Thử một lần hoài nghi

Cách nay mấy tháng, tôi có dịp đọc một bài viết trong đó tác giả cho rằng người Việt mình có cái "GEN" chia rẽ . Tôi đang định hỏi lại tác giả đã căn cứ vào đâu để đi đến kết luận đó thì ngay hôm sau lại có một cây bút thứ hai viết lên ra điều không đồng ý . Cả hai bài viết chỉ đưa ra kết luân mà không dẫn chứng nên từ dạo ấy, cái ý niệm về cái gọi là mầm mống chia rẽ của người Việt nó cứ ám ảnh trong đầu tôi cho đến một hôm tôi đang ngồi chơi bỗng nghe tiếng hai đứa trẻ con nhà hàng xóm đánh nhau làm bố mẹ hai cháu phải can thiệp và giảng cho chúng nó hiểu rằng anh em trong nhà phải đùm bọc thương yêu nhau . Bài giảng dài lắm làm tôi nghe mãi đâm ra khó chịu và tự nghĩ nếu hai đứa trẻ kia đừng đánh nhau thì mình đâu có phải ngồi đấy nghe giảng đạo . Trong lúc nghĩ ngợi quanh co chợt cái ý niệm về mầm mống chia rẽ nó lại lẩn quẩn quanh tôi và tôi tự hỏi "không có lửa làm sao có khói ? " . Khói có thể là câu ca dao của người mình sau đây :

Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn .

Và lửa là mầm mống chia rẽ (?) . Bởi vì nếu ta cũng suy luận theo cái kiểu nếu mà hai đứa trẻ kia không đánh nhau thì cha mẹ chúng nó không giảng đạo dài dòng thì giả tỉ như người mình không chia rẽ nhau thì làm gì có hai câu lục bát viết ở trên . Rồi lại còn những câu như :

- Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết .

- Hợp quần gây sức mạnh

- Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao .

- v.v .

không lẽ mình đang đoàn kết với nhau mà các cụ lại gọi ra bảo " Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết " ? Hoá ra các cụ lẩm cẩm .

Tuy nghĩ thì như thế nhưng chỉ là lý luận, hồ nghi viển vông chứ chưa có bằng chứng hẳn hòi về chuyện người Việt mình có mầm mống chia rẽ . Trái lại trong lịch sử dân tộc, tổ tiên ta đã từng họp Hội Nghi Diên Hồng . Đã từng đánh bại quân Nam Hán trên Bạch Đằng Giang . Ba lần quân Nguyên thảm bại . Ba lần bắc thuộc cả ba lần dành lại độc lập . Liễu Thăng chết tại ải Chi Lăng . Vương Đông xin hàng ở Đông Quan . Toa Đô bỏ mình nơi Hàm Tử . Tôn Sĩ Nghị bỏ cả ấn tín vội vã chui vào ống đồng cho quân khênh chạy về Tàu . Nếu không một lòng đoàn kết thì làm sao có thể tạo nên những chiến thắng vẻ vang như thế ? Câu hỏi đặt ra là có phải người Trung Hoa đã mang chữ "Thắng" của ta vào Hán tự ? Sở dĩ tôi đặt câu hỏi này ở đây vì chúng ta đã bắt đầu thắng quân Tàu từ thời hai bà Trưng mà chúng ta chỉ có chữ "Thắng" trong văn học để diễn tả chúng ta thắng trận . Đối lại với chữ "Thắng', ta có chữ "Thua" hay chữ "Bại" . Theo thiển ý của tôi thì ta chế ra chữ "Thua" để chỉ sự thất bại của quân Tàu . Hán tự có chữ "Bại" vì người Tàu thua mình nhiều quá tất phải chế ra ngữ vựng mà dùng . Nhưng họ chưa bao giờ thắng chúng ta nên chưa có dịp chế ra chữ tương đương với chữ "Thắng" . Đến khi chạy vội vã về Tàu cứ nghe văng vẳng tiếng quân ta la hét "Toàn Thắng", "Toàn Thắng" rồi về nhà ghi lại mang vào tự điển Hán văn . Giống như người Pháp bây giờ cũng xử dụng danh từ "Nem" và "Phở" . Xin đặt một câu hỏi, thời Phù Đổng Thiên Vương và thời hai Bà Trưng, Bà Triệu, chúng ta chưa có Hán Tự thì lúc đó chúng ta nói "Toàn Thắng" ra làm sao ?

Hội Nghị Diên Hồng không những thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc mà nó còn là một bằng chứng về tinh thần dân chủ của xã hội ta vào thời Trần . Rất tiếc trong lịch sử dân tộc, chúng ta chỉ có một lần hội họp theo kiểu Hội Nghị Diên Hồng . Nhưng tại sao Hội Nghị Diên Hồng chỉ họp các "Bô Lão" ? Không lẽ trước đe doạ lớn lao của quan quân nhà Nguyên, vua Trần thấy chỉ cần phải hỏi ý kiến các cụ già . Theo nhiều giải thích đó đây mà người viết có dịp đọc qua, thì hai chữ "Bô Lão" được kết hợp bởi chữ "Bô" là tiếng Việt thuần tuý ám chỉ người "Bố" . Hiện nay có người vẫn gọi cha mình là "ông bô" . Trong sử chúng ta có cả "Bố Cái Đại Vương" . Còn chữ "Lão" là tiếng Hán chỉ người lớn tuổi, lão trượng, kỳ lão . "Bô Lão" dùng để chỉ các bậc trưởng thượng một vùng mà nhiều sách vở cho đó là tiếng chỉ các vị tù trưởng, lang đạo của các bộ lạc và các vị chỉ huy quân đội lúc bấy giờ .

Nước ta thời xưa tuy được chia thành nhiều đơn vị hành chánh như phủ, huyện nhưng thực quyền kiểm soát trung ương chỉ giới hạn đến Huyện còn tại các làng mạc, chế độ tự trị vẫn được tôn trọng và các bộ lạc vẫn do các tù trưởng lãnh đạo . Lúc ban đầu, triều đình đã bổ các quan tri châu nhưng các vị quan này thường bị thất bại vì dân địa phương không hợp tác nên về sau triều đình phải dùng người địa phương để bổ vào chức tri châu và để họ tự trị với nhau . Những cuộc nổi dậy của Cai Tổng Vàng, Nùng Văn Vân, Lê Văn khôi, Lê Duy mật, v.v mà lịch sử gọi là những cuộc nổi loạn chẳng qua là có sự xích mích giữa quan lại triều đình và các ông chỉ huy địa phương mà ra . Lịch sử ghi lại thời vua Trần Nhân Tông, trong khi quân Nguyên đang hiện diện ở nước ta thì Lê Duy Mật ở miền Đà Giang, Tây Bắc bây giờ, tự xưng là Chúa Đạo Đà Giang nổi lên chống lại triều đình . Lúc bấy giờ ngoài thì giặc Nguyên xâm lấn, trong thì có loạn nên vua Trần đã cử Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật lúc đó mới 27 tuổi vào chức Trấn Thủ Đà Giang . Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa hai nhân vật Trấn Thủ Đà Giang và Chúa Đạo Đà Giang rất dài dòng nhưng sau cùng đạo quân Đà Giang đã về với triều đình .

Thời xưa nước ta có hai chế độ cai trị tại địa phương . Đó là chế độ Bộ Lạc ở miền núi và chế độ Xã Thôn tại miền trung du và miền đồng bằng .

Các bộ lạc hay xã thôn tuy nắm quyền tự trị trong vùng kiểm soát của họ nhưng họ đều thần phục triều đình, khác với thời Thập Nhị Sứ Quân các lãnh chúa không quy phục triều Ngô nữa nên mỗi người tự chiếm cứ một vùng rồi cất quân tiêu diệt lẫn nhau .

Các bộ lạc tự trị được cai quản bởi một ông tù trưởng thường gọi là Lang Đạo hay Quan Lang . Chế độ Bộ Lạc quy tụ những người cùng một sắc tộc, có thể không cùng họ nhưng tất cả đều thờ một vị thần gọi là ông Thành Hoàng . Ông Lang Đạo được dân trong vùng kính trọng như cha mẹ . Khách của ông Lang Đạo là khách của mọi người . Mỗi khi ông Lang có khách, dân trong vùng thay nhau mang cơm đến nhà ông Lang . Ngược lại ông Lang có nhiệm vụ chu cấp cho người trong vùng . Thấy ai thiếu ăn, ông Lang có bổn phận đi vay lúa gạo về giúp . Đàn bà goá chồng có con, muốn tái giá, cứ việc mang con đến giao cho ông lang nuôi dùm .

Tại xã thôn, mỗi làng có luỹ tre bao bọc . Người ngoài không biết làng có bao nhiêu gia đình và bao nhiêu mẫu ruộng . Đến đêm đóng kín cổng người ngoài không vào được . Hàng năm làng tổ chức một cuộc bầu phiếu tự do dân chủ để bầu Hội Đồng Kỳ Mục, ông Tiên Chỉ và ông Lý Trưởng . Hội Đồng Kỳ Mục là quốc hội của làng, quyết định các việc chung . Ông Tiên Chỉ cai trị trong làng và có nhiệm vụ dâng rượu cúng Thần . Ông Lý Trưởng là bộ trưởng ngoại giao của làng lo việc giao thiệp với quan Huyện . Làng có quỹ gạo để giúp người nghèo . Chế độ xã hội này gọi là Cưu Ban và quỹ gạo gọi là gạo Hứa Xương . Người từ phương xa đến trú ngụ lúc ban đầu chỉ được ở nhờ, làm thuê, phải nhiều năm thử thách mới được nhập tịch vào làng . Quan Huyện không can thiệp vào việc làng . Các quyết định của làng nếu khác với mệnh vua thì cứ theo tiêu chuẩn "phép vua thua lệ làng" . Hàng năm làng phải khai thuế Đinh và thuế ruộng đất nhưng thường làng nào cũng khai ít đi . Mỗi năm quan Huyện gọi Lý Trưởng lên huyện doạ nạt bắt phải khai tăng số dân đinh và số ruộng đất . Nhiệm vụ của Lý Trưởng là phải khai càng ít càng tốt . Tương đương với số khai dân đinh, quan huyện cấp cho mỗi người một cái thẻ để đi đâu mang theo nếu quan quân có tra xét phải trình . Nhưng vì thẻ không có hình và vi Lý Trưởng khai ít quá nên Lý Trưởng giữ hết các thẻ đinh, ai đi đâu lên mượn Lý Trưởng một cái, khi về trả lại . Về sau người Pháp mang máy bay sang chụp không ảnh mới khám phá ra số ruộng của làng và số nóc gia quá nhiều so với số khai báo .

Khác với thời hai Bà Trưng, Bà Triệu khi đó nước ta còn theo chế độ Mẫu Hệ, thời về sau nước ta đã đổi sang chế độ Phụ Quyền nên vì thế chúng ta không có phụ nữ giữ các chức vụ Lang Đạo, Tiên Chỉ, Lý Trưởng . Chế độ tự trị này chấm dứt ở miền bắc vào năm 1946 và vào năm 1956 ở miền nam .

Ngày 10 tháng 10, 2006
Phạm Văn Vĩnh


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả