Đón Thu, Cảm Thu

 
 
Mùa thu về. Con người, nhất là văn nghệ sĩ, thi sĩ lại có dịp thả hồn về với tình thu. Thí dụ khi chúng ta đọc bài Cảm Thu của Quách Tấn, trong đó có đoạn:

Gió vàng cợt sóng, sông chau mặt,
Mây trắng vờn cây, núi bạc đầu.

Có lẽ khó mà phân tích, nhưng có thể cảm nhận một cách dễ dàng thế nào là "Gió vàng", thế nào là "sông chau mặt", "Mây vờn cây". Cái xúc cảm trong hai câu thơ trên hoàn toàn khác biệt nếu ta đem nó ra mà mổ xẻ, vì chỉ còn lại những mảnh vỡ của hồn thơ.

Ngày xưa khi đi học bậc tiểu học, cô giáo gọi học trò lên trả bài môn Học Thuộc Lòng mà sau này ta gọi là Ám đo.c. Học trò đọc một lúc hết bài Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ. Xong cô hỏi "bài này ý nói gì vậy?". Học trò trả lời "thưa cô bài này tả con cọp nhớ nhà". Cô bảo về chỗ cho 8 điểm. Lên trung học cũng chỉ có phân tích và tổng hợp văn xuôi thôi còn thơ thì ta gọi là bình thơ. Nghệ sĩ họ có cái cảm xúc riêng, không ai hiểu, chỉ đồng cảm. Nhiều khi chỉ cảm ké theo. Thậm chí hai thi sĩ cũng chưa chắc đã hiểu hết ý của nhau. Có khi thi sĩ cũng không hiểu hết những bài thơ mình viết. Đấy là những trường hợp xuất khẩu thành thơ, đang ngủ mơ ra thơ, v.v.

Nhưng trong thơ, thi sĩ có lẽ thích mùa thu nên ta có dịp gặp nhiều bài thơ tình mà trong đó thi sĩ ru gió mùa thu: Đây mùa thu tới, Cảm thu, Tiễn Thu, Thu Ẩm, Thu Buồn, v.v. Nếu kể hết tên của những thi sĩ thích mùa thu, chắc phải viết cả tháng mới xong, trong đó ta có thể kể ngay như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Quách Tấn, Lưu Trọng Lư, Lamartine, Paul Verlaine, v.v.

Tuy thi sĩ cùng cảm mùa thu, nhưng có lẽ mùa thu thay đổi theo vị trí của quả địa cầu. Bên Âu, Mỹ, tiết thu bắt đầu vào cuối tháng 9 và chỉ chấm dứt mấy ngày trước khi ta bắt đầu ăn mừng lễ Giáng Sinh và Tết Dương Lịch. Tết Tây ở vào những ngày lập đông nên những ngày vui và rét như vậy ta không nghe đâu đây ai hát "trên đường đi lễ xuân đầu năm ...". Cũng vì thế mà khi có ai đọc Mùa Thu Paris của ông Cung Trầm Tưởng, ở cái đoạn:

Mùa Thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rượu rưng rưng ly đỏ tràn ly


thì chắc ngươì Paris sẽ cảm nghĩ đây là vào tiết trung thu. Lúc này mây thấp dần, nắng khép lại, thành phố chìm trong ánh đèn vàng nhạt để chỉ còn lại lá vàng rơi, gió heo may và rượu đỏ Beaujolais trong quán và thi nhân. Đấy là vào cuối tháng mười một. Và chắc chắn đây là ở khoảng cuối đường Monge, Cardinal Lemoine, ra tới bờ sông Seine, nói vắn tắt quartier Latin. Nhưng thường ở Paris lúc này không có gió heo may mà có những trận gió rất dài, mạnh và lạnh. Vì thế lá vàng thu Paris khi trời gió trông đẹp lắm!

Tết Trung thu ở bên ta đúng ngày rằm tháng tám. Như vậy mùa thu Việt Nam bắt đầu vào tháng bảy và kết thúc vào cuối tháng chín. Tết Trung thu không biết có từ thời nào, có sách nói cách nay 2000 năm. Không chỉ riêng ở Việt Nam mà Tết Trung Thu có ở khắp vùng Đông Nam Á . Tục truyền đây là cơ hội mà nhiều cha mẹ, sau công việc cầy cấy, tổ chức một ngày lễ dành cho trẻ em để bù lại những lúc bị bỏ bê khi công việc đồng áng còn bề bô.n. Nhưng cũng có thuyết nói thời trước, các vị vua chúa hay tế thần mặt Trời vào mùa xuân và tế thần mặt Trăng vào rằm tháng tám âm li.ch. Lễ cúng là mâm ngũ quả và bánh hình tròn và hình vuông. Sự tích ăn bánh trung thu có từ thời nhà Bắc Tống, cách nay 1000 năm.

Đêm rằm Trung Thu, trẻ em rước đèn đủ loại, đèn ngôi sao, đèn lồng, đèn hình thú vật như cá , chim, đèn kéo quân, v.v. Ngoài bắc Việt Nam múa sư tử, ở trong nam thì múa lân. Lân là con vật thứ hai trong Tứ Linh, gọi là Long Lân(ly) Quy Phượng. Lân là một con vật thần thoại mắt người thường không thấy. Lân có đầu sư tử, mình hươu, móng ngựa, đuôi bò. Vì rước đèn, múa sư tử, múa lân, ăn bánh là những thú vui mà trẻ con ưa thích nên dần dà có thể vì thế mà rằm tháng tám biến thành lễ của trẻ em chăng.
Trong lịch sử nước Tàu cổ, thời nhà Đường, Có đêm Ðường Minh Hoàng nằm mơ thấy mình lên cung trăng, gặp các tiên nữ mặc áo cánh chim, múa hát khúc nhạc du dương ... gần quên trở về. Khi về lại hạ giới đặt ra bài hát tên là " Nghê thường vũ y " để đến tiết trung thu cùng Dương Quý Phi ca hát hưởng trăng. Bài " Nghê thường vũ y " có nghiã là khúc vũ xiêm y 5 mầu sắc. "Nghê" là cầu vồng 5 sắc, "Thường" là xiêm y, "Vũ y" là xiêm y may bằng lông chim. Nhạc sĩ Cung Tiến khi viết bài Hương Xưa kể lại nhiều điển tích cổ trong đó có đoạn "Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi, buồn sớm đưa chân cuộc đờị Lời Ðường thi nghe vẫn rền trong sương mưa ... " có lẽ để kể tích này đâỵ

Kể cũng lạ vì có những năm Tết Trung Thu đến với ta khoảng một tuần trước khi dương lịch vào thu. Thế thì hai mùa thu, của âm lịch và của dương lịch, có khác biệt chăng? Hiển nhiên ta thấy có sự khác biệt về thời khắc, cũng như Tết Dương Lịch và Tết Âm Lịch cách nhau cả 1, 2 tháng. Nhiều năm Tết của người Trung Hoa cũng không cùng ngày với Tết Việt Nam. Với thời gian và theo suy luận khác nhau của các nhà khoa ho.c. Tuy nhiên có một cái lạ là ở nơi nào cũng thế, con người đón Tết với tinh thần tiễn cựu nghinh tân và nhìn mùa thu với cảm xúc gầ n giống nhau, cũng cảm nhận lá vàng rơi, gió thu bay, mây thu buồn. Hãy nghe một đoạn thơ của Tản Đà qua bài Cảm Thu bài Chanson d'Autonne của Paul Verlaine:

Cảm Thu

Từ vào thu đến nay:
Gió thu hiu hắt,
Sương thu lạnh,
Trăng thu bạch,
Khói thu xây thành.
Lá thu rơi rụng đầu nghềnh
Sông thu đưa lá bao ngành biệt lỵ
Nhạn về én lại bay đi,
Đêm thì vượn hót ngày thì ve ngâm.
Lá sen tàn tạ trong đầm
Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoạ
Sắc đâu nhuộm ố quan hà
Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương.
Nào người cố lý tha hương,
Cảm thu ai có tư lường, hỡi ai!

Tản Đà


Chanson d'Automne

Les sanglots longs
Des violons
De l'automne
Blessent mon coeur
D'une langueur
Monotonẹ
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l'heure,
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m'en vais
Au vent mauvais
Qui m'emporte
Deçà, delà,
Pareil à la
Feuille morte.

Paul Verlaine


Chúng ta thấy hai thi sĩ ở hai phương trời cách biệt, viết về mùa thu cả hai cùng có những cảm xúc giống nhau về nỗi ảm dạm của mùa thu.
Nước Tàu cổ đã để lại cho về sau bốn câu thơ nói lên bốn mùa:

Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng lục Liên Trì,
Thu ẩm Hoàng hoa tửu,
Đông ngâm Bạch Tuyết thi


Thế thì câu thứ ba nói mùa thu uống hoàng hoa tửu. Đây là một loại rượu làm bằng hoa cúc màu vàng, một thứ cúc đặc biệt thuộc loại giây lan, cành mềm, lá li ti, nhiều hoa nhưng rất nhỏ. Loại hoa màu đậm toả mùi thơm nồng. Loại hoa màu nhạt có mùi thơm nhẹ nhàng dùng để ướp trà, gọi là trà cúc hay để nấu rượu gọi là hoàng hoa tửụ Loại cúc này tên là Cúc Chi.

Nhưng tại sao mùa thu lại uống hoàng hoa tửu? Tích này ở bên Tàu. Chuyện kể ngày xưa cứ đến mùa thu thì thanh niên tới tuổi phải đi lính thú. Trước khi lên đường, bạn bè tiễn biệt kẻ tòng chinh với chén rượu hoàng hoa. Dần già từ chữ hoàng hoa mới có thêm những thành ngữ như chén hoàng hoa, nắng hoàng hoa, đều dùng cho sự tiễn biệt . Nhạc sĩ Văn Phụng khi viết Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn có nhắc tới bến hoàng hoa.
Nhưng hình như mùa thu ở chỗ nào cũng có tính chất đặc thù. Chính vì thế mà các nhạc sĩ đã viết ra biết bao bài hát về mùa thu như Mùa Thu Cho Em, Mùa Thu Paris, Mùa Thu Trên Đảo Kinh Châu, Mùa Thu Sydney, Mùa Thu Đông Kinh, Mùa Thu Úc Châu, Mùa Thu Không Trở Lại, Tiếng Thu, Tình Thu, Thu Quyến Rũ ...

Mùa thu quả là quyến rũ. Có bao giờ mùa thu trở lại?

Tháng 10 2005 , tháng 9 2006

Phạm Văn Vĩnh


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả