Tước vị Hoàng Đế có từ bao giờ

Lịch sử Trung Quốc ghi lại thời lập quốc là thờ kỳ của ba ông vua, gọi là Tam Hoàng . Hiện giờ các sử gia Trung Quốc cũng chưa có bằng chứng nhất định về ba ông hoàng này . Hiện có ba giả thuyết đặt tên cho ba ông vua này là:

- Thiên Hoàng, Địa Hoàng , Nhân Hoàng .
- Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế .
- Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông .

Sau Tam Hoàng, đến thời kỳ của năm ông vua kế tiếp, gọi là Ngũ Đế . Đây cũng là thời kỳ sơ khai, không có ghi chép hẳn hoi nên cũng có nhiều giả thuyết định tên cho năm vị đế này :

- Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Chí .
- Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu, Thuấn .
- Thái Hạo, Hoàng Đế, Thần Nông, Thiếu Hạo, Chuyên Húc .
- Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc .

Nối tiếp Tam Hoàng, Ngũ Đế là nhà Hạ . Nhà Hạ bị nhà Thương chiếm ngôi . Sau đó vua Trụ nhà Thương bị Vũ Vương nhà Châu thay thế . Nhà Châu thay nhau nối ngôi đến khi bị giặc Khuyển Nhung đánh chiếm kinh đô . Chư hầu mang quân về cứu nhưng lúc đó kinh đô bị cháy rụi, hoang tàn nên nhà Châu dời đô về phía đông . Lịch sử gọi hai thời kỳ này là Tây Châu và Đông Châu .

Các vua nhà Hạ, Thương, Châu tự xưng là Vương, gọi là Tam Vương . Trong những thời kỳ này, nước Trung Quốc chia thành nhiều nước được vua phong Hầu tước nên gọi là chư hầu . Các nước chư hầu lập quân đội và triều đình riêng . Chư hầu chỉ được thành lập ba đạo quân (tam quân), quân đội của các vua Tam vương gồm sáu đạo quân (lục quân) . Các vua chư hầu đặt tước hiệu là công như Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần mục Công ... Nước Sở tự đặt mình chức vương, như Sở Hoài Vương, Sở Bình Vương ... Nhưng tước Công hay Vương của các vua chư hầu đặt ra chỉ để dùng trong địa phận của mỗi nước, Khi đối ngoại, họ vẫn dùng tước Hầu để gọi nhau . Con của các vua chư hầu không được gọi là hoàng tử mà được gọi là công tử . Nước chư hầu nào mạnh mẽ có thể có những nước chư hầu của riêng mình, gọi là nước phụ dung . Nước Tần vào thời lúc nhà Tây Châu bị giặc Khuyển Nhung đánh chiếm chỉ là một nước phụ dung nhưng vì Tần vương có công đến cứu giá và bảo giá vua nhà Châu về Đông đô nên trở thành chư hầu và còn được vua nhà Châu giao ước rằng nếu nước Tần đuổi được giặc Khuyển Nhung đang đóng chiếm phía tây thì miền đất đó thuộc về nước Tần . Vì thế khi dẹp xong giặc Khuyển Nhung, nước Tần trở nên mạnh mẽ .

Khi nhà Châu dời đô về phía đông thì vua nhà Đông Châu không còn quyền hành gì nữa, các chư hầu cậy sức mạnh tự do hành động theo ý mình . Thời kỳ ấy gọi là Xuân Thu . Sau nước Tấn bị ba ông quan đại thần chiếm mất, chia nước Tấn ra làm ba nước là Triệu, Hàn, Ngụy . Trong thời kỳ này các nước chư hầu đem quân giao tranh nhau, gọi là thời Chiến Quốc . Cuối cùng nước Tần toàn thắng các nước kia thu giang sơn về một mối . Vua Tần tự nghĩ Tam Vương không công đức nhiều bằng Tam Hoàng và Ngũ Đế nên lấy hai chữ Hoàng và Đế ghép lại, tự đặt mình vào chức vị Hoàng Đế, tôn cha mình lên chức Thái Thượng Hoàng và xưng "trẫm" với bề tôi, bề tôi gọi vua Tần là "Bệ Hạ" . Như vậy nếu ta coi tuồng Cải Lương hay Hát Bội khi có tuồng nào kể chuyện trước thời Tần Thủy Hoàng mà "ái khanh" cứ nhởn nhơ "bệ hạ ui " thì không đúng . Vua Tần nghĩ mình thế nhà Châu, mà nhà Châu thuộc về mạng "Hoả" trong Ngũ hành nên tự nghĩ mình thuộc về mạng "Thủy" mới thắng được "Hoả" . Vì thế lấy hiệu là Tần Thủy Hoàng, y phục màu đen .

Người Trung Hoa đưa ra thuyết Ngũ Hành để giải thích sự biến chuyển của sự vật . Thuyết này dựa vào 5 yếu tố là kim, mộc, thủy, hoả, thổ . Các yếu tố đều có liên hệ với nhau . Một yếu tố có thể sinh ra yếu tố khác, gọi là "tương sinh" . Nhưng một yếu tố cũng có thể hủy hoại một yếu tố khác, gọi là "tương khắc" . Thí dụ lấy nước tưới vào cây thì cây đâm chồi nẩy lộc . Trường hợp này được gọi là "tương sinh", chính xác hơn ta nói "thủy sinh mộc" . Thí dụ thứ hai là nếu lấy lửa đốt cây thì cây sẽ cháy thành tro . Trong thí dụ này ta tìm ra "hoả khắc mộc" và "mộc sinh thổ" . Thuyết này được áp dụng trong mọi lãnh vực, từ mùa màng, nhà cửa, gia đình, buôn bán ... Trong một quốc gia, thuyết này xếp bộ quốc phòng vào mạng hoả, bộ nội vụ vào mạng kim, bộ xây cất, cầu cống vào mạng thổ, bộ tư pháp vào mạng thủy vì phải công bằng như mặt nước ... Thuyết này còn xếp hạng cho các triều vua . Thí dụ thời đại vua Huỳnh Đế thuộc vào mạng thổ, nhà Hán thuộc vào mạng hoả ... Chính vì thế mà khi Vương Mãng làm quan cho nhà Hán tự nhận mình là giòng dõi vua Huỳnh Đế đã thuyết phục được nhiều người nghe theo là khí thế nhà Hán đã hết, "hoả sinh thổ" nên Vương Mãng cướp được ngôi Hán Đế mà lập nên nhà Tấn .

Vua Tần từ khi phong cho mình làm Hoàng Đế, tự xưng là "Trẫm", bắt quần thần tâu "Bệ Hạ" thì đốt sách, chôn học trò, cấm Khổng Giáo . Trước kia vua nhà Châu cho phép quần thần được nghi vua, con được nghi cha nhưng nay Tần Thuỷ Hoàng cho là trái lẽ, cấm khi quân . Về sau vua nhà Hán thấy đạo Khổng đề cao đạo vua tôi, Thiên Tử là trên hết nên đã cho đạo Khổng hoạt động trở lại .

Trước thời tần Thủy Hoàng, các vua thường hay phong đất cho các quan, gọi là "thái ấp" . các ông quan được phong đất được quyền đặt nền cai trị theo ý mình, được quyền tuyển quân đội riêng, thường được gọi là "gia thần" thay vì "công thần" trong triều đình nhà vua . Tần Thuỷ Hoàng thấy việc phong đất dễ gây loạn nên dẹp chế độ quân phong, lập thành quận, huyện cho quan tới cai tri .

Xét ra thời Tam Hoàng, Ngũ Đế có vẻ huyền thoại giống như thời đại Hồng Bàng ở nước mình và các ông vua này chắc cũng giống như thời Hùng Vương, chỉ là các ông tù trưởng bộ lạc .

Thời kỳ các quan chư hầu được phong đất, tự trị, có quân đội riêng được coi như chế độ "Phong Kiến" . Các ông quan trở thành lãnh chúa của từng vùng . Nước Việt ta sau thời Thập Nhị Sứ Quân thì chế độ "Phong Kiến" không còn nữa . Thay vào đó là chế độ Quân Chủ Chuyên Chế với một ngoại lệ là xã thôn có quyền tự trị, phép vua thua lệ làng . Nước ta tuy theo Quân Chủ Chuyên Chế, vua thu quyền hành về một mối nhưng xét ra hình thức dân chủ đã hiện hữu từ lâu đời trong các xã thôn . Làng xã tự đặt lệ ra áp dụng, vua quan phải chấp nhận . Có thể ngày xưa tổ tiên ta thời lập quốc đã chọn giải pháp này để đoàn kết các bộ lạc .


Ngày 1 tháng 10 2006
Phạm Văn Vĩnh


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả