Lê Thị Hoài Niệm
[ Thi Hữu | Nhắn Tin]


Lời Thư Của Mẹ

Lời Thư của Mẹ



Con yêu,

Cứ ngỡ rằng thành phố Houston sẽ dịu nắng sau hai cơn bão kinh hồn đổ qua tiểu bang Louisiana, và một phần của Texas, cơn nắng mùa hạ sẽ lùi xa nhường chỗ cho những đợt gió thu chớm về, làm dịu trời đất, làm mát lòng người. Nhưng không, nắng vẫn nung người, vẫn như hôm nào với những vạt nắng lung linh nhảy múa, nắng trải xuống mặt đường những viên kim cương trắng ngần trong suốt, nắng bềnh bồng reo vui ca hát theo những nốt nhạc du dương trầm bỗng, nắng xoáy trôn ốc, nắng lộn lên không, nắng nhào xuống đất, nắng chạy dài theo vết bánh xe lăn đưa Ba Má trở về nhà sau khi tiễn con vào tận trạm cuối cùng cho hành khách lên phi cơ hôm ấy, nắng trưa góp lời với gió hòa nên bản tình ca chợt vút lên cao, lúc chùng xuống thấp như tâm trạng của Má lúc tiễn con đi, nốt chùng thấp là giọt nước mắt buồn của người Mẹ phải xa cách con gái của mình, và những nốt nhạc vút cao kia là nỗi vui, niềm hãnh diện về một đứa con, con của Ba Má và là con của người Việt nam đang sống ở xứ sở Hoa kỳ này, quê hương thứ hai của Ba Má nhưng là nơi “chôn nhau cắt rốn” của con. Nỗi vui và niềm hãnh diện đã vỡ oà trong Má từ buổi chiều đẹp trời tại hí viện của trường đại học Rice, nơi mà Ba Má vừa ngừng xe nơi bãi đậu, đã thấy bóng dáng oai hùng của những quân nhân Mỹ trong bộ lễ phục trắng tinh đi tới đi lui, nơi mà ngày trước Má không dám nghĩ sẽ có một ngày, một trong những Sĩ quan tương lai của quân đội Hoa kỳ, một quân độị hùng mạnh nhất trên thế giới, lại là đứa con gái đầu lòng của Má, và Má đã khóc, nhưng là giọt nước mắt sung sướng, hãnh diện khi vị Đại uý tuyên đọc tên con, rồi họ mời Ba Má lên khán đài gắn cấp bực “Thiếu uý hải quân” trên cầu vai bộ đại lễ màu trắng Hải quân của con. Má đã run tay, nhưng run tay trong vui mừng hồi hộp, hồi hộp như hai tuần trước đó, Má đã thức dậy lúc năm giờ sáng, co ro trong chiếc áo lạnh, ngồi lên xe, cùng con chạy đến văn phòng “Navy R.OT.C” trong“Rice University”, để con dự thi lần chạy cuối cùng, Má đã ngồi yên trong xe với hơi sương lành lạnh, và ánh đèn vàng vọt bên ngoài, trong khi con nhập vào toán Marine và Navy đang chạy ra bãi tập. Trong bóng tối mờ mờ Má đã chắp tay cầu nguyện cho con “pass” cuộc thi, và rồi khi toán lính trở về, họ vừa đi vừa nói cười vui vẻ, nhưng Má lại không thấy con đâu, nỗi lo len qua người Má, lạnh cả đôi tay, nhịp thở không đều và Má đã lặng người khi thấy con từ xa về lại mà miệng không có nụ cười, mãi đến khi con ôm chầm lấy Má và nói khẽ: -Con đã pass rồi!- hú hồn!- “Con không dám mừng to vì cô bạn kia bị trượt, cô ấy khóc quá trời!” Ôi con gái của Mẹ, con đã ý thức được niềm vui của con và nỗi buồn của người khác trong cùng một thời gian, không gian se lạnh ấy. Để rồi Má được nhìn con mặc bộ quân phục nữ Sĩ Quan Hải quân Mỹ oai nghi, trong tư thế đứng nghiêm chào vị Đại tá cất lời tuyên thệ trước hàng trăm ánh mắt đang hướng về con, và khi tiếng kèn thúc quân cất lên, con đã hiên ngang bước đi dưới hàng kiếm chào uy dũng. Bồi hồi xúc động làm sao, cùng lúc ấy, ký ức Má quay về với kỷ niệm ngày xưa ở quê nhà khi Má trạc tuổi con, Má cũng đã có dịp vào trung tâm huấn luyện Hải quân, nơi thành phố Má ở, để dự những buổi lễ ra trường của những Sĩ quan ưu tú, ngày ấy Má cũng đã vui lây niềm vui của những người bạn cuả Má, nhưng niềm vui đã vội bay theo những bước đường hành quân của họ, không như bây giờ Má đã có vì con. Ít ra con đã mặc bộ quân phục của quân đội Hoa kỳ, quân đội của một xứ sở thật sự tự do, xứ sở đã cưu mang hàng vạn người Việt Nam, những người đã liều mình bỏ nước ra đi để tìm hai chữ Tự Do, để trốn chạy chế độ độc tài Cộng sản. Dù các con có tình nguyện tham gia với bất cứ lý do gì, cũng đã góp phần đền đáp một khối ân tình mà người bản xứ đã giúp đỡ, sớt chia cả vật chất và tình thương của họ, để cho số đông người tị nạn Việt nam mình, mới ngày nào chân bước đến đây ngơ ngơ, ngáo ngáo, tiếng nói xứ người chẳng biết được bao nhiêu.Vậy mà chỉ cần ba mươi năm sau, đã có nghề nghiệp ổn định, con cái học thành tài, có đủ các thứ nhà sang, xe đẹp v..v.

Con đi, Má buồn, nhưng vững tin vì biết con ra đi thi hành công vụ, biết chắc con đi ngày nào và đến cả những nơi đâu, không như ngày Má ra đi, ngày ấy Bà Ngoại của con đã nuốt ngược nước mắt vào lòng, dù tim gan có nát tan vụn vỡ, Bà đã không dám khóc thành tiếng vì sợ hàng xóm họ nghe, họ đi báo với công an, Bà đã rứt ruột rứt gan nhìn con cháu trốn chui, trốn nhủi đi xuống thuyền vượt biển - vượt biên, dù không biết có đến được bờ bến tự do, hay phải vùi thây trong lòng biển cả, làm mồi cho cá mập. Bao nhiêu tình thương Má dành cho con thì cũng ngần ấy Má nhớ thương về Bà ngoại, một người Mẹ Viêt Nam vĩ đại vô cùng, tiếc rằng Bà đã không còn trên đời, để Má sung sướng khoe với Bà rằng đứa cháu ngoại cuả Bà đang làm việc trên một chiếc tàu Hải quân Mỹ thật lớn, chiếc U.S.S Gunston Hall, thuộc hạm đội Năm ở biển Đại tây dương, với năm bảy tầng lầu, có sân máy bay, có phòng ăn, phòng ngủ, có nước nóng, nước lạnh, có ti-vi, tủ lạnh v.. v., khác hẳn với chiếc thuyền con mong manh Má ngồi trên ấy ngày nào, nó quá bé nhỏ so với một đại dương quá bao la, chuyến đi của Má sao quá hãi hùng, khủng khiếp, không như Con cuả Má hôm nay. Tàu của con đã lướt sóng ra khơi đi về hướng Phi châu xa tắp, đi sang bờ Hồng hải khó khăn kia, chiếc “Dương vận hạm” chuyển tải cả tình thương và sự sống đến giúp đỡ người dân ở những vùng đất đói khổ, nghèo nàn, giúp đỡ ngay cả những chiếc thuyền con đang lênh đênh trên sóng nước đang cần thực phẩm, khi lên bờ lại coi sóc cho kẻ ốm đau, và đó cũng là lý do con của Mẹ muốn trở thành một Hải quân Y-sĩ. Những người Lính Mỹ dù già hay trẻ, hay mới ra trường đi ..tập sự như con, tất cả hầu như đã mang sẵn trong người một tình thương không biên giới. Con bảo: “Khi họ tình nguyện vào Quân đội là biết trước hiểm nguy mà! Đơn vị điều động đi đâu là mình phải nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, và làm tròn chức năng công việc cuả mình”! Cũng như những ngày qua ở đây, khi cơn bão Katrina hãi hùng chụp xuống thành phố New-Orleans, hình ảnh những người Lính Mỹ đã mang lại niềm tin, sự sống cho những kẻ không may, ở đâu có khó khăn thì nơi ấy có bóng dáng những người lính, dù họ là Vệ binh quốc gia, hay người lính chính qui Nhảy dù, mà trong đó đã có người mang dòng máu Việt nam như con, họ có mặt ở khắp các đơn vị, ngay cả chiến trường IRaq. Tự dưng Má muốn khóc, Má nghĩ thương những người Lính cuả quân đội Mỹ bây giờ đang chiến đấu khắp nơi trên thế giới, và ngay cả những người đã hy sinh trong chiến trận ở Việt nam mình, ngày đó họ chắc cũng trẻ như con và có khi còn nhỏ hơn con, họ đã từ giã Cha Mẹ, Anh chị em, từ bỏ căn nhà thân yêu với chăn êm nệm ấm, bỏ lại chỗ ngồi trên chiếc xe hơi êm ái, bỏ những bữa ăn với bánh thịt ê hề, bỏ, bỏ lại hết để đi sang một vùng đất xa xôi bên kia bờ Thái bình dương xa thẳm, vùng đất mà chắc gì trước đó họ đã nghe nói đến tên, đừng nói chi có được một người quen nơi đó. Họ chiến đấu trong rừng sâu núi thẳm, trong đồng tháp sình lầy, cực nhọc thể xác, bất ổn về tinh thần, để rồi cuối cùng hy sinh không tròn thân xác, vĩnh viễn đi về lòng đất lạnh trong nỗi đau chỉ của người thân trong gia đình, và sự thờ ơ; lãnh đạm, hất hủi của một số người đồng chủng, kể cả sự thù hằn của đám người “phản chiến”. ‘Người Lính’ nào có tội tình gì? Nào có mấy ai thích chiến tranh? Nhưng cầm súng chiến đấu để “Tự vệ” đâu có gì sai trái, Người lính oai dũng kia cũng chỉ vì “thi hành nhiệm vụ” theo lệnh của những người có Thẩm quyền ban ra. Người lính đâu có quyền cãi lệnh, cũng như những người lính Việt Nam mình ngày ấy, những người Lính đúng nghĩa, họ đã dũng cảm chiến đấu để cố giữ lại miền đất tự do, để rồi một số đã vĩnh viễn nằm xuống, đã yên thân, chỉ còn một số mang đầy thương tật thì sống lây lất qua ngày bữa đói bữa no, nhiều khi phải bò lê lết tấm thân ăn xin ngoài đường phố. Còn có bao nhiêu người nghĩ đến họ? Ngay cả những người ngày trước làm quan to chức lớn, trong nhà có năm bảy người “lính hầu”, có quyền sanh sát trong tay, những kẻ sẵn sàng “mua quan bán chức” trên xương máu của người Lính ngoài mặt trận, bây giờ đang sống vương giả ở xứ này, những kẻ mà hễ có dịp thì mở miệng oang oang chửi đổng “ người Mỹ phản bội, người Mỹ bỏ rơi ta”, trong khi Ta…bỏ lính ở lại chiến đấu sống còn với địch, để chạy trốn trước hơn ai hết. Nước ta, ta không gắng giữ, lại đổ hết tội cho Người, mà nào ta có phải là “lính đánh thuê” đâu!. Miệng chửi thì cứ chửi, nhưng tiền đô la thì chắc chẳng chê(?), bảo về Việt nam ở luôn thì chả dám, nhưng về du lịch, ăn chơi thì đều đặn hàng năm(?). Má nhớ có lần Má đưa Con đi tham dự một buổi họp mặt đơn vị cũ của Ba Con, Con đã hỏi Má một câu thật bất ngờ khi Con nhìn thấy một “toán lính trẻ” với quân phục Không quân, đứng làm dàn chào và được người xướng ngôn dõng dạc giới thiệu: Thế hệ thứ hai !-“Tại sao Lính Việt Nam mình mà trẻ quá vậy? nếu là quân đội Mỹ thì họ phải có phù hiệu đơn vị chứ, sao con không thấy?” Má không biết hỏi ai để trả lời cho con, đứa con gái biết quá nhiều điều, đứa con gái mà lúc mới lên năm tuổi đã hát thuộc bản nhạc “Tình ca” của nhạc sĩ Phạm Duy và biết cãi lại khi Bác Lợi thử sửa sai: “Con phải hát :Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới …qua đời chớ! – không, phải hát là ra đời, chớ qua đời là chết rồi còn hát gì được nữa!” Đứa con gái có lúc cứng đầu khiến Má buồn, Má khóc, nhưng trước khi con ra trường “Navy R.O.T.C” đã mang niềm hãnh diện không những cho gia đình ta, mà một phần cho cả người Việt Nam mình khi con được trao tặng đến 7 phần thưởng trong cùng một buổi lễ, ngay cả thanh gươm biểu tượng của Hải quân, từ tay Hải quân Thiếu tướng(rear Admiral) Edward Masso, mà đó lại là món quà do một gia đình cựu quân nhân Mỹ chiến đấu ở Việt nam mình bảo trợ. Hai người đàn bà Mỹ lịch sự, một già, một trung niên trong gia đình đến tham dự cả thảy bảy người, đã nghẹn ngào cầm chặt tay Má mà nói rằng: Con - Chồng của quí Bà đã anh dũng hy sinh trên chiến trường Việt nam năm 1967, mãi đến bây giờ họ vẫn không quên tinh thần dũng cảm của Người Chiến Sĩ đó, nên họ vẫn âm thầm ủng hộ quân đội, hàng năm họ “bảo trợ”cho trường một món quà, họ không thể ngờ được món quà họ trao lại dành cho một cô gái Việt Nam, họ vô cùng hãnh diện và biết rằng người thân của họ đã không hy sinh vô ích.!

Con yêu, hôm nay Con xa Má đến nửa vòng trái đất, Má khó mà nhận được những cú điện thoại hàng ngày, để nghe Con la hét reo mừng vì đội football trường OU. của Con thắng trận, nhưng Má không ủ dột, lo rầu, vì ít ra Con đã thay Ba Má mà đền đáp một phần nào ơn nghĩa mà người dân xứ sở này đã giúp cho Ba Má, đã tạo ra Con, một xứ thật sự tự do, có thể rèn luyện con người đủ cả ba phương diện: đức- trí- dục, nếu người thụ hưởng có quyết tâm.“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Má đã từng dạy Con câu ấy khi Con còn rất nhỏ, nhiều người dân mình cũng đã thuộc lòng câu ấy, nhưng hình như có một số cũng đã vội quên, hễ đến ngày lễ lạc nào đó cuả xứ V.N mình ngày cũ, thì họ cũng tổ chức thật rình rang, một việc làm xét ra vô cùng ý nghiã, cũng gây quỹ nọ kia, nhưng rồi họ đi “thuê” những ca sĩ phương xa về hát hò chẳng ra làm sao cả, phải chăng những người đến tham dự chỉ vì nhũng Ca sĩ lớn…tuổi? mà chẳng màng đến ý nghĩa đích thực của buổi lễ? Có lần Con hỏi Má sao Họ không dành số tiền “thuê” ca sĩ đó, gửi về cho những người đồng đội “thương phế binh” của họ đang sống dở , chết dở ở cái xứ chẳng có mấy tình người kia? và nếu như họ còn luyến lưu Quân đội, còn muốn mặc bộ Quân phục ngày nào, sao họ không nghĩ đến quân đội nơi họ đang sinh sống, đang được hưởng đủ mọi thứ trên cõi đời này, nhất là sự Tự Do, Bình yên. Nếu không có những người Lính, đang chiến đấu ngoài mặt trận xa, hay đang canh giữ những cơ quan trọng yếu , chắc gì xứ sở này được trọn yên bình?

Má cứ ước ao một ngày nào đó, Má cũng gặp một người Mẹ chiến binh Mỹ, Bà ấy cầm tay Má mà rằng:
"Tôi rất hãnh diện khi người Việt Nam của Bà đến sống ở nước tôi, đã có nhiều người Việt trẻ tuổi đã và đang tình nguyện phục vụ cho đất nước này, góp sức gìn giữ cho quê hương này được trọn vẹn, bình yên, và ngay cả những người lớn tuổi, Họ đã cử nhiều tổ chức đến uỷ lạo, ủng hộ cho người lính và gia đình của họ, một lá thư gửi cho người ngoài mặt trận , một gói quà nhỏ cho gia đình binh sĩ trong dịp lễ lớn như Thank Giving, Christmas, hay một vài phonecard gửi cho người lính phương xa (như Má đã từng mua gửi mỗi khi đến bưu điện) ôi những nghĩa cử đẹp và tình nghĩa vô cùng …”
Có mấy ai từ chối một ân tình? Ân tình ngày trước họ rước đón giúp đỡ chúng ta, và bây giờ chúng ta ân đền nghĩa đáp, như đã từng góp công, góp của mỗi khi xứ sở này có một nạn tai, như thảm nạn 9-11 và hai trận bão Katrina, Rita chẳng hạn.

Con yêu, tâm tình Má gửi cho con khó mà chấm dứt, nhưng con đâu thể ngồi lâu để đọc mãi thư nhà, chiến hạm con đang đi nhưng Con vẫn đang làm việc, Con đi xa nhà, Con buồn – Má biết, nhưng “Lính” dưới quyền Con cũng rất cần sự giúp đỡ, an ủi của Con, như người Lính vừa nghe tin “Vợ sanh con” ở nhà, đã vui mừng, hồi hộp làm đánh rơi cây súng trong khi đang đứng gác, rớt xuống đất còn cơ may nhặt lại, chứ rơi tõm xuống nước biển rồi thì chịu khiển trách thôi. Hãy gắng lên Con nhé, hãy xứng đáng là niềm hãnh diện của gia đình, và cho cả quốc gia Con đang phục vụ. Ba Má thương nhớ Con nhiều và luôn cầu chúc cho Con, cho những đồng đội của Con được vạn điều may mắn, thắng lợi.

Má của Con.


Lê thị Hoài Niệm



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả