Giá trị của sự vật
Trong những mẩu chuyện vãn nửa khóc nửa cười, có một câu chuyện đã được nhiều người biết đến và kể lại đó là câu chuyện kể thi sĩ Bùi Giáng ra chợ trời ở sài Gòn, một ngày sau năm 1975, đến một gian hàng bán đồ phụ tùng xe đạp . Ông lấy tỉnh bơ một cái ghi đông rồi cặp vào nách bỏ đi . Ông bị chủ hàng chạy theo la ơi ới . Giữa những cặp mắt nghi ngờ của bộ đội, ông nói một cách thản nhiên rằng mất có một cái ghi đông mà la lối ỏm tỏi trong khi mất cả một nước tại sao tất cả ngậm tăm không la lối tiếng nào hết .
Ông Bùi Giáng dùng hai chữ "mất nước" có thể hợp với hoàn cảnh và tâm trạng của con người vào lúc ông đang đứng ngoài chợ trời . Trong thâm tâm ông Bùi Giáng, chắc ông cũng nghĩ rằng đất nước làm sao mà mất được, trong một thời điểm nào đó, con người mất quyền xử dụng thì đúng hơn . Xin có một nhận xét dối với ba triệu người Việt ở hải ngoại . Đa số chúng ta sống ở hải ngoại đều mang quốc tịch nơi mình cư ngụ . Nói giả tỉ một ngày nào đó có người trong chúng ta muốn hồi tịch xin mang quốc tịch Việt Nam . Sự việc cũng không phải dễ vì theo chính sách của bất cứ quốc gia nào, việc đầu tiên là người muốn hồi tịch phải chứng tỏ mình là người Việt Nam . Ở Pháp, cứ mười năm, người dân Pháp phải làm lại thẻ căn cước của mình . Điều kiện ở Pháp để được tái cấp một cái thẻ căn cước mới là phải trình thẻ cũ, giấy chứng minh là dân Pháp thí dụ giấy khai sinh, giấy chứng thục nơi cư ngụ thí dụ giấy trả tiền điện, nước . Người Việt muốn xin hồi tịch Việt Nam có thể trình cái gì để chứng tỏ mình là người Việt Nam ? Có còn tờ giấy nào để mang ra chứng minh ? Không lẽ khai ra là ngày mấy, tháng mấy đi vượt biên . Chuyện vượt biên thì bên nhà đã có hồ sơ cả rồi nhưng sự việc này không có giá trị pháp lý để chứng minh là người Việt nam .
Ông thi sĩ thẩm định giá trị của sự vật khác với người chủ hàng phụ tùng xe đạp . Với tư cách một triết gia, ông Bùi Giáng đánh giá một cái ghi đông xe đạp không là bao, so với mệnh nước ông đang sống . Giả tỉ người chủ hàng không nhìn thấy hành động của ông, có thể ông ta sẽ mang chiếc ghi đông xe đạp trả lại chủ hàng hay vất vào một xó xỉnh nào đó . Về phần người bán hàng, chiếc ghi đông đâu có dính líu gì tới sự mất còn của đất nước, điều thực tế nhất của ông ta là giá trị to lớn của chiếc ghi đông xe đạp vào lúc bấy giờ . Nó là một phần tài sản của ông ta, mất đi có khi mất cả cơ nghiệp .
Trong những năm còn sinh sống ở Việt Nam, có lần chúng tôi chứng kiến cảnh một ông già chở một bao gạo trên một chiếc xe Honda Dame . Giữa đường đầy ổ gà, ông ta bị mất thăng bằng, bao gạo rơi xuống đất, chiếc xe bị đổ lật lên trên bao gạo, ông già té theo, cái xe đè lên chân, hai tay bị thương, máu chảy lai láng . Mấy người hiện diện chạy đến cứu giúp, dựng chiếc xe lên, kéo ông vào một tiệm thuốc tây gần đó cho ông băng bó . Một ông già nói an ủi với ông ta rằng số ông ta vẫn con` có phước lớn vì chỉ có ông ta bị trầy trụa chứ còn chiếc Honda không hề hấn gì . Vết thương có thể lành chứ nếu mà chiếc Honda bị trầy trụa chắc chắn sẽ mất mát biết là bao . Ở cái xứ nhà giàu, đứt tay bằng người Việt mình đi mổ ruột, lý luận như thế là bất nhân . Nhưng ở Việt nam vào thời điểm đó, lời nói của ông cụ già kia chắc chắn là một lời an ủi phát ra từ tâm mà người bị thương nghe được cũng cảm thấy bớt đau rất nhiều .
Sách Cổ Học Tinh Hoa kể chuyện đức Khổng Tử đi chơi ngoài đồng gặp một người đàn bà khóc, hỏi ra thì được biết lý do là bà ta mất không tìm lại được cái trâm làm bằng cỏ thi . Bà ta giải thích sở dĩ bà ta khóc không phải vì tiếc cái trâm bằng cỏ thi mà vì tiếc đã đánh mất một vật cũ chứa đựng biết bao tình cảm mà ngày nay không còn tìm thấy được nữa . Trong lời bàn về sự việc này, người ta cho rằng giá trị của sự vật, ngoài cái giá tiền của món hàng, nó còn chứa đựng tâm hồn của sở hữu chủ .
Người mình có câu chuyện thằng Bờm có cái quạt mo mà phú ông đã xin đổi cả ba con bò, chín con trâu, một ao sâu cá mè thế mà Bờm cũng không chịu . Đến khi phú ông đổi với nắm xôi thì Bờm cười . Cả hai người, phú ông và Bờm, đều coi trâu, bò và ao sâu cá mè không giá trị bằng chiếc quạt mo . Có thể giải thích vì Bờm còn nhỏ chưa biết giá trị của các con vật và phú ông giàu có quá, của cải mất mát có đáng là bao nên muốn đổi lấy cái quạt mo vì thích . Cái quạt mo được đánh giá bằng sở thích của con người . Ở đây ta thấy phú ông không nghĩ nắm xôi giá trị hơn súc vật trong nhà ông như Bờm vì thế ông ta mới mang gia súc ra để đổi quạt . Nếu ông ta có cùng một tiêu chuẩn về bậc thang gia trị như cu bờm thì chắc chắn ông ta đã đưa nắm xôi ra ngay từ lúc đầu chứ không dại gì để đánh mất ba bò, chín trâu .
Người mình hay nói "tiền nào, của nấy" nhưng cũng phải tuỳ lúc . Thí dụ như khi không cần dùng tới cái thang, có ai mang tiền ra tiệm xách một cái thang về làm gì . Cũng có khi trong nhà nhiều đồ vật quá, lựa ra ít nhiều các thứ không cần thiết mang cho kẻ khó, vừa rộng rãi nhà cửa, vừa làm việc lành phúc đức . Trong nhà nhiều khi con cái chểnh mảng với cha mẹ già, đến khi cha mẹ mất rồi mới lăn lộn ra khóc . Khóc một mình chưa đủ còn thuê thêm cả hai ba người chuyên nghề khóc mướn đến tiếp sức . Rồi thầy cúng, phường cổ nhạc, ban kèn đồng . Con người chỉ cảm thấy quý những gì khi mà mình đã đánh mất nó rồi, kể cả tự do, dân chủ .
Cho nên nhiều khi chúng tôi ngồi nghĩ, một nước giàu mạnh chưa hẳn phải là một nước biết xây dựng thành phố cao sang, đường phố đẹp đẽ, khách sạn năm sao, tám sao, hồ bơi đẹp đẽ . Những công trình ấy hẳn có giá trị nhưng nếu người dân ở địa phương xa xôi không có tiền để ăn một tuần hai ký thịt ba chỉ và có đủ phượng tiện đi đó đi đây thì cái khách sạn mười hai sao kia cũng chỉ là đồ vô dụng đối với họ . Tất cả mọi sự trên thế gian này đều được thẩm định qua cái mà người ta gọi là tiêu chuẩn về giá trị của sự vật .
19 tháng 10, 2006
Xin giới thiệu một số sáng tác của Phạm Vĩnh