôi là nhờ Ngũ Viên nhưng sau khi lên ngôi, Phù Sai không bao giờ nghe lời khuyên của Ngũ Viên vì Phù Sai kiêu căng và ưa thích lời phỉnh ni.nh. Kẻ luôn theo hầu và phỉnh nịnh vua Phù Sai không ai khác hơn là Bá Hi, người nước Sở, con của Bá Khước Uyển, mới thắng quân Ngô được vua Sở tin dùng nên Phí Vô Cực ganh ghét tìm cách đánh lừa để quan tể tướng Năng Ngoã giết đi. Bá Hi vì thế sợ tội phải chạy sang Ngô tìm Ngũ Viên. Nhờ Ngũ Viên, Bá Hi được phong chức quan đại Phu, chung lo việc nước với Ngũ Viên. Khi Bá Hi đến triều Ngô, người thầy tướng Bi Ly đã nói riêng với Ngũ Viên đừng dùng Bá Hi vì Bá Hi có cặp mắt như mắt chim ưng, dáng đi như con hổ tức là tướng của kẻ phỉnh nịnh sau này sẽ làm hại Ngũ Viên. Quả thực như thế, Tất cả các chính sách mà Ngũ Viên đề nghị đều bị Bá Hi ngăn cản, thế mà thuở ban đầu Ngũ Viên đã hết lòng giúp Bá Hi chỉ vì ý niệm "Đồng bệnh tương lân".
7/ Ẩn dật để mà sống
Tôn Vũ khi giúp xong vua Ngô thắng nước Sở xin từ chức về ở ẩn. Tôn Tẫn, cháu Tôn Vũ, sau khi giúp Tề vương dẹp Bàng Quyên cũng xin về ẩn dâ.t. Trương Lương sau khi giúp Lưu Bang dựng nên nhà Hán cũng xin về ẩn dâ.t. Phạm Lãi sau khi giúp Việt Câu Tiễn thắng Ngô cũng xin về ẩn dật... Ngũ Viên sau khi thành công được vua Ngô phong chức tướng quốc nhưng sau cùng vua đưa cho thanh kiếm bảo tự xử. Văn Chủng sau khi giúp Việt Câu Tiễn thắng Ngô được Việt Câu Tiễn phong chức tướng quốc nhưng sau đó thấy lời nói của Phạm Lãi rất đúng "vua Việt môi dài như mỏ quạ là phường xu nịnh chỉ có thể giúp khi hoạn nạn nhưng khi thành công rồi sẽ quên ơn" nên từ từ cáo bệnh không vào chầu nữa. Vua Việt Câu Tiễn đến tận nhà thăm bệnh rồi để lại cho Văn Chủng thanh kiếm mà trước đây vua Ngô đã đưa cho Ngũ Viên. Văn Chủng và Ngũ Viên đã chết với cùng một thanh kiếm. Cả hai đã không biết ngưng việc đúng lúc.
Paris ngày 10 tháng 9 năm 2006
Phạm Văn Vĩnh